Thứ Sáu, 21 tháng 2, 2014

Một số giải pháp thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu mặt hàng kính xây dựng và gốm sứ thuỷ tinh

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Nếu theo chi phí sản xuất thì Việt Nam sản xuất thép và quần áo có chi
phí cao hơn Nga. Theo lý thuyết lợi thế tuyệt đối thì Việt Nam không có
khả năng xuất khẩu sản phẩm nào sang Nga. Nhưng nếu xét theo chi phí so
sánh ta sẽ thấy.
Bảng 3: Chi phí so sánh giữa hai loại hàng hoácủa Việt Nam và Nga
Sản phẩm
Chi phí so sánh
Việt Nam Nga
Thép(1 đơn vị) 5 4
Quần áo(1 đơn vị) 1/5 1/4
Theo chi phí so sánh thì thấy rằng: chi phí sản xuất thép của Việt Nam
cao hơn Nga: để sản xuất 1 đơn vị thép Việt Nam cần 5 đơn vị quần áo,
trong khi ở Nga chỉ cần 4 đơn vị. Nhưng chi phí để sản xuất 1đơn vị quần
áo của Việt Nam thấp hơn Nga: để sản xuất 1 đơn vị quần áo Việt Nam cần
1/5 đơn vị thép trong khi đó ở Nga cần 1/4 đơn vị thép. Điều này chỉ ra
rằng, Việt Nam và Nga có thể trao đổi sản phẩm cho nhau. Nga sẽ xuất
khẩu thép sang Việt Nam và Việt Nam sẽ xuất khẩu quần áo sang Nga, việc
trao đổi này sẽ mang lại lợi ích cho cả hai nước Nga và Việt Nam.
Trước khi có ngoại thương, Nga sản xuất 1 đơn vị thép đổi lấy 4 đơn
vị quần áo. Khi có hoạt động ngoại thương thì Nga sản xuất 1 đơn vị thép
sẽ đổi được 5 đơn vị quần áo. Như vậy sau khi có hoạt động ngoại thương
thì Nga sẽ được lợi thêm 1 đơn vị quần áo.
Đối với Việt Nam, trước khi có ngoại thương, Việt Nam sản xuất 5 đơn
vị quần áo thì đổi được 1 đơn vị thép. Khi có hoạt động ngoại thương thì
Việt Nam chỉ cần 4 đơn vị quần áo đã đổi được 1 đơn vị thép. Như vậy,
Việt Nam đã tiết kiệm được 1 đơn vị quần áo
Như vậy nhờ có hoạt động ngoại thương mà lợi ích của 2 quốc gia đều
tăng lên trong khi đó vẫn đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước. Hay
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nói cách khác đã làm nâng cao mức sống và thu nhập thực tế của một quốc
gia
3. Lý thuyết của Heckscher- Ohlin
3.1. Các giả thiết của Heckscher- Ohlin
- Thế giới chỉ có 2 quốc gia, chỉ có 2 loại hàng hoá( X,Y) và chỉ có 2
yếu tố đầu vào là lao động và tư bản
- Hai quốc gia sử dụng công nghệ sản xuất hàng hoá giống nhau và thị
hiếu của các dân tộc là như nhau
- Hàng hoá X chứa nhiều lao động còn hàng hoá Y chứa nhiều tư bản
- Tỉ lệ giữa đầu tư và sản lượng của cả hai loại hàng hoá trong 2 quốc
gia là một hằng số. Cả hai quốc gia đều chuyên môn hoá sản xuất ở mức
không hoàn toàn.
- Cạnh tranh hoàn hảo trong thị trường hàng hoá và thị trường các yếu
tố đầu vào ở cả hai quốc gia
- Các yếu tố đầu vào tự do di chuyển trong từng quốc gia nhưng bị cản
trở trong phạm vi quốc tế.
- Không có chi phí vận tảI, không có hàng rào thuế quan và cảc trở ngại
khác trong thương mại giữa hai nước.
3.2. Nội dung
Giả sử có hai loại hàng hoá Y và X. Hàng hoá Y là hàng hoá chứa
nhiều tư bản nếu tỉ số tư bản/ lao động được sử dụng để sản xuất hàng hóa
Y lớn hơn hàng hoá X trong cả hai quốc gia. Theo định lý của Heckscher-
Ohlin quốc gia nào có nhiều tư bản thì nên sản xuất nhiều hàng hoá Y.
Quốc gia nào có nhiều lao động thì nên sản xuất nhiều hàng hoá X. Hay nói
cách khác, quốc gia nào dồi dào về yếu tố sản xuất nào thì nên sản xuất
nhiều hàng hoá chứa yếu tố sản xuất đó. Heckscher- Ohlin cho rằng do sở
thích và phân phối thu nhập của các nước là như nhau, điều này dẫn đến
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
nhu cầu giống nhau về hàng hoá cuối cùng và yếu tố sản xuất của các quốc
gia. Do đó, việc cung cấp các yếu tố sản xuất của các nước khác nhau là
nguyên nhân dẫn đến giá tương đối của các hàng hoá khác nhau, và từ đó
dẫn đến thương mại giữa các nước.
II. Các chiến lược phát triển ngoại thương của một số nước trên thế
giới
1. Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô được hầu hết các nước đang sử
dụng. Đó là chiến lược dựa vào việc sử dụng các sản phẩm sẵn có của đất
nước. Sản phẩm thô là những sản phẩm nông nghiệp và các sản phẩm khai
khoáng vì thế nó phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên và thời tiết ở
quốc gia đó.
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô được các nước đang phát triển sử
dụng vì các quốc gia này giàu có tài nguyên thiên nhiên. Nhưng về mặt
khoa học công nghệ thì rất kém, vì vậy việc xuất khẩu sản phẩm thô là một
hình thức phù hợp. Mặt khác, chiến lược này sẽ tạo động lực cho phát triển
kinh tế. Ban đầu nền kinh tế sẽ phát triển theo chiều rộng nghĩa là các quốc
gia bán tàI nguyên của mình để thu ngoại tệ về cho đất nước. Hoặc dùng
chính sách thu hút đầu tư nước ngoàI vào công nghiệp khai khoáng và công
nghiệp sản xuất sản phẩm nhiệt đới. Sự phát triển này sẽ làm cho tăng
nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tăng khả năng tích luỹ của nền kinh tế, đồng
thời giải quyết việc làm cho người lao động.
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô cũng tạo ra những biến đổi cơ cấu
kinh tế. Ban đầu là sự phát triển công nghiệp khai khoáng và ngành công
nghiệp chăn nuôi, trồng cây lương thực và cây công nghiệp có khả năng
xuất khẩu, đồng thời với những ngành này là sự phát triển của công nghiệp
chế biến, tạo ra các sản phẩm sơ chế như: gạo, cà phê, cao su….Sự phát
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
triển của công nghiệp chế biến sẽ tạo cơ hội cho việc gia tăng các sản phẩm
xuất khẩu. Mặt khác nó lại có tác động ngược lại với các ngành cung ứng
nguyên liệu, tạo ra mối liên hệ ngược.
Chiến lược xuất khẩu sản phẩm thô góp phần tạo nguồn vốn ban đầu
cho công nghiệp hoá. Vì quá trình công nghiệp hoá là một quá trình tích
luỹ vốn lâu dàI và đặc biệt khó khăn trong giai đoạn đầu tiên. Vì vậy những
nước có nguồn tàI nguyên thiên nhiên dồi dào và phong phú sẽ có điều kiện
để tích luỹ nguồn vốn bằng cách khai thác nguồn tài nguyên của mình.
Ngoài những tác động tích cực của chiến lược xuất khẩu sản phẩm
thô, thì nó còn có những trở ngại trong việc thực hiện chiến lược, đó là:
Thứ nhất, việc cung cấp sản phẩm thô không ổn định, các sản phẩm
chủ yếu là sản phẩm của ngành khai khoáng và nông nghiệp chưa qua sơ
chế. Vì vậy, việc cung cấp các sản phẩm này phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên và khí hậu.
Thứ hai, cầu sản phẩm thô luôn biến động, chủ yếu là do hai nguyên
nhân:
- Theo quy luật tiêu dùng sản phẩm của E. Engel, các sản phẩm lương
thực, thực phẩm về cơ bản sẽ tăng chậm hơn mức tăng thu nhập. Quy luật
này làm cho sản phẩm thô co xu hướng giảm.
- Do sự phát triển của khoa học công nghệ: sự thay đổi trong công
nghiệp chế biến làm cho lượng tiêu hao về nguyên vật liệu có xu hướng
giảm. Vì máy móc kỹ thuật ngày càng hiên đại, làm giảm lãng phí nguyên
vật liệu đầu vào, tăng tối đa sản phẩm, làm giảm tối thiểu lượng phế thải.
Mặt khác khoa học công nghệ cho ra đời nhiều loại nguyên vật liệu nhân
tạo như: nilon, cao su, nhựa, giả da,… để thay thế cho những sản phẩm
truyền thống.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Thứ ba, do giá cả của sản phẩm thô có xu hướng giảm so với hàng công
nghệ. Để so sánh tương quan giữa giá cả sản phẩm xuất khẩu và sản phẩm
nhập khẩu các nhà kinh tế sử dụng “ hệ số trao đổi hàng hoá”.
In = Px/Pm
Trong đó: In hệ số trao đổi hàng hóa
Pm là giá bình quân hàng nhập khẩu
Hệ số này phản ánh sức mua hàng nhập khẩu khi xuất khẩu 1 đơn vị
hàng hoá khác. ở các nước đang phát triển thường xuất khẩu sản phẩm thô
để có ngoại tệ nhập khẩu hàng công nghệ. Xu thế của thế giới hiện nay là
giá của sản phẩm thô ngày càng giảm so với hàng công nghệ. Theo như
nghiên cứu của 2 nhà kinh tế học Grilli và Yang đã chứng minh rằng giá
của sản phẩm thô giảm bình quân là 0,65%/ năm so với hàng công nghệ
Thứ tư, do thu nhập của sản phẩm thô biến động. Nguyên nhân của
sự biến động này là do cung và cầu của sản phẩm thô luôn biến động, nó sẽ
tác động đến thu nhập của sản phẩm thô. Do đặc điểm của sản phẩm thô là
độ co giãn của đường cầu sản phẩm thô là rất thấp, trong khi đó cung của
sản phẩm thô có độ co giãn rất cao. Các nhà kinh tế học đã chỉ ra rằng
doanh thu của sản phẩm thô sẽ giảm mạnh hoặc có tăng thì rất ít cho dù
được mùa hay mất mùa.
2. Chiến lược thay thế hàng nhập khẩu
Chiến lược thay thế sản phẩm nhập khẩu nhằm đẩy mạnh sự phát triển
các ngành công nghiệp trong nước mà trước hết là các ngành công nghiệp
sản xuất hàng tiêu dùng, sau đó là các ngành công nghiệp khác nhằm sản
xuất sản phẩm nội địa thay thế các sản phẩm nhập khẩu. Để thực hiện chiến
lược này đòi hỏi phải có những điệu kiện sau:
Thứ nhất, tạo điều kiện để cho các ngành sản xuất trong nước có được
thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng rãi. Do vậy chiến lược này chỉ có thể
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
phát huy hiệu quả đối với những nước có dân số tương đối đông.
Thứ hai, các ngành công nghiệp trong nước ban đầu có thể còn nhỏ
bé nhưng phải tạo ra được những yếu tố đảm bảo khả năng phát triển.
Những yếu tố này đòi hỏi phải thu hút vốn và công nghệ của các nhà đầu tư
trong và ngoài nước.
Thứ ba, chính phủ phải có những chính sách thích hợp. Vì ban đầu khi
công nghiệp trong nước còn non trẻ, giá thành sản xuất thường cao hơn so
với thị trường thế giới. Chính phủ cần phải xây dựng hàng rào bảo hộ bằng
các hình thức như: trợ cấp, thuế quan, hạn ngạch để hỗ trợ cho các ngành
sản xuất trong nước để tăng khả năng cạnh tranh ở thị trường trong nước và
đẩy mạnh xuất khẩu ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên, chiến lược thay thế còn có những hạn chế:
Thứ nhất, làm giảm khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nước. Bởi vì một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến tỉ
suất lợi nhuận của nhà sản xuất là thuế quan và hạn ngạch do chính phủ đặt
ra. Do được sự bảo hộ của chính phủ nên các doanh nghiệp trong nước sẽ
có được nguyên liệu đầu vào giá rẻ, làm giảm chi phí sản xuất, các doanh
nghiệp yên tâm với sự bảo hộ của nhà nước. Nếu chi phí sản xuất tăng hay
sức cạnh tranh của mặt hàng nhập khẩu giảm thì các doanh nghiệp lại
chông chờ sự bảo hộ của chính phủ do đó đáng lẽ bảo hộ sẽ giảm dần theo
thời gian thì các nhà sản xuất lại chông chờ bảo hộ tăng lên.
Thứ hai, chiến lược thay thế sản phẩm nhập khẩu làm nảy sinh nhiều
tiêu cực, bảo hộ bằng thuế dẫn đến tình trạng chốn lậu thuế, hối lộ đội ngũ
thuế quan. Bảo hộ bằng hạn ngạch thì dẫn đến tình trạng hối lộ các quan
chức phụ trách phân phối hạn ngạch
Thứ ba, chiến lược này còn hạn chế xu hướng công nghiệp hoá của đất
nước. Chiến lược này thường bắt đầu từ công nghiệp hàng tiêu dùng, sau
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
đó lại tiếp tục tạo thị trường cho các ngành sản xuất sản phẩm trung gian.
Nhưng vì thị trường đối với sản phẩm trung gian như: hoá chất, luyện kim
thường nhỏ hơn thị trường hàng tiêu dùng nên có trở ngại đối với vấn đề
này. Do vậy, cũng lại chông chờ vào sự bảo hộ, sự bảo hộ này lại làm tăng
giá đầu vào đối với các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng. Để
đảm bảo lợi nhuận các ngành công nghiệp lại tiếp tục phụ thuộc vào
nguyên liệu nhập khẩu làm cho các ngành công nghiệp sản xuất nguyên vật
liệu không có khả năng phát triển, hạn chế sự hình thành cơ cấu công
nghiệp đa dạng ở đất nước.
Thứ tư là, chiến lược này làm tăng nợ nước ngoàI của các nước đang
phát triển. Do được bảo hộ nên các sản phẩm của sản xuất trong nước
không có khả năng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ trên thị trường quốc tế,
trong khi vẫn phải nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyên vật liệu từ ngoài
làm cho tình trạng nhập siêu của những nước này tăng lên.
3. Chiến lược phát triển hướng ngoại
Trong suốt những năm 50, 60 của thế kỷ trước hầu hết các nước đang
phát triển gặp phải những khó khăn do theo đuổi chiến lược hướng nội.
Đặc biệt là khoản nợ nước ngoài ngày càng gia tăng, nền kinh tế tăng
trưởng chậm, cơ cấu kinh tế mất cân đối. Do vậy, đầu những năm 60 một
số nước đã chuyển hướng chiến lược, đi đầu trong các nước đang phát triển
là những nước NICs. Họ đã thành công trong việc thực hiện chiến lược
hướng ngoại, họ nhận thấy rằng để khắc phục vấn đề nợ nước ngoài, nguồn
tài nguyên và thị trường nhỏ hẹp trong nước chỉ có cách là dựa vào thị
trường quốc tế.
Nội dung của chiến lược hướng ngoại của các nước NICs là sản xuất
những mặt hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nhất những yếu tố có sẵn trong
nước, thực hiện nhất quán chính sách giá cả: giá hàng trong nước phải phản
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
ánh sát với hàng trên thị trường quốc tế và phản ánh được sự khan hiếm
của các yếu tố trong nước. ở phần lớn các nước đang phát triển, nguồn lao
động dồi dào trong khi nguồn vốn lại khan hiếm. Chính sách của nhà nước
là tiền lương và các chi phí khác, về nhân công phải thấp và lãi suất phải
cao nhằm khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, như vậy
vừa mang lại lợi nhuận, vừa tạo ra công ăn việc làm, góp phần giải quyết
vấn đề thất nghiệp cho đất nước. Do vậy, đối với các nước NICs trong thời
kỳ đầu thực hiện chiến lược hướng ngoại thường tập chung vào sản xuất
hàng công nghiệp và dịch vụ sử dụng nhiều lao động làm cho chi phí sản
xuất sẽ tương đối thấp so với thị trường quốc tế.
Sau khi các nước NICs đã thành công trong công việc lựa chọn chiến
lược của mình thì một số nước đang phát triển khác và các nước ASEAN
cũng lần lượt chuyển sang chiến lược hướng ngoại để khắc phục tình trạng
khó khăn của mình. Nhưng điểm khác của các nước ASEAN so với các
nước NICs là:
Thứ nhất, phần lớn các nước ASEAN có dân số tương đối đông nên tạo
ra được thị trường tiêu thụ rộng lớn.
Thứ hai, các nước ASEAN đều có tài nguyên thiên nhiên đáng kể. Do
vây, nội dung của chiến lược hướng ngoại của các nước ASEAN có những
đặc điểm khác so với các nước NICs. Nội dung của chiến lược hướng ngoại
của các nước ASEAN là tận dụng lợi thế so sánh để sản xuất các mặt hàng
xuất khẩu, sử dụng nguồn tàI nguyên thiên nhiên để thúc đẩy quá trình tích
luỹ ban đầu của đất nước. Khuyến khích sản xuất các sản phẩm để đáp ứng
nhu cầu trong nước.
Chiến lược hướng ngoại đã tác động mạnh đến nền kinh tế của mỗi
quốc gia.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Chiến lược hướng ngoại tạo khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới,
năng động. Sự phát triển của các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã
tác động đến các ngành cung cấp đầu vào cho các ngành xuất khẩu tạo ra “
mối liên hệ ngược” thúc đẩy sự phát triển của những ngành này. Bên cạnh
đó, khi vốn tích luỹ của nền kinh tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo
ra “mối liên hệ xuôi” là nguyên liệu cung cấp đầu vào cho công nghiệp chế
biến và mối liên hệ xuôi này tiếp tục mở rộng. Sự phát triển của tất cả các
ngành này sẽ làm tăng thu nhập của người lao động, tạo ra mối liên hệ gián
tiếp cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và dịch vụ.
Chiến lược hướng ngoại tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước
ngày càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Chiến lược hướng ngoại tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho đất nước.
Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác kể cả vốn vay và đầu
tư nước ngoài. Đối với nhiều nước đang phát triển, ngoại thương đã trở
thành nguồn tích luỹ vốn chủ yếu của giai đoạn đầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá. Đồng thời có ngoại tệ làm tăng khả năng nhập khẩu công nghệ,
máy móc thiết bị và nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển của ngành công
nghiệp.
III. Các xu hướng phát triển của thương mại quốc tế có ảnh hưởng tới
xuất khẩu
1. Xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế vận động tất yếu của các nền
kinh tế trên thế giới trong điều kiện hiện nay, khi quá trình toàn cầu hoá
diễn ra hết sức nhanh chóng dưới sự tác động mạnh mẽ của khoa học công
nghệ. Đối với những nước đang phát triển và kém phát triển thì hội nhập
kinh tế quốc tế là con đường tốt để rút ngắn tụt hậu so với các nước khác và
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368
có điều kiện để phát huy tối ưu hơn những lợi thế so sánh của mình trong
phân công lao động và hợp tác quốc tế.
Hội nhập kinh tế quốc tế là sự gắn kết nền kinh tế của mỗi quốc gia vào
tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong mối quan hệ đó, giữa các
quốc gia thành viên có sự giàng buộc theo quy định chung của khối. Nói
cách kháI quát nhất, hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình các quốc gia thực
hiện mô hình kinh tế mở, tự nguyện tham gia vào các định chế kinh tế và
tàI chính quốc tế, thực hiện thuận lợi hoá và tự do hoá thương mại, đầu tư
vào các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm
giải quyết 6 vấn đề cơ bản:
+ Đàm phán cắt giảm thuế quan
+ Giảm, loại bỏ hàng rào phi thuế quan
+ Giảm bớt hạn chế đối với dịch vụ
+ Giảm bớt trở ngại đối với đầu tư quốc tế
+ Điều chỉnh chính sách thương mại
+ Triển khai các hoạt động văn hoá, giáo dục…
Như vậy, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện cho các nước tham
gia hoạt động thương mại với nhau. Các quốc gia được bình đẳng trong
quan hệ mua bán, thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu. Các quốc gia trong
cùng một tổ chức hợp tác quốc tế sẽ được hưởng những lợi ích mà tổ chức
đó mang lại, xong các quốc gia này phảI chịu những giàng buộc mà tổ chức
kinh tế này đưa ra. Vì thế, đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho các
quốc gia. Nó buộc các doanh nghiệp trong nước phải đổi mới để nâng cao
sức cạnh tranh trên thương trường.
2. Sự phát triển của khoa học công nghệ
Ngày nay, khoa học công nghệ đã có những tiến bộ vượt bậc, máy móc
và trang thiết bị ngày càng tinh vi, hiện đại, độ chính xác cao. Nhờ đó,
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel (: 0918.775.368

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét