Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam - Techcombank

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 5 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
gặp gỡ giữa người đi vay và người cho vay về điểm này sẽ là điều kiện hình
thành quan hệ tín dụng.
1.1.2 Vai trò của tín dụng ngân hàng
1.1.2.1 Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội
Thứ nhất, vai trò quan trọng nhất của tín dụng là cung ứng vốn kịp thời
cho các nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể kinh tế trong xã hội.
Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy nhanh tốc độ sản xuất cũng như tốc độ
tiêu thụ sản phẩm.
Thứ hai, một hệ thống các hình thức tín dụng đa dạng không những thoả
mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế mà còn làm cho sự tiếp cận các
nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi phí giao dịch và giảm bớt
các chi phí nguồn vốn cho các chủ thể kinh doanh.
Thứ ba, việc mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức tín dụng sẽ tạo
sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế hoạch sản xuất
kinh doanh khi nó không phải phụ thuộc quá nhiều vào nguồn vốn tự có của
bản thân. Điều này giúp cho các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư
mới và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội.
Thứ tư, các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo các điều
kiện tín dụng để hạn chế rủi ro có thể xẩy ra với ngân hàng. Chính điều này
buộc người đi vay phải quan tâm thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm
bảo mối quan hệ lâu dài với tổ chức cung ứng tín dụng.
1.1.2.2 Tín dụng là trung gian dẫn tác động của của Nhà nước đến các mục
tiêu kinh tế vĩ mô
Mục tiêu kinh tế vĩ mô bao gồm: Ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế và
tạo công ăn việc làm. Để đảm bảo đạt được các mục tiêu vĩ mô hài hoà phụ
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 6 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
thuộc một phần vào khối lượng và cơ cấu tín dụng xét về cả mặt thời hạn
cũng như đối tượng tín dụng. Vấn đề này, nó lại phụ thuộc vào các điều kiện
tín dụng như lãi suất cho vay, điều kiện vay, yêu cầu thế chấp, bão lãnh và
chủ trương mở rộng tín dụng được quy định trong chính sách tín dụng từng
thời kỳ. Như vậy, thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện tín
dụng, Nhà nước có thể thay đổi quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận
động cả nguồn vốn tín dụng, nhờ đó mà ảnh hưởng đến tổng cầu của nền kinh
tế cả về quy mô cũng như kết cấu. Sự thay đổi của tổng cầu dưới tác động của
chính sách tín dụng sẽ tác động ngược lại tới tổng cung và các điều kiện sản
xuất khác. Điểm cân bằng cuối cùng giữa tổng cung và tổng cầu dưới tác
động của chính sách tín dụng sẽ cho phép đạt được các mục tiêu vĩ mô cần
thiết.
1.1.2.3 Tín dụng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội
Các chính sách xã hội, về mặt bản chất được đáp ứng bằng nguồn tài trợ
không hoàn lại từ Ngân sách Nhà nước. Song phương thức này bị hạn chế về
quy mô và thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế, phương thức này được thay
thế bởi phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng nhằm duy trì nguồn cung
cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng chính sách. Chẳng
hạn, việc tài trợ vốn cho người nghèo được thực hiện bằng việc cho vay với
lãi suất thấp. Phương thức này ưu việt hơn, hiệu quả hơn. Điều này buộc các
đối tượng chính sách phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn hơn và từ đó kỹ
năng lao động của họ cũng được nâng lên. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho
sự ổn định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có
thể tồn tại độc lập với nguồn vốn tài trợ. Đó chính là mục đích của việc sử
dụng phương thức tài trợ các mục tiêu chính sách bằng con đường tín dụng.
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 7 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
1.1.3 Phân loại tín dụng.
1.1.3.1 Căn cứ vào thời hạn của khoản tín dụng: Theo tiêu thức này tín dụng
ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng ngắn hạn: Có thời hạn dưới 1 năm.
- Tín dụng trung hạn: Có thời hạn từ trên 1 năm đến 5 năm.
- Tín dụng dài hạn: Có thời hạn trên 5 năm.
1.1.3.2 Căn cứ vào đảm bảo tín dụng: Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng
có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng không có đảm bảo: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế
chấp hay có bảo lãnh của bên thứ ba.
- Tín dụng có đảm bảo: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hay có bảo
lãnh của bên thứ ba.
1.1.3.3 Căn cứ vào mục đích tín dụng: Theo tiêu thức này tín dụng ngân hàng
có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng bất động sản: Đây là khoản tín dụng được bảo đảm bằng bất
động sản, bao gồm:
+ Tín dụng ngắn hạn cho xây dựng và mở rộng đất đai.
+ Tín dụng dài hạn để mua đất đai, nhà cửa, căn hộ, cơ sở dịch vụ, trang
trại và bất động sản ở nước ngoài.
- Tín dụng công thương nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các
doanh nghiệp để trang trải các khoản chi phí như mua hàng hoá, nguyên vật
liệu, trả thuế và chi trả lương.
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 8 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
- Tín dụng nông nghiệp: Đây là các khoản tín dụng cấp cho các hoạt động
nông nghiệp, nhằm trợ giúp các hoạt động trồng trọt, thu hoạch mùa màng và
chăn nuôi gia súc.
- Tín dụng cá nhân: Đây là khoản tín dụng cấp cho cá nhân để mua hàng
hoá tiêu dùng đắt tiền như xe hơi, nhà di động, trang thiết bị trong nhà
- Tín dụng cho các tổ chức tài chính: Đây là khoản tín dụng cấp cho các
ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài chính khác.
- Cho thuê tài chính: Là việc ngân hàng mua các trang thiết bị, máy móc
và cho thuê lại chúng.
- Tín dụng khác: Bao gồm các khoản tín dụng khác chưa được phân loại ở
trên (Ví dụ như tín dụng kinh doanh chứng khoán).
Tùy từng mục đích mà mỗi ngân hàng phân loại tín dụng theo các tiêu chí
nhất định nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng quản lý và điều hành.
1.2 RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và bản chất rủi ro tín dụng
Có rất nhiều khái niệm về rủi ro như là: “Rủi ro là sự không chắc chắn
mang tính khách quan về khả năng xẩy ra một sự kiện không mong muốn”.
Như vậy, dù con người có nhận biết được rủi ro hay không thì nó vẫn tồn tại.
Hay một khái niệm khác là: “Rủi ro là sự không chắc chắn về tổn thất”. Ở
Việt Nam trong từ điển kinh tế học hiện đại, rủi ro được định nghĩa: “Rủi ro
là hoàn cảnh trong đó một sự kiện xẩy ra với một xác suất nhất định hoặc
trong trường hợp quy mô của sự kiện đó có một phân phối xác suất”.
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 9 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
Khái niệm về rủi ro tín dụng:
Theo Thomas P.Fitch: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xẩy ra khi người vay
không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong
nghĩa vụ trả nợ. Là rủi ro chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Theo World Bank: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người
đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn
định trong hợp đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân
hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không
hoàn trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ
và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng là thiệt hại kinh tế của ngân hàng do một khách hàng hoặc
một nhóm khách hàng không hoàn trả được nợ vay cho ngân hàng.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro
tín dụng như sau:
- Rủi ro tín dụng khi người đi vay sai hẹn (default) trong thực hiện nghĩa
vụ trả nợ theo hợp đồng bao gồm vốn gốc và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ
hẹn (delayed paymet) hoặc không thanh toán (nonpayment).
- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất về tài chính, tức làm giảm thu nhập
ròng. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ hoặc ở mức độ
cao hơn có thể dẫn đến phá sản.
Những biểu hiện của rủi ro tín dụng được thể hiện ở mô hình sau:
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 10 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
1.2.2 Đặc điểm của rủi ro tín dụng
- Rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp: Đặc điểm này xuất phát từ trong
quan hệ tín dụng, có sự chuyển giao vốn giữa ngân hàng và khách hàng và có
sự tách rời giữa quyền sử dụng vốn và quyền sở hữu vốn trong một khoảng
thời gian nhất định. Do đó, nếu khách hàng mà làm ăn thua lỗ, sử dụng vốn
không hiệu quả, năng lực tài chính khách hàng kém sẽ gây rủi ro cho khách
hàng và dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.
- Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng, phức tạp: Do mỗi quan hệ tín
dụng có những đặc điểm riêng, do đó rủi ro trong mỗi trường hợp cụ thể cũng
khác nhau.
- Rủi ro tín dụng luôn gắn liền với hoạt động kinh doanh ngân hàng:
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, hoạt động tín dụng luôn đi liền với
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Rủi ro tín dụng
Không thu
được lãi đúng
hạn
Không thu
được vốn
đúng hạn
Không thu
đủ lãi
Không thu đủ
vốn cho vay
Phát sinh lãi
treo
Phát sinh nợ
quá hạn
Phát sinh lãi
treo đóng
băng
Phát sinh nợ
khó đòi
Khả năng thanh toán giảm, Hiệu quả kinh doanh giảm,
Thất thoát vốn, Phá sản
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 11 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
rủi ro. Khi một khoản tín dụng được thiết lập thì đồng thời với nó là một mức
rủi ro tiềm ẩn. Vì không có sự cân xứng thông tin giữa ngân hàng và khách
hàng: Ngân hàng thì muốn tìm hiểu toàn bộ thông tin về khách hàng một cách
chính xác, còn khách hàng luôn muốn làm đẹp các thông tin trước khi cung
cấp cho ngân hàng. Bên cạnh đó, hoạt động kinh doanh của khách hàng còn bị
tác động bởi nhiều yếu tố khách quan như kinh tế - xã hội, pháp luật và các
yếu tố chủ quan như năng lực quản lý của các nhà lãnh đạo Vì vậy khoản tín
dụng đó luôn tiềm ẩn rủi ro.
1.2.3 Những thiệt hại từ rủi ro tín dụng
1.2.3.1 Đối với nền kinh tế
Hoạt động ngân hàng liên quan đến hoạt động doanh nghiệp, các ngành
và các cá nhân. Vì vậy, khi một ngân hàng gặp phải rủi ro tín dụng hay bị phá
sản thì người gửi tiền ở các ngân hàng khác hoang mang lo sợ và kéo nhau ồ
ạt đến rút tiền ở các ngân hàng khác, làm cho toàn hệ thống ngân hàng gặp
khó khăn. Ngân hàng phá sản dẫn đến tình hình hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp gặp trở ngại, không có tiền trả lương dẫn đến đời
sống công nhân gặp khó khăn. Hơn nữa, sự hoảng loạn của ngân hàng ảnh
hưởng rất lớn đến toàn bộ nền kinh tế. Nó làm cho nền kinh tế bị suy thoái,
giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định.
1.2.3.2 Đối với ngân hàng
- Làm tăng chi phí và giảm lợi nhuận của ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, các khoản chi phí chủ yếu bao
gồm: Chi phí trả lãi cho khách hàng gửi tiền, chi phí mua sắm phương tiện,
thiết bị phục vụ hoạt động của ngân hàng Khi rủi ro tín dụng xẩy ra, ngân
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 12 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
hàng không thu hồi được số vốn như đã dự kiến, mất cơ hội đầu tư cho các dự
án khả thi, từ đó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.
- Giảm khả năng thanh toán của ngân hàng
Khi rủi ro tín dụng xẩy ra, làm cho ngân hàng không thu hồi được vốn gốc
và lãi trên số vốn đã cho vay, do vậy làm giảm khả năng thanh toán của ngân
hàng. Nếu tình trạng này kéo dài có thể làm cho ngân hàng mất khả năng
thanh toán và phá sản.
- Làm uy tín của ngân hàng giảm
Rủi ro tín dụng xẩy ra chứng tỏ hiệu quả quản lý, hiệu quả kinh doanh của
ngân hàng kém, từ đó lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng suy giảm, uy
tín của ngân hàng trên thị trường giảm. Uy tín ngân hàng giảm sẽ tác động rất
lớn tới nghiệp vụ huy động vốn, việc huy động vốn trở nên khó khăn, đồng
thời ngân hàng sẽ khó khăn trong việc thiết lập quan hệ đại lý, quan hệ vay
vốn với các tổ chức khác.
- Nguy cơ phá sản ngân hàng
Nếu rủi ro tín dụng có thể làm thất thoát một lượng vốn rất lớn nên NHTM
có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán và có thể dẫn đến phá sản.
Việc phá sản một ngân hàng có thể gây phản ứng dây chuyền tới các ngân
hàng khác cũng phá sản theo và nó tác động tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.
Nói chung, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xẩy ra ở mức độ các mức
độ khác nhau: Nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi
được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu
với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài
không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 13 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy, đòi
hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp
thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
1.2.4 Các dấu hiệu cảnh báo khoản tín dụng có rủi ro
Hoạt động tín dụng luôn tiềm ẩn rủi ro nhưng không phải nó thường xuyên
xẩy ra bất ngờ mà có dấu hiệu báo trước. Vì vậy cán bộ tín dụng cần nhận
diện được các dấu hiệu này để có biện pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín
dụng có thể xẩy ra. Sau đây là ba nhóm dấu hiệu chính:
1.2.4.1 Xuất phát từ môi trường khách quan
- Các thảm hoạ thiên nhiên: Hạn hán, lũ lụt ảnh hưởng gây khó khăn
đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến khả năng
trả nợ cho ngân hàng.
- Các biến động về môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội, công
nghệ, cạnh tranh đều có thể gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.2.4.2 Xuất phát từ phía khách hàng: Chia làm 3 nhóm:
- Các dấu hiệu rủi ro xuất phát từ phương thức quản lý của khách hàng:
• Sức khoẻ của các nhà quản lý.
• Doanh nghiệp có sự thay đổi trong cơ cấu hệ thống quản trị.
• Quy trình quản lý xuất hiện nhiều tranh chấp.
• Việc thuyên chuyển nhân viên diễn ra quá thường xuyên.
• Doanh nghiệp xuất hiện nhiều chi phí quản lý bất hợp lý.
• Có sự sa sút sức khoẻ và tình trạng gia đình của nhà quản trị.
- Các dấu hiệu liên quan đến kỹ thuật - thương mại:
• Doanh nghiệp gặp khó khăn trong phát triển sản phẩm mới.
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chuyên đề thực tập 14 GVHD: PGS-TS Lê Huy Đức
• Doanh nghiệp có kế hoạch thay đổi thị trường và khách hàng mục
tiêu.
• Doanh nghiệp thay đổi cách thức sản xuất và thực hiện cắt giảm các
chi phí sữa chữa, thay thế hoặc phát triển sản phẩm.
- Các dấu hiệu liên quan đến xử lý thông tin tài chính - kế toán.
Ngân hàng nhìn vào các báo cáo tài chính, phân tích các báo cáo thấy có
các biểu hiện:
• Doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ.
• Tỷ lệ hoặc các khoản phải thu tăng với tỷ lệ không hợp lý.
• Khả năng tiền mặt doanh nghiệp giảm.
• Doanh nghiệp có dấu hiệu làm đẹp bảng cân đối kế toán thông qua
việc bổ sung giá trị tài sản vô hình hoặc thông qua việc đánh giá lại
tài sản hoặc doanh nghiệp thay đổi phương thức hạch toán.
1.2.4.3 Các dấu hiệu liên quan đến nghĩa vụ trả nợ của khách hàng với
ngân hàng
- Khách hàng trả nợ vay không đúng thời hạn.
- Khách hàng gặp khó khăn trong việc chứng minh mục đích sử dụng vốn
vay.
- Khách hàng trì hoãn nộp các báo cáo tài chính cần thiết.
- Khách hàng chậm trễ trong việc bố trí cho cán bộ ngân hàng đến kiểm
tra cơ sở sản xuất kinh doanh.
1.2.5 Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng
Các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng rất đa dạng, có thể phân loại theo
nhiều tiêu thức khác nhau. Cách phân loại thông dụng là phân tích nguyên
nhân gây ra từ phía ngân hàng và người đi vay.
SVTH: Phạm Thị Hương Giang Lớp: KTPT 47B_QN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét