Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Một số vấn đề về quy trình hoàn thuế giá trị gia trăng ở cục thuế tỉnh Vĩnh Phúc hiện nay

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ
QUY TRÌNH HỒN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Thuế GTGT có nguồn gốc từ thuế doanh thu được nghiên cứu, áp dụng từ
sau Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914 – 1918) với mục đích động viên sự
đóng góp rộng rãi của đơng đảo quần chúng nhân dân cho nhu cầu chi tiêu của
Nhà nước để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh. Thuế doanh thu ra
đời ở Pháp từ 1917. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, thuế doanh thu cũng
xuất hiện nhược điểm đó là hiện tượng thuế đánh trùng lên thuế. Vì vậy, u cầu
xuất hiện một loại thuế khác tiến bộ hơn để thay thế thuế doanh thu. Trong q
trình nghiên cứu tìm tòi đó, vào đầu những năm 50, một người Đức tên là: Carl
FRiedrich von Simens đã nghĩ ra một chính sách thuế mới có thể thay thế cho
thuế doanh thu. Đó là thuế GTGT tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hố, dịch vụ khi qua mỗi cơng đoạn từ sản xuất, lưu thơng đến tiêu dùng.
Tên tiếng Anh: Value Added Tax. Tên viết tắt là VAT.
Tên tiếng Pháp: Taxe sur la Valeur Ajoutee. Tên viết tắt là TVA.
Pháp là nước đầu tiên áp dụng thuế GTGT (1/7/1954) vào hệ thống thuế
khố của mình bởi Chính phủ Pháp rất quan tâm tới lĩnh vực tài chính mà trọng
tâm là đổi mới thuế gián thu trong khi đó nền kinh tế của Pháp là nước có nền
cơng nghiệp phát triển cao. Việc áp dụng thuế GTGT ở Pháp đã thu được nhiều
thành quả to lớn và cho đến nay Pháp vẫn là nước đạt đỉnh cao nhất về sự hồn
thiện loại thuế này. Tuy nhiên, khi mới ra đời, thuế GTGT chỉ được áp dụng ở
một số ngành nghề cá biệt. Đến năm 1968 mới áp dụng cho mọi ngành nghề,
trong mọi lĩnh vực.
Năm 1953, ở Nhật Bản cũng nghiên cứu thuế GTGT và dự thảo ra một bộ
luật về thuế này nhưng khơng được quốc hội thơng qua.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường, thuế GTGT đã
ngày càng chứng tỏ được tác dụng của mình và ngày càng có nhiều nước áp
dụng sắc thuế này trong hệ thống thuế khố của mình. Từ năm 1954 đến năm
1988 chỉ có 47 nước áp dụng thì đến năm 1991 đã có hơn 100 nước áp dụng loại
thuế này. Nhiều nước nhờ áp dụng sắc thuế này đã thu được những tiến bộ to
lớn về khoa học kỹ thuật, cải thiện nền kinh tế đất nước như Anh với thuế suất
15%, Đan Mạch với thuế suất 25%, Thuỵ Điển với 3 mức thuế suất: 6%, 15%,
22%…
Luật thuế GTGT đã được Quốc hội Việt Nam thơng qua và có hiệu lực thi
hành từ 1/1/1999 do u cầu thích ứng với việc chuyển nền kinh tế kế hoạch hố
tập trung sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa và
tham gia vào tiến trình hội nhập với nền kinh tế của khu vực và thế giới.
1.1.2 Phương pháp tính và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
* Các phương pháp tính thuế giá trị gia tăng
Thuế GTGT chỉ đánh vào phần giá trị tăng lên của hàng hố, dịch vụ ở
mỗi cơng đoạn từ sản xuất, lưu thơng cho đến khâu tiêu dùng. Vì vậy nó khơng
gây ra sự trùng lặp trong tính thuế. Một sản phẩm tuy qua nhiều khâu sản xuất
nhưng bộ phận giá trị tăng thêm của khâu nào thì nộp thuế ở khâu đó, sang khâu
sau thuế khơng tính trên phần giá trị đó nữa. Để thực hiện việc đánh thuế chỉ
dựa trên phần giá trị tăng thêm. Theo lý thuyết, trên thế giới có bốn phương
pháp tính thuế GTGT như sau:
- Phương pháp 1: Phương pháp cộng trực tiếp:
Thuế GTGT
phải nộp
=
Lợi
nhuận
+
Tiền
cơng
x
Thuế
suất
Cách tính thuế này rất phù hợp với cách lý giải về giá trị hàng hố của Mác.
Theo Mác, giá trị hàng hố chính là c + v + m, khi so sánh m với c + v thì m
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
mang hình thái biến tướng thành lợi nhuận và lợi nhuận m cộng với tiền cơng v
chính là phần giá trị tăng thêm của hàng hố dịch vụ qua cơng đoạn đó.
- Phương pháp 2: Phương pháp cộng gián tiếp
Thuế GTGT
phải nộp
=
Lợi
nhuận
X
Thuế
suất
+
Tiền
cơng
x
Thuế
suất
Người ta sử dụng phương pháp này khi quy định thuế suất của tiền cơng
và lợi nhuận khác nhau. Nếu thuế suất của tiền cơng và lợi nhuận bằng nhau thì
đó chính là phương pháp cộng trực tiếp.
Phương pháp 1 và phương pháp 2, mặc dù thuế đã tính được trên phần giá
trị tăng thêm của hàng hố, dịch vụ nhưng đối với người nộp thuế, người ta có
thể coi thuế này đánh vào lợi nhuận của họ và tiền cơng mà họ trả cho người lao
động. Thuế đánh vào tiền cơng chính là đánh vào việc sử dụng lao động, thuế
đánh vào lợi nhuận sẽ thì tạo ra cảm giác phải nộp 2 lần thuế thu nhập doanh
nghiệp. Điều này gây nên tâm lý khó chịu cho người nộp thuế và gây khó khăn
cho việc thu nộp thuế. Đối với Nhà nước thì chỉ khi hồn thành một giai đoạn
nào đó, thường là một năm, mới tính chính xác được lợi nhuận và khi đó mới
quyết tốn được thuế GTGT phải nộp dẫn tới việc thu thuế của Nhà nước khơng
kịp thời.
- phương pháp 3: Phương pháp trừ trực tiếp
Thuế GTGT
phải nộp
=
Doanh
số bán ra
-
Doanh số
mua vào
x
Thuế
suất
Phương pháp này tính thuế GTGT một cách đơn giản hơn 2 phương pháp
trên, cơ quan thuế chỉ cần quản lý doanh số mua vào và bán ra là đủ (doanh số
mua vào và bán ra tính theo giá chưa có thuế GTGT để tránh tình trạng thuế
trùng lên thuế)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Phương pháp 4: Phương pháp trừ gián tiếp
Thuế GTGT
phải nộp
=
Doanh số
bán ra
x
Thuế suất
đầu ra
-
Doanh số
mua vào
x
Thuế suất
đầu vào
Phương pháp này thuận lợi cho việc tính thuế khi thuế suất thuế GTGT
đầu ra và đầu vào khác nhau. Đây là phương pháp tính thuế được áp dụng ở hầu
hết các nước trên thế giới bởi rất ít nước áp dụng một mức thuế suất.
Trong 4 phương pháp tính thuế GTGT nói trên thì 3 phương pháp đầu
tiên trong thực tế rất ít áp dụng, đa số nước trên thế giới sử dụng phương pháp
trừ gián tiếp – phương pháp hố đơn - do những ưu điểm của nó so với các
phương pháp khác như: che giấu được tiền thuế, tiền thuế do cơ sở sản xuất,
kinh doanh phải nộp, thuế được ẩn trong giá bán và người mua phải chịu vì thế
khơng gây nên những phản ứng của cả người nộp thuế và người chịu thuế. Mặt
khác thuế GTGT được tính trên doanh thu đầu ra và được trừ phần thuế đã trả ở
đầu vào nên chỉ cần tính thuế GTGT đầu ra dựa trên doanh số bán ra căn cứ vào
hố đơn bán hàng và thuế GTGT đầu vào ghi trên hố đơn mua hàng.
Cơng thức tính thuế GTGT theo phương pháp gián tiếp có thể viết lại như
sau:
Thuế GTGT
phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT
đầu vào
Thuế GTGT
đầu ra
=
Giá bán hàng
hố, dịch vụ
x
Thuế suất
thuế GTGT
Thuế GTGT đầu vào căn cứ từ hố đơn chứng từ ghi số thuế đã nộp từ các
khâu trước đó.
* Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Thứ nhất, thuế GTGT là một trong 4 loại thuế gián thu cùng với Thuế tiêu
thụ đặc biệt, Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu. Người nộp thuế khơng đồng thời
là người chịu thuế: người nộp thuế là các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng hố,
dịch vụ, người chịu thuế là người tiêu dùng cuối cùng.
- Thứ hai, thuế GTGT có phạm vi thu thuế rất rộng, đối tượng nộp thuế là
tồn bộ các cơ sở sản xuất, kinh doanh kể cả gia cơng, chế biến và hoạt động
dịch vụ có thu tiền, thuế GTGT được thu đối với các sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ
trong nước, kể cả hàng hố nhập khẩu. Tuy nhiên tuỳ vào Luật thuế GTGT mỗi
nước, một số hàng hố dịch vụ được miễn thuế GTGT. Ví dụ như ở nước ta,
những hàng hố mua phục vụ cho mục đích quốc phòng, sản phẩm nơng nghiệp
chưa qua chế biến, dịch vụ y tế, giáo dục… khơng phải chịu thuế GTGT.
- Thứ ba, dù sản phẩm có trải qua bao nhiêu giai đoạn thì tổng số thuế phải
nộp cũng khơng thay đổi. Đó là số thuế người tiêu dùng cuối cùng phải trả:
- Thứ tư, thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao thể hiện ở chỗ nó
khơng phải là thu nhập hay chi phí của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ là người
thu hộ thuế cho Nhà nước thơng qua cơ chế giá, thuế ẩn trong giá hàng hố và
người tiêu dùng phải trả khoản thuế này. Ở nước ta hiện nay, trong quan niệm
của nhiều doanh nghiệp vẫn cho đó là một khoản thu nhập, chi phí của của hoạt
động sản xuất kinh doanh, hiểu như vậy là khơng đúng. Thực chất nó chỉ là
khoản thu, khoản chi hộ.
- Thứ năm, thuế GTGT khơng đánh vào đầu tư vì thuế nằm ngồi giá trị tài
sản cố định và giá thành sản phẩm hàng hố, dịch vụ. Người mua phải trả thêm
tiền thuế GTGT và tiền thuế này sẽ được tách riêng để khấu trừ khi tính thuế
GTGT phải nộp ở giai đoạn sau.
Tổng số thuế GTGT
Phải nộp cho 1 SP
=
Thuế
suất

x


Giá mua của người tiêu
dùng cuối cùng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
- Thứ sáu, thuế GTGT được tính dựa trên giá trị sản phẩm hàng hố và dịch
vụ chứ khơng căn cứ vào hình thái hiện vật cũng như cơng dụng của chúng.
1.1.3 Tính tất yếu của của việc áp dụng thuế giá trị gia tăng tại Việt Nam
Một là: Thuế giá trị gia tăng khắc phục sự trùng lặp của thuế Doanh thu
Thuế GTGT đánh vào giá trị tăng thêm của sản phẩm ở từng khâu sản
xuất, lưu thơng. Thuế Doanh thu lại đánh trên tồn bộ doanh thu của sản phẩm
qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất đến lưu thơng. Có sự khác biệt này
bởi thuế GTGT có khấu trừ thuế ở giai đoạn trước còn thuế doanh thu thì khơng.
Do có sự khác nhau đó nên tổng số thu của từng sản phẩm dù có trải qua bao
nhiêu cơng đoạn, tập trung sản xuất hay phân tán thì tổng số thuế thu được vẫn
khơng đổi. Ngược lại, số thuế Doanh thu đối với từng sản phẩm phụ thuộc vào
sự tổ chức và phân chia các chu trình kinh tế. Sản phẩm hàng hố càng trải qua
nhiều cơng đoạn sản xuất, kinh doanh lưu thơng thì tổng số thuế thu được đối
với từng sản phẩm từ khâu đầu tiên tới khâu cuối cùng càng cao. Do đó thuế
Doanh thu mà mỗi nhà sản xuất kinh doanh phải nộp khơng phản ánh được phần
giá trị mới sáng tạo mà họ đóng góp cho xã hội, khơng khuyến khích chun
mơn hố sản xuất, hạn chế sự phát triển phong phú các ngành, nghề, các loại
hình kinh doanh trong nền kinh tế. Để thấy rõ điều này ta hãy xem xét ví dụ sau
với thuế suất thuế GTGT 10%.
Biểu số 1: Ví dụ tính thuế giá trị gia tăng
Đơn vị tính: 1000đồng
Ngành kinh
doanh
Giá đầu
vào
GTGT
Giá đầu ra
(giá bán)
Thuế
tính ở
đầu ra
Thuế
đã nộp
ở đầu
vào
Thuế còn
phải nộp
ở đầu ra
Nhà bán gỗ 1000 100 0 100
Nhà sản xuất
đồ gỗ
1000 500 1500 150 100 50
Nhà bán lẻ đồ
gỗ
1500 500 2000 200 150 50
Nguồn: Số liệu giả định.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Tính thuế GTGT:
Tổng số thuế của 3 doanh nghiệp là 100 + 50 + 50 = 200, đúng bằng số
thuế người tiêu dùng phải trả: 2000 x 10% = 200
Tính thuế doanh thu:
Cũng với những dữ liệu như trên ta tính thuế doanh thu với mức thuế suất
5%:
+ Thuế doanh thu của người bán gỗ: 1000 x 5% = 50
+ Thuế doanh thu của người sản xuất đồ gỗ: (1000 + 500) x 5% = 75
+ Thuế doanh thu của người bán lẻ đồ gỗ: (1500 + 500) x 5% = 100
Sự trùng lặp của thuế doanh thu thể hiện ở chỗ người bán gỗ đã chịu thuế
doanh thu 50 trên số gỗ bán cho người sản xuất trị giá 1000. Số gỗ này được
người sản xuất gỗ mua và sản xuất tăng thêm giá trị là 500, họ bán số hàng này
và chịu thuế doanh thu là 1500 x 5% = 75. Như vậy 1000 chi phí đã tính thuế
doanh thu cho người bán gỗ bây giờ cộng với phần giá trị tăng thêm để tính thuế
doanh thu cho người sản xuất, tình trạng đánh thuế trùng đã xuất hiện. Cứ như
vậy những cơng đoạn sau thì thuế đánh trùng lặp lại càng tăng. Theo ví dụ thì
thuế suất thuế doanh thu chỉ là 5% nhưng người tiêu dùng phải trả số tiền là:
50 + 75 + 100 = 225, nhiều hơn so với thuế GTGT với thuế suất 10%.
Hai là: tăng cường cơng tác hạch tốn kế tốn tại các doanh nghiệp,
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh
Khi doanh nghiệp chịu sự điều chỉnh của thuế GTGT Thuế GTGT thì cơng
tác hạch tốn kế tốn sẽ được đẩy mạnh. Có điều này bởi vì các doanh nghiệp
muốn được hồn thuế sẽ phải chứng minh đầy đủ, rõ ràng các số liệu về hàng
hố, giá cả, ngày giờ của các loại hàng hố, dịch vụ mua vào, bán ra để làm căn
cứ hồn thuế. Họ phải nghiêm chỉnh thực hiện một cách trung thực bởi cơ quan
thuế có thể kiểm tra trước hoặc sau hồn thuế theo quy định của pháp luật về
thuế. Mặt khác, khi cơng tác hạch tốn kế tốn được tiến hành đầy đủ sẽ giúp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
cho doanh nghiệp nắm được thực tế tình hình sản xuất kinh doanh từ đó vạch ra
những chiến lược kinh doanh hợp lý nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Ba là: khuyến khích đầu tư, xuất khẩu hàng hố dịch vụ, bảo hộ sản
xuất trong nước
Thơng qua cơ chế hồn thuế cho các mặt hàng xuất khẩu và hàng hố phục
vụ cho đầu tư tài sản cố định của doanh nghiệp sẽ thúc đẩy đầu tư, thúc đẩy xuất
khẩu. Theo đó, những mặt hàng xuất khẩu chịu mức thuế xuất 0%, có nghĩa là
những doanh nghiệp sản xuất loại hàng hố xuất khẩu sẽ được khấu trừ tồn bộ
số thuế GTGT đầu vào hợp lý, hợp lệ để sản xuất nên hàng hố này. Đối với các
tài sản cố định được mua sắm để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh cũng được
khấu trừ hồn thuế. Đây có thể được xem như một phương thức hỗ trợ của Nhà
nước thơng qua chính sách thuế, qua đó làm giảm giá thành của hàng hố, dịch
vụ, nâng cao khả năng cạnh tranh, bảo hộ hàng sản xuất trong nước.
Bốn là: Thuế giá trị gia tăng được thực hiện như một cơng cụ định
hướng tiêu dùng, thay đổi cơ cấu đầu tư.
Như chúng ta biết, người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng.
Khi Nhà nước muốn hạn chế hay khuyến khích tiêu dùng một mặt hàng nào đó
thì thơng qua thuế suất thuế GTGT họ có thể thực hiện được điều này. Thuế
GTGT có tính trung lập cao tức là khơng tác động trực tiếp đến các nhà sản
xuất, cung cấp hàng hố, dịch vụ nhưng nếu người tiêu dùng thay đổi loại hàng
hố, dịch vụ mà họ dùng thì cũng tác động đến nhà sản xuất kinh doanh làm họ
thay đổi các danh mục đầu tư, thay đổi cơ cấu trong nền kinh tế. Trên lý thuyết
là như vậy nhưng việc thực hiện điều này khơng dễ dàng bởi việc quyết định
đưa ra một mức thuế suất của từng loại mặt hàng có ảnh hưởng lớn đến nhiều
yếu tố. Một mức thuế suất được đưa ra u cầu đặt ra là phải phù hợp cán cân
ngân sách theo quy định của Pháp lệnh ngân sách nhưng cũng đồng thời phải
khuyến khích phát triển sản xuất một cách có định hướng. Thuế suất phải được
điều chỉnh phù hợp theo từng thời kỳ và có sự thơng qua của Quốc Hội chứ
khơng thể tuỳ tiện nâng hay hạ mức thuế suất. Tuy nhiên, để có những giải pháp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
tình thế thì các nhà hoạch định chính sách có thể điều chỉnh ở mức dưới luật
nhưng theo hướng có lợi cho người sản xuất (chỉ hạ mức thuế xuống thấp chứ
khơng nâng lên). Sự thay đổi thuế suất cũng khơng tác động lớn đối với những
mặt hàng thiết yếu. Đối với loại mặt hàng này việc thay đổi thuế suất hầu như
khơng có tác dụng trong định hướng tiêu dùng và thay đổi cơ cấu đầu tư.
Năm là: áp dụng thuế giá trị gia tăng góp phần hồ nhập với chính sách
thuế của khu vực và thế giới
Trong q trình hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi chúng ta khơng chỉ tham
gia vào khu vực ASEAN mà còn phải tham gia vào các tổ chức kinh tế thương
mại khác như WTO, APEC và các tổ chức mang tính đa phương khác trong
tương lai, trong đó lấy mục tiêu tham gia vào WTO làm định hướng xây dựng
các cam kết về thuế quan để thực hiện tự do hố thương mại hồn tồn vào năm
2020. Những bước đi để phù hợp với sự hội nhập đó chúng ta đã tham gia các
chương trình như Chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT)
nhằm tiến tới khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), thực hiện những cam
kết trong khn khổ ASEAN + Trung Quốc – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
– Trung Quốc, ký Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa kỳ.
Tuy nhiên, việc làm quan trọng nhất trong tiến trình hội nhập này là cải
cách hệ thống thuế của mình cho phù hợp với xu thế chung của các nước trong
khu vực và trên thế giới, trong đó điều quan trọng vào bậc nhất là đưa thuế
GTGT (áp dụng đối với cả hàng nhập khẩu) vào hệ thống thuế khố của mình
bởi sắc thuế này hiện là sắc thuế được sử dụng rộng rãi trên thế giới và đã trở
thành một sắc thuế mang tính quốc tế. Ngồi ra còn mở rộng diện chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt đối với một số mặt hàng nhập khẩu đã làm cho chính sách thuế đánh
vào hàng nhập khẩu của Việt Nam phù hợp với thơng lệ quốc tế, tạo điều kiện
cho Việt Nam thực hiện những cam kết song phương và đa phương. Những cải
cách của hệ thống thuế sẽ làm nền tảng vững chắc cho chúng ta khi tham gia hội
nhập bởi khi tham gia hội nhập chúng ta khơng thể duy trì những sắc thuế mà
chỉ riêng Việt Nam áp dụng và những chính sách thuế quan của riêng mình như:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hạn ngạch, quota, giấy phép nhập khẩu…của riêng mình trong tiến trình hội
nhập mà phải thực hiện theo xu thế chung.
1.2 QUY TRÌNH HỒN THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG Ở VIỆT NAM
1.2.1 Bản chất, ý nghĩa của việc hồn thuế giá trị gia tăng
* Bản chất của việc hồn thuế giá trị gia tăng
Như chúng ta đã biết, thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên
phần giá trị gia tăng của hàng hố, dịch vụ tiêu dùng cuối cùng. Chính vì vậy mà
người tiêu dùng cuối cùng chính là người phải chịu thuế giá trị gia tăng, còn các
doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất-kinh doanh hàng hố, dịch vụ chịu thuế giá trị
gia tăng trong q trình tham gia vào các hoạt động sản xuất, lưu thơng hàng
hố, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng khơng phải là người chịu khoản thuế giá
trị gia tăng của hàng hố, dịch vụ đó, các sơ sở sản xuất-kinh doanh trên chỉ
đóng vai trò là người thu thuế hộ nhà nước và nộp vào ngân sách nhà nước theo
quy định của Luật thuế giá trị gia tăng. Trong mọi trường hợp, cơ sở sản xuất-
kinh doanh đều phải thực hiện việc trả phần thuế giá trị gia tăng đầu vào cho các
ngun liệu đầu vào ở khâu sản xuất hoặc cho hàng hố ở khâu nhập (đối với
doanh nghiệp thương mại), khi tiến hành hoạt động bán hàng, cơ sở bán được
hàng hố và phải thu phần thuế giá trị gia tăng đầu ra của hàng hố bán ra và
tính ra số thuế giá trị gia tăng phải nộp vào ngân sách nhà nước bằng (=) tổng số
thuế giá trị gia tăng đầu ra của hàng hố, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng trừ (-)
tổng số thuế giá trị gia tăng đầu vào đã trả ở khâu trước.
Thuế GTGT
phải nộp
=
Thuế GTGT
đầu ra
-
Thuế GTGT
đầu vào
Trong trường hợp cơ sở sản xuất-kinh doanh trong kỳ chỉ có các hoạt động
phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu vào mà khơng có hoạt động phát sinh số
thuế giá trị gia tăng đầu ra hoặc có phát sinh số thuế giá trị gia tăng đầu ra
nhưng nhỏ hơn số thuế giá trị gia tăng đầu vào có đủ các điều kiện thuộc một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét