Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Môi trường du lịch tại chùa Hương

khách đó. Mặt khác lượng khách đơng tạo ra nguy cơ q tải cho điểm du lịch
và gây tổn hại đến tài ngun du lịch tại đây.
Ngồi các nhân tố trên, còn kể đến sự thiếu đồng bộ trong quy hoạch.
Cũng như các quy định, quy chế nơi đây. Chính điều đó vơ hình chung đã tạo ra
sự nơi lỏng trong cơng tác quản lý mọi mặt và gây tác động xấu đến mơi trường.
1.1.2.2. Hậu quả từ những tác động đó
Về trước mắt, ơ nhiễm mơi trường và sự suy giảm giá trị tài ngun là
điều khó tránh khỏi. Mặt khác sự ơ nhiễm khơng khí, nguồn nước tại điểm du
lịch chùa Hương có thể ảnh hưởng đến các vùng lân cận và do đó sức khoẻ của
khách du lịch, của người dân cũng bị ảnh hưởng gây ra nguy cơ làm giảm chất
lượng cuộc sống.
Nếu xét về lâu dài, nếu sự ơ nhiễm đó khơng được cải tạo và hạn chế đến
mức tối thiểu thì tại các điểm du lịch ở nước ta nói chung, điểm du lịch chùa
Hương nói riêng lượng khách du lịch có nguy cơ xu hướng ít tham quan hơn
đồng thời các điểm du lịch này sẽ khơng thể tiếp tục khai thác được nữa.
1.1.3. Lợi ích của vấn đề bảo vệ mơi trường tại các điểm du lichk
Nhìn chung việc bảo vệ mơi trường tại bất cứ lĩnh vực nào đều là hoạt
động tích cực và có lợi. Tuy nhiên chỉ xét riêng trên khía cạnh du lịch, việc bảo
vệ mơi trường mang lại những lợi ích sau:
1.1.3.1. Lợi ích cho tồn xã hội
Xét một cách tồn diện, xã hội sẽ giảm bớt các chi phí phục vụ cho việc
cải tạo mơi trường. Mặt khác những chi phí có liên quan do mơi trường ơ nhiễm
tác động đến cũng được giảm bớt. Đồng thời chất lượng cuộc sống và mơi
trường của tồn xã hội được nâng cao.
1.1.3.2. Lợi ích cho khách du lịch
Trước hết khách du lịch sẽ được tham quan trong bầu khơng khí trong
lành và rất có lợi cho sức khoẻ.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Thứ hai, khách du lịch có cơ hội chiêm ngưỡng những tài ngun du lịch
ngun sơ, mang đậm chất cổ kính và dấu ấn của thời gian.
Thứ ba, nếu lượng ơ nhiễm lớn và chi phí cho việc cải tạo sự ơ nhiễm đó
lớn thì khách du lịch sẽ phải chịu một phần chi phí thơng qua giá vé cũng như
các dịch vụ khác. Do đó khách du lịch có thể sẽ giảm bớt được chi phí của mình
nếu mơi trường tại điểm du lịch được bảo vệ tốt.
1.1.3.3. Lợi ích cho dân cư và chính quyền sở tại
Thứ nhất, chính quyền sở tại sẽ giảm bớt chi phí cũng như nguồn nhân
lực cho vấn đề bảo vệ mơi trường tại địa bàn.
Thứ hai, các khâu quản lý sẽ đơn giản cũng như có thể khai thác tối đa tài
ngun du lịch tại vùng phục vụ cho khách du lịch.
Thứ ba, nếu vấn đề mơi trường được bảo vệ tốt, lượng khách du lịch sẽ
đơng và kéo theo có nhiều cơng ăn việc làm và mang lại thu nhập cho dân cư.
Thứ tư, trong tương lai sẽ có nhiều dự án đầu tư cho sự phát triển du lịch
tại địa bàn nhằm mục đích thu hút càng nhiều du khách. Nếu các dự án đó hợp
lý và mang tính khả thi, đó sẽ là nguồn lợi lớn khơng chỉ cho quốc gia mà cho cả
chính quyền và dân cư sở tại.
1.1.3.4. Lợi ích cho các nhà cung ứng
Trong mối quan hệ giữa khách du lịch - Nhà cung ứng - điểm du lịch, các
nhà cung ứng ln là trung gian cung cấp nhiều dịch vụ đến khách. Do đó du
lịch càng phát triển sẽ càng có lợi cho các nhà cung ứng, đồng thời tăng ngân
sách quốc gia.
1.1.3.5. Lợi ích trong viêc giữ gìn các tài ngun du lịch và giữ gìn các di
sản văn hố cho các thế hệ sau. Đó cũng chính là nội dung trong chiến lược
phát triển bền vững mà các cấp, các ban ngành đang nỗ lực thực hiện.
1.2. Lợi thế trong vấn đề bảo vệ mơi trường tại điểm du lịch Chùa
Hương
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
1.2.1. Lợi thế về sự quan tâm của các cấp lãnh đạo TW và địa phương.
Vì đây chính là một danh thắng cần được giữ gìn và tơn tạo, vì vậy sở
khoa học cơng nghệ và mơi trường Hà Tây trong những tháng cuối năm 2002 đã
có những cuộc khảo sát và nghiên cứu thực tế trước sự hỗ trợ của Sở và Tổng
cục du lịch. Bước đầu đã có một số kết luận sơ bộ và có dự án cải tạo mơi
trường tại đây trong giai đoạn 2006-2010.
1.2.2. Nguồn kinh phí lớn thu được hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần
thúc đẩy được hàng năm từ các dịp lễ hội góp phần thúc đẩy các dự án bảo vệ
mơi trường tại nơi đây. Theo báo Hà Tây số ra ngày 18-5-2003, sau khi kết thúc
đợt lễ hội xn 2003, nguồn thu từ việc bán vé thu được trên 10 tỉ đồng. Nếu
làm một phép tính đơn giản so với năm 2004 vừa qua có thể thấy con số này sẽ
lớn hơn vì số lượng khách đổ về đây trong dịp lễ hội xn 2004 lớn hơn 2003.
1.2.3. Lợi thế về nguồn lao động tại chỗ
Xã Hương Sơn - địa bàn có chùa Hương, có lượng lao động lớn dư thừa
sau mỗi vụ lễ hội. Vì vậy nếu những dự án bảo vệ mơi trường thực thi có thể sẽ
giải quyết phần nào cơng ăn việc làm của dân cư sau mỗi vụ lễ hội, tránh được
cảnh: "người dân Hương Sơn làm 3 tháng ăn cả năm" (Báo Hà Tây tháng 9-
2002) trong một thời gian ngắn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG MƠI TRƯỜNG TẠI ĐỊA ĐIỂM DU LỊCH CHÙA
HƯƠNG
2.1. Sự xuống cấp của các tài ngun du lịch
2.1.1. Tài ngun thiên nhiên
2.1.1.1. Lượng khách du lịch hàng năm đổ về chùa Hương rất đơng.
Tuy nhiên mạng lưới vận chuyển khách còn ít và sơ sài đã gây nên tình
trạng tắc nghẽn đơi lúc tại các hang động, tại các chùa. Điều đó vơ hình chung
cộng với ý thức bảo vệ các di sản, các tài ngun du lịch của du khách còn kém
đã gây ra những tác động tiêu cực làm hư hại nhiều đến các hang động, tượng
đá, nhũ đá, chùa chiền…
Trích dẫn lời tác giả Đồn Xn Hồ trên báo giáo dục thời đại có đoạn:
"Với lượng khách đổ về Hương Sơn hàng năm ngày càng tăng, nếu mỗi người
cứ tự ý mình có những hành động gây tổn hại đến cảnh quan nơi đây, thì vài
chục năm nữa những thế hệ sau khi đến đây chỉ được chiêm ngưỡng những cơng
trình do con người xây dựng".
2.1.1.2. Chính quyền và dân cư sở tại có sự khai thác q mức gây ra sự
xuống cấp của tài ngun du lịch nơi đây
Trước đây các cấp, ban ngành có liên quan đến du lịch đều cho rằng,
lượng khách du lịch đến các điểm du lịch càng nhiều sẽ là một dấu hiệu tốt
chứng tỏ điểm du lịch đó đang thu hút khách du lịch. Điều đó xét trên một khía
cạnh nào đó là rất đúng. Tuy nhiên họ đâu biết tằng nếu cứ tiếp tục để tình trạng
đó xảy ra thì trong tương lai có thể sẽ khơng còn khả năng khai thác được tại
điểm du lịch đó nữa, bởi vì mỗi điểm du lịch chỉ có một sức chứa nhất định và
lượng khách du lịch tại một thời điểm nào đó phải ln nhỏ hơn hoặc bằng sức
chứa đó.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Hiện nay chính quyền xã Hương Sơn và Sở du lịch Hà Tây vẫn chưa nhận
thức đúng đắn về ngun tác đó. Vì vậy tình trạng q tải về khách du lịch diễn
ra hàng ngày tạiđây (nhất là những ngày nghỉ) mỗi dịp lễ hội.
2.1.3. Nghịch lý giữa thu và chi: "Nhiều cơng trình, điểm du lịch hư
hỏng, xuống cấp nhưng chưa được tồn tại".
Với nguồn thu hàng năm cộng với sự hỗ trợ của nhà nước và tổng cục du
lịch là những nguồn kinh phí lớn cho việc thực hiện các dự án trùng tu và cải tạo
tại đây. Tuy nhiên, tiền "rót" xuống thì nhiều nhưng việc sử dụng lại chưa có
hiệu quả hoặc khơng hiệu quả. Vì vậy cần có biện pháp quan tâm hơn nữa đến
việc sử dụng các nguồn kinh phí trong việc thực thi các dự án trùng tu tại đây.
2.1.4. Phải chăng các ban ngành chức năng làm ngơ hoặc bất lực trước
những hành vi phá hoại của người dân nơi đây?
Cứ sau mỗi mùa lễ hội, người dân nơi đây cho nổ mìn lấy đá (có tổ chức)
là một việc làm phổ biến. Tuy nhiên họ khơng có ý thức được hiểm hoạ mà họ
gây ra trước mắt và lâu dài. Mặt khác chính quyền nơi đây dường nhưu làm ngơ
trước những việc làm đó và cứ để nó diễn ra thường xun. Thiết nghĩ các ban
ngành chức năng cần có những biện pháp tích cực hơn để ngăn ngừa và chấm
dứt những hành vi gây hại trên.
2.1.2. Tài ngun du lịch nhân văn
Nhìn chung, các tài ngun du lịch nhân văn tại chùa hương mang đậm
những nét kiến trúc độc đáo của người xưa. Tuy nhiên cùng với thời gian và khí
hậu bất ổn của nước ta, hầu hết các cơng trình kiến trúc này đều đã qua tu sửa.
Nhưng những năm gần đây, lượng khách du lịch về đây rất đơng, đơi lúc q tải
đã dẫn đến hiện tượng nhiều cơng trình bị xuống cấp nghiêm trọng. Vì vậy các
ban ngành liên quan cần có biện pháp và dự án trùng tu kịp thời, nhưng khơng
làm mất đi vẻ vốn có của nó. Điều đó khơng chỉ giữ ngun giá trị cho tài
ngun đó, đồng thời sẽ giúp cho khách du lịch có cảm giác an tồn khi thăm
quan tại đây.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Cũng như tài ngun du lịch tự nhiên, các tài ngun du lịch nhân văn
cũng chưa được quan tâm đúng mức (ở đây nói về khía cạnh trùng tu, tơn tạo).
Do đó trong tương lai gần cần quan tâm đúng mức để các tài ngun du lịch nơi
đây phát huy ngun những giá trị, phục vụ cho việc thăm quan của du khách.
2.2. Việc xây dựng các đền chùa trái phép có phải là minh chứng cho
thấy giá trị các tài ngun du lịch đã suy giảm?
Theo thống kê đầy đủ của sở du lịch Hà Tây, từ năm 1998 đến đầu năm
2003 trên tổng thể khu thắng cảnh Hương Sơn có gần 100 đền chùa lớn nhỏ
được xây dựng và chủ yếu do tư nhân tự bỏ tiền xây dựng với mục đích chính là
kinh doanh kiếm lời. Khi được phỏng vấn và trả lời về thực trạng trên, chủ tịch
UBND xã Hương Sơn cho biết: "Trong quy hoạch phát triển của xã đã trình lên
huyện và tỉnh, có xin phép cho xây dựng một số ngơi đền, chùa mới nhằm mục
đích phục vụ cho nhu cầu cúng lễ ngày càng tăng của dân ta. Tuy nhiên nhiều hộ
trong xã đã tự ý bỏ tiền xây dựng những ngơi đền nhỏ với mục đích kiếm lời
đang là một thực trạng nhức nhối khó kiểm sốt. Trong thời gian tới, được sự trợ
giúp của huyện, xã sẽ tổ chức kiểm tra những nơi làm ăn vi phạm và sẽ đóng
cửa các nơi đó".
Như vậy có thể thấy việc xây dựng tự ý của người dân nơi đây khơng theo
một quy hoạch tổng thể gây nên sự lộn xộn khi thăm quan các di tích và tài
ngun. Mặt khác việc xây dựng đó kéo theo hàng loạt các vấn đề nảy sinh làm
ảnh hưởng đến cảnh quan mơi trường nơi đây và việc giải quyết các vấn đề đó là
bài học lớn trong khâu quản lý xây dựng cho các ban ngành tại đây.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2.3. Sự xuống cấp của mơi trường
2.3.1. Sự ơ nhiễm nguồn nước
2.3.1.1. Biểu hiện
Nếu du khách một lần đến thăm chùa hương và du thuyền trên bến Đục,
có thể thấy những "vật thể lạ" nổi lềnh bềnh trên sơng. Đó có thể là: túi nilon,
chai nước, đồ ăn… và có cảm giác bất an nếu muốn dùng nước trên sơng.
Hàng năm sau mỗi vụ lễ hội, chính quyền nơi đây khơng có biện pháp xử
lý các chất thải "nổi đó". Vì vậy qua từng năm, lượng rác thải đó ngày càng
nhiều và một số lượng lớn bị chìm xuống lòng bến Đục và thực sự bến Đục giờ
đây đã đục thật.
Mặt khác, theo số liệu thống kê của Sở Khoa học cơng nghệ - mơi trường
Hà Tây, số lượng sinh vật tại các dòng sơng, dòng suối nằm trong phạm vi xã
Hương Sơn đã giảm từ 85 lồi (năm 1996) xuống 4 lồi (năm 2002). Cũng theo
cuộc khảo sát đó cho thấy nồng độ các chất thải trong nước đến thời điểm đó
chưa vượt q tiêu chuẩn cho phép nhưng cũng khơng thể dùng cho các sinh
hoạt hàng ngày của người dân và nếu cứ tiếp tục để tình trạng ơ nhiêm đó kéo
dài, trong một tương lai khơng xa nguồn nước ở nơi đây sẽ khơng còn giá trị sử
dụng nữa.
2.3.1.2. Ngun nhân
Thứ nhất, có thể thấy rõ những chất thải đó phần lớn do khách du lịch
hoặc là cố tình hoặc là vơ ý hoặc do chưa có sự bố trí hợp lý các thùng bỏ rác
nên dẫn đến việc vứt rác bừa bãi gây ơ nhiễm nguồn nước.
Thứ hai, do các dịch vụ ăn uống, sinh hoạt phục vụ nhu cầu khách du lịch
rất lớn, lượng phế thải từ q trình phục vụ đó khơng được xử lý đúng nơi, đúng
chỗ và cũng do sự nhận thức của người dân còn kém cho nên đó cũng là nhân tố
gây ơ nhiễm nguồn nước nơi đây.
Thứ ba, lưu lượng thuyền bè đi lại phục vụ du khách rất lớn và do đặc
điểm địa hình sơng nước nên việc quản lý là rất khó khăn. Việc mang rác thải
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
đúng nơi quy định chỉ còn phụ thuộc vào ý thức và nhận thức của du khách.
Thứ tư, q trình xây dựng các cơng trình, các hạng mục. Việc tơn tạo các
di tích cũng là ngun nhân gây lên tình trạng ơ nhiễm tại đây. Do đó để khắc
phục những tình trạng trên đòi hỏi cần có thời gian và giải pháp thích hợp.
2.3.1.3. Hậu quả
Nếu nói về hậu quả về lâu dài do sự ơ nhiễm nguồn nước gây ra thì khó
có thể lường hết được. Tuy nhiên có thể dễ dàng thấy được hậu quả trước mắt do
tác động của ơ nhiễm đó gây ra là rất lớn.
Trước hết gây nguy hại và ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc sống người
dân nơi đây. Khơng phải tất cả mọi người dân trong xã đều sống dựa vào 3
tháng lễ hội mà nghề chính của họ vẫn là sản xuất nơng nghiệp, nếu tình trạng ơ
nhiễm đó ngày một trầm trọng sẽ dẫn đến nguồn nước sử dụng cho việc tưới
tiêu, sinh hoạt bị ảnh hưởng. Điều đó là khơng hợp lý bởi như vậy chính là vì cái
lợi nhỏ mà qn đi cái lợi lớn.
Thứ hai, với sự phát triển của khoa học cơng nghệ trong tương lai, nếu
tình trạng đó khơng được khắc phục thì hiện chăng chùa Hương có còn là điểm
thu hút khách du lịch nữa hay khơng.
Thứ ba, hiện trạng ơ nhiễm hiện nay còn chưa đến mức q nghiêm trọng.
Nếu khơng giải quyết kịp thời, trong tương lai nguồn kinh phí phục vụ cho q
trình cải tạo có thể lớn gấp nhiều lần mà vẫn khơng mang lại hiệu quả như mong
muốn.
2.3.2. Sự ơ nhiễm khơng khí.
2.3.2.1. Thực trạng.
Theo thống kê và khảo sát vào tháng 4 năm 2004 của sở y tế Hà Tây, tỷ lệ
người làm việc thời gian dài trong mùa lễ hội tại chùa Hương có nguy cơ mắc
các bệnh về hơ hấp cao gấp 3 lần so với những người khác . Mặt khác cũng theo
cuộc khảo sát này cho thấy nồng độ khơng khí nơi đây trong những ngày cao
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
điểm của lễ hội cao gần đến tiêu chuẩn cho phép. Thực tế này phản ánh rằng
khơng khí nơi đây đã có dần hiện suy giảm và nguy cơ đó ngàycàng tăng.
Mặt khác, theo những nhận định của nhiều du kháh có dịp thăm quan vài
lần tại đây, nguồn khơng khí mỗi năm ngày càng xấu và khơng còn trong lành
như trước nữa. Điều đó cho phép khẳng định rằng chất lượng mơi trường tại đây
đã có dấu hiệu suy giảm bị tổn hại và khơng được trú trọng đúng mực.
2.3.2.2. Ngun nhân và hậu quả.
Thực tế cho thấy, q trình xử lý rác thải là một vấn đề vơ cùng quan
trọng trong khâu giải quyết vấn đề ơ nhiễm tại đây. Chính do sự phân bố rộng và
địa hình phức tạp nên lượng rác thải sau mỗi mùa lễ hội để xử l ý được là một
vấn đề rất khó khăn. Nếu trong những dịp chính hội, việc quản lý mơi trường
rất khó khăn cộng với nhiều chính sách về mơi trường tại đây chưa phát huy
hiệu quả dẫn đến tình trạng khơng khí bị ơ nhiễm nghiêm trọng thì mặt khác số
lượng rác thải đi lại khơng được xử lý dứt điểm vả cứ lớn dần mỗi năm và điều
tất yếu nguồn khơng khí bị ảnh hưởng và suy thối nghyiêm trọng.
Về hậu quả, sự ơ nhiễm khơng khi nơi đây khơng tác động trên diện rộng
như ơ nhiễm nguồn nước. Nhưng có thể thấy rõ nhấtm sự ơ nhiễm đó tác động
lớn đến sức khoẻ con người, về lâu dài sẽ giảm lượng du khách, xã hội phải mất
nguồn chi phí lớn để giải quyết hậu quả do sự tác động của q trình ơ nhiễm đó
đồng thời ảnh hưởng đến tiềm năng du lịch và tài ngun du lịch nơi đây.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2.4. Thực trạng hoạt động bảo vệ mơi trường của chính quyền và
nhân dân sở tại.
2.4.1. Hoạt động tun truyền giáo dục.
Đây là một hoạt động quan trọng trong việc nâng cao ý thức bảo vệ mơi
trường của người dân và du khách. Tuy nhiên nhìn chung chính quyền nơi đây
chưa thấy được tác dụng to lớn của hoạt động đó vì thực tế cho thấy rằng chỉ k
khi mùa lễ hội chính thức bắt đầu cơng tác tun truyền, giáo dục nói chung và
về mơi trường nói riêng mới bắt đầu hoạt động nhưng lại mang tính chất khơng
thường xun và trong phạm vi hẹp. Chính vì vậy trong thời gian tới để hoạt
động tun truyền giáo dục thực sự phát huy tác dụng cũng như nâng cao chất
lượng của cơng tác tun truyền, chính quyền sở tại cần nỗ lực hơn nữa trong
việc đổi mới cả nội dung lẫn hình thức trong hoạt động này.
2.4.2. Việc sử dụng ngân sách trong hoạt động bảo vệ mơi trường.
Hàng năm với hàng tỷ đồng hỗ trợ từ các tổ chức du lịch trong nước cộng
với số tiền thu được từ việc bàn về thăm quan, tiền bến bãi… là nguồn thu rất
lớn để có thể thực thi các dự án nhằm xây dựng việc bảo vệ mơi trường bền
vững. Nhưng dường như kinh phí phục vụ cho các hoạt động này còn ít hoặc là
việc sử dụng còn chưa đúng mục đích và chưa phát huy hiệu quả cao. Do đó
nắm bắt thực trạng trên các ban ngành chức năng cần có biện pháp tích cực hơn
nữa trong việc giúp cơ quan địa phương sử dụng nguồn kinh phí một cách hợp
lý tránh lãng phí và phát huy được hiệu quả cao nhất đúng như mong muốn.
2.4.3. Cơng tác kiểm tra, giám sát diễn biến sự thay đổi của mơi trường
còn lỏng lẻo.
Như trên đã nói, việc sử dụng khơng hợp lý trong việc chi cho các dự án,
các hoạt động liên quan đến cơng tác bảo vệ mơi trường. Vì vậy nguồn nhân lực
có chun mơn về vấn đề này còn rất ít và thiếu kinh nghiệm, cộng với địa hình
rộng và phức tạp làm cho việc kiểm tra, giám sát thường xun gặp rất nhiều
khó khăn. Trong năm 2004 đội ngũ này tuy có được tăng cường nhưng thực sự
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét