Thứ Sáu, 7 tháng 2, 2014

Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí & tính GTSP tại C.ty Xây dựng số 1 - Tổng C.ty Xây dựng Hà Nội

Vì các loại sản phẩm của ngành xây dựng cơ bản thờng rất lớn, mất nhiều
thời gian để hoàn thành công trình đa vào sử dụng. Vì vậy để phù hợp với yêu
cầu của công việc thanh toán, quyết toán về tài chính thì kế toán cần phải phân
biệt giữa sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng.
Sản phẩm trung gian là các công việc xây dựng các giai đoạn, các đợt
xây dựng đã hoàn thành bàn giao. Còn sản phẩm cuối cùng là các công trình
hoàn chỉnh có thể đa vào sử dụng.
1.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp mang tính đặc thù cao nên nó cũng
ảnh hởng đến việc tổ chức sản xuất. Đó là :
- Sản phẩm xây lắp là sản phẩm thiếu tính ổn định, luôn biến đổi theo
địa điểm và giai đoạn xây dựng. Chính vì vậy, việc quản lý công trình và tổ
chức sản xuất gặp nhiều khó khăn. Điều đó đòi hòi các nhà xây dựng phải lựa
chọn các hình thức tổ chức sản xuất, quản lý linh hoạt và quan trọng là:
- Do chu kỳ sản xuất xây dựng các công trình thờng kéo dài làm cho vốn
bị ứ đọng, nên các nhà xây dựng luôn phải chú ý đến nhân tố thời gian khi chọn
các phơng án.
- Quá trình sản xuất xây dựng phức tạp đòi hỏi các nhà tổ chức xây dựng
phải có trình độ tổ chức phối hợp cao trong sản xuất, phải phối hợp chặt chẽ
giữa các tổ chức xây dựng tổng thầu hay thầu chính và các tổ chức thầu phụ.
- Các công trình tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hởng lớn của thời tiết
khí hậu, gây khó khăn cho việc thi công và dự trữ vật liệu. Điều này đòi hỏi các
nhà tổ chức xây dựng phải lập tiến độ thi công và áp dụng cơ giới hoá một cách
hợp lý.
1.1.3. Yêu cầu của công tác quản lý tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp trong doanh nghiệp xây dựng
Do đặc điểm của xây dựng và sản phẩm xây dựng rất riêng nên việc quản
lý đầu t xây dựng cơ bản khó khăn phức tạp hơn một số ngành khác. Vì vậy
trong quá trình quản lý đầu t xây dựng phải đáp ứng đợc những yêu cầu sau:
- Phải tạo ra những sản phẩm xây lắp đợc thị trờng chấp nhận cả về giá
cả, chất lợng, đáp ứng đợc mục tiêu kinh tế xã hội trong từng thời kỳ.
- Huy động và sử dụng có hiệu quả cao nhất từ các nguồn đầu t trong và
ngoài nớc.
5
- Xây dựng phải đúng theo qui hoạch đợc duyệt, thiết kế hợp lý thẩm mỹ,
xây dựng đúng tiến độ đạt chất lợng cao.
Thực tế trong nhiều năm qua xây dựng cơ bản là một ngành làm thất
thoát một phần không nhỏ nguồn vốn đầu t của Nhà nớc. Nguyên nhân cơ bản
là do quản lý vốn đầu t cha đợc chặt chẽ.
Hiện nay, trong lĩnh vực xây dựng cơ bản chủ yếu áp dụng phơng pháp
đấu thầu, giao nhận thầu xây dựng. Doanh nghiệp muốn trúng thầu một công
trình phải xây dựng một giá thầu hợp lý cho công trình đó dựa trên cơ sở xác
định mức đơn giá xây dựng cơ bản do Nhà nớc ban hành trên cơ sở giá thị tr-
ờng và bản thân doanh nghiệp. Giá trúng thầu không vợt quá giá tổng dự toán đ-
ợc duyệt. Mặt khác phải đảm bảo sản xuất kinh doanh có lãi.
Để thực hiện tất cả các yêu cầu trên đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cờng
công tác quản lý kinh tế đặc biệt là quản lý về tập hợp chi phí sản xuất. Trong
đó trọng tâm là công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm xây lắp.
1.1.4. Nhiệm vụ kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây
lắp
Việc giảm chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có ý nghĩa
rất lớn đối với mỗi doanh nghiệp xây dựng. Vì vậy, việc xác định đúng đắn đối
tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành phù hợp với điều kiện
hiện tại của doanh nghiệp và thoả mãn mọi yêu cầu quản lý đặt ra hết sức cần
thiết. Cụ thể:
- Xác định đúng đối tợng tập hợp chi phí sản xuất phù hợp với tổ chức
sản xuất ở doanh nghiệp, đồng thời xác định đúng đối tợng tính giá thành.
- Kiểm tra đối chiếu thờng xuyên việc thực hiện các chi phí vật t, nhân
công máy thi công và các dự toán chi phí khác. Từ đó đa ra các biện pháp ngăn
chặn kịp thời.
- Tình giá thành sản phẩm xây lắp chính xác kịp thời theo đúng khoản
mục giá thành.
- Việc kiểm tra thực hiện hạ giá thành theo từng khoản mục chi phí của
các hạng mục công trình. Từ đó đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm một
cách liên tục.
6
- Xác định đúng đắn, bàn giao thanh toán kịp thời khối lợng công tác xây
lắp hoàn thành.
- Kiểm tra định kỳ và đánh giá khối lợng thi công dở dang theo nguyên
tắc qui định. Đánh giá đúng kết quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp ở
từng công trình, bộ phận thi công và lập báo cáo về chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm xây lắp một cách kịp thời.
1.1.5. ý nghĩa kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp
Trong doanh nghiệp xây lắp, kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó cung cấp các số liệu một cách đầy đủ, chính
xác, kịp thời phục vụ cho việc phân tích đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch
sản xuất của doanh nghiệp. Từ đó có biện pháp quản lý và sử dụng nguồn vốn
đầu t của Nhà nớc chặt chẽ và hiệu quả hơn.
1.2. Nội dung và phơng pháp kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm xây lắp.
1.2.1. Chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp
Cũng nh các ngành sản xuất vật chất khác, quá trình sản xuất của ngành
xây lắp là quá trình tiêu hao các yếu tố lao động và lao động vật hoá để tạo nên
giá trị sử dụng của các sản phẩm để phục vụ cho nhu cầu của con ngời. Trong
điều kiện sản xuất hàng hoá, các chi phí này đợc biểu hiện dới dạng giá trị, gọi
là chi phí sản xuất.
Tơng tự nh vậy, chi phí sản xuất trong quá trình xây lắp là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cấu thành nên
sản phẩm xây lắp trong một thời kỳ nhất định.
Tuy nhiên, để hiểu đúng khái niệm trên cần phân biệt giữa chi phí và chi
tiêu. Đây là hai hai niệm khác nhau nhng có quan hệ mật thiết với nhau.
Trong các doanh nghiệp xây lắp ngoài hoạt động sản xuất chung ra còn
có các hoạt động sản xuất phụ trợ khác. Do đó, chi phí sản xuất trong doanh
nghiệp gồm: Chi phí trong xây lắp và chi phí ngoài xây lắp.
Chi phí trong xây lắp là những chi phí phát sinh trong quá trình xây lắp
của doanh nghiệp. Chi phí ngoài xây lắp là những chi phí phát sinh ngoài lĩnh
vực xây dựng nh sản xuất phụ, công tác vận chuyển và các dịch vụ khác. Trong
đó chi phí trong xây lắp là chủ yếu.
7
1.2.2. Phân loại chi phí sản xuất ở các doanh nghiệp xây dựng
Việc quản lý sản xuất, chi phí sản xuất không chỉ dựa vào các số liệu
tổng hợp về chi phí sản xuất mà còn căn cứ vào số liệu cụ thể của từng loại chi
phí theo từng công trình, hạng mục công trình theo từng thời điểm nhất định.
Do vậy, việc phân loại chi phí sản xuất là yêu cầu tất yếu cho công tác quản lý
cũng nh công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
xây lắp một cách chính xác. Có nhiều các phân loại chi phí, mỗi cách đều đáp
ứng đợc ít nhiều cho mục đích quản lý và công tác kế toán. Tuỳ theo mục đích
quản lý mà ta lựa chọn các tiêu thức phân loại cho phù hợp.
1.2.2.1. Phân loại chi phí sản xuất theo yếu tố (theo nội dung và tính chất
kinh tế của chi phí)
Mỗi yếu tố chi phí sản xuất bao gồm các chi phí sản xuất có tính chất,
nội dung kinh tế giống nhau, do đó không cần xét đến chi phí đó phát sinh ở địa
điểm nào và dùng làm gì. Căn cứ vào tiêu thức này thì toàn bộ chi phí sẽ bao
gồm các yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính (nh gạch, vôi, đá, cát, sỏi, xi măng, sắt thép ), cấu kiện bê tông,
vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, thiết bị xây dựng cơ bản
- Chi phí nhân công: là toàn bộ tiền công phải trả cho ngời lao động và
các khoản phải trả khác trong doanh nghiệp nh tiền lơng (lơng chính, lơng phụ,
phụ cấp của công nhân viên), bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công
đoàn trích theo tỷ lệ phần trăm theo chế độ qui định.
- Chi phí khấu hai tài sản cố định (TSCĐ): là toàn bộ số tiền trích khấu
hao tài sản cố định sử dụng cho sản xuất doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho sản xuất trong doanh nghiệp nh chi phí về điện, nớc, điện thoại, chi
phí thuê máy
- Chi phí bằng tiền khác: là toàn bộ số chi phí phát sinh trong quá trình
sản xuất ngoài 4 yếu tố chi phí kể trên.
1.2.2.2. Phân loại chi phí theo khoản mục giá thành (phân loại theo mục
đích và công dụng của chi phí)
8
Những chi phí sản xuất có cùng mục đích và công dụng đợc xếp vào
cùng một khoản mục chi phí. Theo tiêu thức phân loại này, toàn bộ chi phí sản
xuất phát sinh trong kỳ đợc chia ra làm các khoản mục chi phí sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là giá trị các loại nguyên liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệu sử dụng trực tiếp cho thi công xây lắp công trình.
- Chi phí nhân công trực tiếp : là toàn bộ tiền công và các khoản phải trả
(BHXH, BHYT, KPCĐ) cho công nhân trực tiếp xây lắp để thực hiện các khối
công tác xây lắp của công trình.
- Chi phí sản xuất chung: bao gồm tất cả các chi phí phục vụ cho quá
trình sản xuất thi công ngoài trừ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân
công trực tiếp. Loại chi phí này bao gồm:
Chi phí nhân viên quản lý đội, công trình (tiền lơng và các khoản phải
trả cho công nhân viên quản lý đội sản xuất )
Chi phí vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ dụng cụ (ván khuôn, giàn giáo,
dụng cụ bảo hộ lao động )
Chi phí về khấu hao máy móc thiết bị
Chi phí dịch vụ thuê ngoài
Chi phí bằng tiền khác
Chỉ những chi phí gắn liền với quá trình hoạt động sản xuất của đội sản
xuất, phân xởng mới đợc xếp vào loại này.
Chi phí sản xuất chung kết hợp với chi phí nhân công trực tiếp gọi là chi
phí chuyển đổi. Chi phí nhân công trực tiếp kết hợp với chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp gọi là chi phí ban đầu.
Cách phân loại này có tác dụng phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản
xuất theo định mức, công tác kế hoạch hoá, phân tích và đánh giá sản phẩm
theo khoản mục, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và hạ giá
thành.
Ngoài hai cách phân loại còn có các phơng pháp phân loại chi phí khác
nh:
- Phân loại chi phí theo quan hệ giữa chi phí sản xuất và qui mô sản xuất.
Theo cách phân loại này thì chi phí đợc chia thành chi phí cố định và chi phí
biến đổi.
9
- Phân loại chi phí thành chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất.
- Phân loại chi phí theo chi phí thời kỳ và chi phí sản phẩm
Nh vậy, mỗi cách phân loại chi phí sản xuất có ý nghĩa riêng, phục vụ
cho từng đối tợng quản lý và từng đối tợng cung cấp thông tin cụ thể, nhng
chung luôn bổ sung cho nhau nhằm quản lý có hiệu quả nhất về toàn bộ chi phí
sản xuất phát sinh trong phạm vi từng doanh nghiệp trong thời kỳ nhất định.
1.2.3. Giá thành sản phẩm xây lắp
1.2.3.1 Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp
Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ chi phí sản xuất và chi phí ngoài
sản xuất theo số lợng và loại sản phẩm đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm xây lắp là những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh
chất lợng hoạt động sản xuất, quản lý của doanh nghiệp, kết quả của sử dụng
các loại vật t, tài sản trong quá trình sản xuất cũng nh các giải pháp kinh tế kỹ
thuật mà doanh nghiệp thực hiện nhằm đạt mục đích sản xuất ra khối lợng sản
phẩm nhiều nhất với chi phí thấp nhất. Giá thành sản phẩm còn là căn cứ để tính
toán xác định hiệu quả kinh tế các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
1.2.3.2. Các loại giá thành sản phẩm xây lắp
Do đặc điểm riêng biệt của các sản phẩm xây lắp nên giá thành đợc chia
làm ba loại:
Giá thành dự toán công tác xây lắp (Zdt)
Sản phẩm xây dựng có giá trị lớn, thời gian thi công dài, mang tính đơn
chiếc nếu mỗi công trình, hạng mục công trình đều có giá dự toán riêng. Giá
thành dự toán của công trình, hạng mục công trình là giá thành công tác xây lắp
đợc xác định trên khối lợng thiết kế đợc duyệt, các định mức dự toán và đơn giá
XDCB do cấp có thẩm quyền ban hành và dựa theo mặt bằng giá cả thị trờng.
Giá thành dự toán công tác xây lắp khác với giá trị dự toán xây lắp ở
điểm sau: Giá thành dự toán xây lắp nhỏ hơn giá trị dự toán xây lắp ở phần lãi
định mức và thuế. Do dó căn cứ vào giá trị dự toán của từng công trình, hạng
mục công trình ta có thể xác định đợc giá thành dự toán của chúng:
10
Giá thành dự toán
của công trình,
hạng
mục công trình
=
Giá trị dự toán của
Từng công trình,
hạng mục công
trình
+
Lãi định mức
(hoặc thuế)
Do đặc điểm của sản phẩm xây lắp nên giá thành dự toán công tác xây
lắp mang tính chất xã hội, nó phán ánh trình độ tổ chức kỹ thuật nói chung của
toàn xã hội vì cơ sở để xác định là khối lợng từ thiết kế đợc duyệt, cả định mức
dự toán và đơn giá xây dựng cơ bản hiện hành. Thông qua tổng dự toán công tác
xây lắp (Zdt) chúng ta có thể đánh giá đợc thành tích của doanh nghiệp. Nó là
hạn mức chi phí ca nhất mà doanh nghiệp có thể chi ra để đảm bảo có lãi, là
tiêu chuẩn phấn đấu hạ định mức thực tế. Giá thành dự toán công tác xây lắp là
căn cứ để kế hoạch hoá giá thành công tác xây lắp và vạch ra các biện pháp tổ
chức kinh tế kỹ thuật nhằm đảm bảo nhiệm vụ hạ giá thành công tác xây lắp đ-
ợc giao.
Trong điều kiện hiện nay, để thi công xây lắp một công trình thì các đơn
vị xây dựng đợc tham gia đấu thầu. Đơn vị thắng thầu là đơn vị xây dựng giá
đấu thầu công tác xây lắp hợp lý, đảm bảo chất lợng thi công công trình. Do
vậy, trong giá thành dự toán của từng công trình, hạng mục công trình còn có 2
loại giá thành là:
- Giá thành đấu thầu công tác xây lắp (Zdt): Giá thành đấu thầu công tác
xây lắp đợc hình thành từ cơ chế quản lý bằng cách đấu thầu trong xây dựng.
Đây cũng là một loại giá thành dự toán công tác xây lắp do chủ đầu từ đa ra để
các tổ chức xây lắp căn cứ vào đó mà tình toán Giá thành dự thầu công tác xây
lắp của mình. Nếu nh thấy giá thành của mình bằng hoặc thấp hơn giá thành do
chủ thầu đa ra thì sẽ tham gia đấu thầu thi công xây lắp công trình.
- Giá thành hợp đồng công tác xây lắp: Giá thành hợp đồng là một loại
giá thành dự toán công tác xây lắp ghi trong hợp đồng đợc ký kết giữa chủ đầu
t và tổ chức xây lắp sau khi đã thoả thuận giao nhận thầu. Đây cũng là giá thành
của tổ chức xây lắp thắng thầu trong khi đấu thầu và đợc chủ đầu t thoả thuận
ký hợp đồng giao thầu (giá thành dự thầu công tác xây lắp của tổ chức xây lắp
trúng thầu).
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp (Zkh):
11
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp là một loại giá thành dự toán công
tác xây lắp đợc xác định từ những điều kiện cụ thể trong thời kỳ kế hoạch nhất
định.
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp khác với giá thành dự toán xây lắp
là đợc lập ra không dựa vào định mức dự toán mà dựa vào những định mức chi
phí nội bộ của tổ chức xây lắp hoặc của công trình. Về nguyên tắc, định mức
nội bộ này phải tiên tiến hơn định mức dự toán. Vì vậy giá thành kế hoạch công
tác xây lắp chỉ đợc bằng hoặc nhỏ hơn giá thành hợp đồng (Zhđ >=Zkh) nên giá
thành kế hoạch là cơ sở để phấn đấu hạ giá thành công tác xây lắp trong giai
đoạn kế hoạch. Điều này phản ánh trình độ quản lý giá thành của doanh nghiệp
xây lắp.
Giá thành kế hoạch công tác xây lắp đợc xác định theo công thức (tính
cho từng công trình, hạng mục công trình):
Giá thành kế hoạch
công tác xây lắp
=
Giá thành hợp đồng
Công tác xây lắp
-
Mức hạ giá thành
kế hoạch
Giá thành thực tế công tác xây lắp (Ztt)
Giá thành thực tế công tác xây lắp đợc tính toán theo chi phí thực tế của
tổ chức xây lắp đã bỏ ra để thực hiện các khối lợng công tác xây lắp của mình,
đợc xác định theo số liệu của kế toán.
Muốn đánh giá đợc giá trị chất lợng hoạt động sản xuất thi công của tổ
chức xây lắp thì ta phải tiến hành so sánh các loại giá thành trên với nhau. Giá
thành dự toán mang tính xã hội cho nên việc so sánh giá thành thực tế với giá
thành dự toán cho phép ta đánh giá sự tiến bộ hay yếu kém trong doanh nghiệp
xây lắp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất kỹ thuật và trình độ tổ chức
quản lý của bản thân doanh nghiệp. Trong việc so sánh này cần đảm bảo tính
thống nhất và có thể so sánh đợc, tức là đợc thực hiện trên cùng một đối tợng
tính giá thành (từng công trình, hạng mục công trình, hoặc khối lợng xây lắp
hoàn thành nhất định).
Về nguyên tắc thì mối quan hệ giữa các loại giá thành trên phải đảm bảo
nh sau : Zdt>=Zkh>=Ztt.
Đây cũng là nguyên tắc khi xây dựng giá thành và tổ chức thực hiện kế
hoạch giá thành. Có nh vậy doanh nghiệp mới đảm bảo có lãi, có tích luỹ cho
Nhà nớc và cho doanh nghiệp.
12
Nh vậy có thể thấy, xuất phát từ những đặc điểm của sản phẩm xây dựng
cơ bản là có giá trị lớn, thời gian xây dựng dài, có thể đáp ứng yêu cầu quản lý
về chi phí sản xuất và giá thành, trong doanh nghiệp xây dựng, giá thành công
tác xây lắp còn đợc theo dõi trên hai chỉ tiêu: giá thành khối lợng hoàn chỉnh và
giá thành khối lợng hoàn thành qui ớc.
Giá thành khối lợng hoàn chỉnh là giá thành của công trình, hạng mục
công trình đã hoàn thành, đảm bảo kỹ thuật và chất lợng đúng thiết kế và hợp
đồng, bàn giao và đợc bên chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận thanh toán. Chỉ
tiêu này cho phép tính toán, đánh giá một cách tổng quát hiệu quả kinh tế vốn
đầu t cho một công trình, hạng mục công trình nhng lại không đáp ứng đợc kịp
thời các số liệu cần thiết cho việc quản lý sản xuất và giá thành trong suốt quá
trình thi công công trình. Do đó, để đáp ứng đợc yêu cầu quản lý và đảm bảo
chỉ đạo sản xuất kịp thời đòi hỏi phải xác định giá thành khối lợng xây lắp
hoàn thành qui ớc.
Giá thành khối lợng hoàn thành qui ớc là giá thành của các khối lợng xây
lắp mà các khối lợng xây lắp đó phải đảm bảo thoả mãn các điều kiện sau:
- Phải nằm trong thiết kế và đảm bảo chất lợng kỹ thuật.
- Phải đợc xác định cụ thể và đợc chủ đầu t nghiệm thu và chấp nhận
thanh toán.
- Phải đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý.
Giá thành khối lợng xây lắp hoàn thành qui ớc phải phản ánh kịp thời chi
phí cho đối tợng xây lắp trong quá trình thi công xây lắp, từ đó giúp cho doanh
nghiệp phân tích kịp thời các chi phí đã chi ra cho từng đối tợng để có biện pháp
quản lý thích hợp, cụ thể. Nhng chỉ tiêu này lại phản ánh không toàn diện,
chính xác giá thành toàn bộ công trình, hạng mục công trình. Do đó, trong việc
quản lý giá thành đòi hỏi phải sử dụng cả hai chỉ tiêu trên để đảm bảo quản lý
giá thành đợc kịp thời, chính xác, toàn diện và hiệu quả.
1.2.4. Đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành sản
phẩm xây lắp
1.2.4.1. Đối tợng tập hợp chi phí trong doanh nghiệp xây lắp :
Đối với ngành xây dựng cơ bản đối tợng tập hợp chi phí sản xuất có thể
là: công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng, giai đoạn công việc hoàn
thành, bộ phận thi công.
13
Xác định đối tợng tập hợp chi phí sản xuất thờng căn cứ vào:
- Địa điểm phát sinh chi phí và công dụng của chi phí.
- Đặc điểm qui trình công nghệ (giản đơn hay phức tạp)
- Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Trên thực tế, các doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức
tập hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp, từ khâu hạch toán ban đầu đến khâu
tổ chức tổng hợp số liệu ghi chép trên tài khoản, sổ chi tiết.
1.2.4.2. Đối tợng tính giá thành sản phẩm xây lắp:
Đối tợng tính giá thành các loại sản phẩm, lao vụ, công vụ do doanh
nghiệp sản xuất ra cần phải đợc tính giá thành và giá thành đơn vị. Công việc
tính giá thành là xác định giá thành thực tế từng loại sản phẩm và toàn bộ sản
phẩm đã hoàn thành.
Xác định khối lợng tính giá thành là công việc đầu tiên của toàn bộ công
tác tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp xây lắp và có ý nghĩa quan
trọng trong việc tính chính xác giá thành sản phẩm xây lắp. Bộ phận kế toán giá
thành phải cân đối, xem xét tổng thể các căn cứ sau để xác định khối lợng tính
giá thành cho phù hợp.
- Cơ cấu tổ chức sản xuất và đặc điểm qui trình công nghệ.
- Đặc điểm của sản phẩm, đặc điểm sử dụng của các sản phẩm.
- Dựa vào yêu cầu hạch toán kế toán, hạch toán nội bộ doanh nghiệp và
yêu cầu xác định hiệu quả kinh tế của từng loại sản phẩm.
Khả năng và trình độ quản lý của của doanh nghiệp nói chung và khả
năng của cán bộ hạch toán nói riêng.
Trong các doanh nghiệp xây dựng, đối tợng tính giá thành thờng phù hợp
với đối tợng tập hợp chi phí sản xuất, đó có thể là: công trình, hạng mục công
trình hay khối lợng xây lắp hoàn thành bàn giao. Trong trờng hợp các doanh
nghiệp xây lắp có tổ chức thêm các phân xởng sản xuất phụ (sản xuất vật liệu )
thì đối tợng tính giá thành là tổng giá thành và giá thành đơn vị sản phẩm, lao
vụ cung cấp.
1.2.4.3. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp
Kỳ tính giá thành là thời kỳ bộ phận kế toán giá thành cần phải tiến hành
công việc tính giá thành cho các đối tợng tính giá thành. Xác định kỳ tính giá
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét