SV Sourn Sok Meng
để các nước phát triển và chiếm lấy các thị trường của các nước đang phát
triển. đầu tư nước ngoài là con đường ngăn nhất để được các nước đang phát
triển chấp thuận.
2. Một số thuyết về đầu tư nước ngoài.
2.1. Lý thuyết chu kỳ sống
Lý thuyết này giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng
hoạt động kinh doanh từ xuất khẩu sang thự
c hiện FDI. Lý thuyết cho rằng
đầu tiên các nhà sản xuất tại chính quốc đạt được lợi thế độc quyền xuất
khẩu nhờ việc cho giá đời những sản phẩm mới, sản xuất vẫn tiếp tục tập
trung tại chính quốc này cả chỉ khi phí sản xuất ở nước ngoài có thể thập
hơn. Trong thời kỳ này để xâm nhập thị trường nước ngoài thì các nước thự
c
hiện việc xuất khẩu hàng hoá. Tuỳ nhiên khi sản phẩm trở nên chuẩn hoá
trong thời kỷ tăng trưởng các nhà sản xuất khuyến khích đầu tư ra nước
ngoài nhằm tận dụng chi phí sản xuất thập và quan trọng hơn là ngăn chặn
khả năng để rời thị trường vào nhà sản xuất điạ phường.
2.2. Lý thuyết về quyền lợi thị trường.
Lý thuyết cho r
ằng FDI tồn tại do những hành vi đặc biệt của độc
quyền nhóm trên phạm vi quốc tế như phản ứng độc quyền nhóm, hiệu quả
kinh tế bên trong do quy mô sản xuất và sự liên kết đầu tư nước ngoài theo
chiều rộng. Tất cả những hành vi này đều nhằm hạn chế cạnh tranh mở rộng
thị trường và ngăn không cho đối thu khác xâm nhập vào ngành.
FDI theo chiều rộng tồn tại khi các công ty xâm nh
ập vào nước khác
và sản xuất các sản phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất
ngược trở lại và được sản xuất với tư cách là đầu vào cho sản xuất của chủ
nhà hay tiêu thụ những sản phẩm đã hoàn thành cho những người tiêu thụ
cuối cùng.
Theo thuyết này các công ty thực hiện FDI vì một số lý do: thứ nhất:
do nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng khan hiếm các công ty địa
phường không đủ kh
ả năng tham do khai thác. do vậy các MNC tranh thủ
SV Sourn Sok Meng
lợi thế cạnh tranh trên cơ sở khai thác nguyên liệu tại địa phương. điều đó
giải thích tại sao FDI theo chiều rộng được thực hiện ở các nước đang phát
triển. Thứ hai, thông qua các liên kết FDI dọc các công ty độc quyền nhóm
lập nên các hàng rào không cho các công ty khác tiếp cận tới những nguồn
nguyên liệu của chung. Thứ ba, FDI theo chiều rộng còn tạo ra lợi thế về chi
phí thông qua việc cải tiến kỷ thuậ
t bằng cách phối hợp sản xuất và chuyền
giao các sản phẩm giữa các công đoán khác nhau của quá trình sản xuất.
2.3. Lý thuyết về tính không hoàn hảo của thị trường
Lý thuyết này cho rằng khi xuất hiện trên thị trường cho hoạt động
kinh doanh kém hiệu quả đi các công ty thực hiện đầu tư trực tiếp nước
ngoài nhằm khuyên khích hoạt động kinh doanh và vượt qua yếu tố không
hoàn hảo đó. Có hai yếu tố không hoàn h
ảo của thị trường là rào cản thương
mại và kiến thực đặc biệt
- Các rào cản thương mại thuế và hạn ngạch…
- Kiến thực đặc biệt là chuyên môn kỹ thuật của các kỹ sư hay khả
năng tiếp thị đặc biệt của các nhà quản lí khi các kiến thực naỳ chỉ là chuyên
môn kỹ thuật thì các công ty có thể bán cho các công ty nước ngoài với một
giá nhất định để
họ có thể sản xuất sản phẩm tương tự. Những khi kiến thực
đó nằm trong con người thì giải pháp duy nhất để sử dụng cơ hội thị trường
tại nước ngoài là thực hiện FDI. Mặt khác nếu các công ty bán các kiến thực
đặc biệt cho nước ngoài thì họ lại sợ tạo ra đối thủ cạnh tranh trong tương
lai.
2.4. Lý thuyết chiết trung
Các công ty sẽ thực hiện FDI khi hộ t
ụ đủ ba lợi thế: địa điểm, sở
hữu, nội địa hoá
về địa điểm là các ưu thế có được do tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh tại một địa điểm nhất định những ưu thế về địa điểm có thể là các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động lãnh nghề và rể…
SV Sourn Sok Meng
Sở hữu là ưu thế cho một công ty có cơ hội tham gia sở hữu một số tài
sản nhất định như nhãn hiệu sản phẩm, kiến thức kỹ thuật hay cơ hội quản
lý…. Nội địa hóa là ưu thế đạt được cho việc nội hoá hoạt động sản xuất
thay vì chuyển nó đến một thị trường kém hiệu quả hơn.
Thuyết này khẳng
định rằng khi hội tụ đầy đủ các lợi thế trên, các
công ty sẽ thực hiện FDI.
II. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA FDI
1. Khái niệm FDI
Các quan điểm và định nghĩa về FDI được đưa ra tuỳ gốc độ nhìn
nhất của các nhà kinh tế nên rất phòng phù và đa dạng. qua đó, ta có thể rút
ra một định nghiã chung nhất như sau .
FDI là loại hình kinh doanh mà nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn, tự thiết
lập các cơ sở sản xuất kinh doanh cho riêng mình, đứng chủ sở hữu, tự quản
lí, khái thác hoặc thuế người quản lí, khai thác c
ơ sở này, hoặc hợp tác với
đối tác nước sở tại thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh và tham gia quản lí,
cũng với đối tác nước sở tại chia sẻ lợi nhuận và rủi ro.
2. Nguồn gốc và Bản chất của FDI
FDI là đời muộn hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác vài ba thập
kỷ những FDI nhanh chóng xác lập vị trí của mình trong quan hệ kinh tế
quốc t
ế. FDI trở thành một xu thế tất yếu của lịch sử, một nhu cầu không thể
thiếu của mọi nước trên thế giới kể cả những nước đang phát triển, những
nước công nghiệp mới hay những nước trong khối OPEC và những nước
phát triển cao.
Bản chất của FDI là:
- Có sự thiết lập về quyền sở hữu về tư bản của công ty m
ột nước ở
một nước khác
- Có sự kết hợp quyền sở hữu với quyền quản lí các nguồn vốn đã
được đầu tư
- Có kèm theo quyền chuyên giao công nghệ và kỹ năng quản lí
SV Sourn Sok Meng
-
-
-
C
C
C
ó
ó
ó
l
l
l
i
i
i
ê
ê
ê
n
n
n
q
q
q
u
u
u
a
a
a
n
n
n
đ
đ
đ
ế
ế
ế
n
n
n
v
v
v
i
i
i
ệ
ệ
ệ
c
c
c
m
m
m
ở
ở
ở
r
r
r
ộ
ộ
ộ
n
n
n
g
g
g
t
t
t
h
h
h
ị
ị
ị
t
t
t
r
r
r
ư
ư
ư
ờ
ờ
ờ
n
n
n
g
g
g
c
c
c
ủ
ủ
ủ
a
a
a
c
c
c
á
á
á
c
c
c
c
c
c
ô
ô
ô
n
n
n
g
g
g
t
t
t
y
y
y
đ
đ
đ
a
a
a
q
q
q
u
u
u
ố
ố
ố
c
c
c
g
g
g
i
i
i
a
a
a
- Gắn liên với sự phát triển của thị trường tài chính quốc tế và thương
mại quốc tế
3. Vai trò của FDI
Hoạt động FDI có tình hai mặt với nước đầu tư cũng như nước tiếp
nhận đầu tư đều có tác động tiêu cực và tác động tích cực.
Trước hết đối với nước đi đầu tư( nước ch
ủ nhà) FDI có vai trò chủ
yếu sau:
Tác động tích cực
Do đầu tư là người nước ngoài là người trực tiếp điều hành và quản lí
vốn nên họ có trách nhiệm cao, thường đưa ra những quyết định có lợi cho
họ. Vì thế họ có đảm bảo hiệu quả của vốn FDI. đầu tư nước ngoài mở rộng
được thị trường tiêu thị sản phẩm nguyên liệu, cả công nghệ và thi
ết bị
trong khu vực mà họ đâù tư cũng như trên thế giới. Do khai thác được
nguồn tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ, thị trường tiêu thụ rộng lớn nên
có thể mở rộng quy mô, khai thác được lợi thế kinh tế của quy mô từ đó có
thể nâng cao năng suất, giảm giá thành sản phẩm. Tránh được các hàng rào
bảo hộ mâu dịch và phí mậu dịch của nước tiếp nhận đầu tư với thông qua
FDI chủ đầu tư hay doanh nghiệp nước ngoài xây dựng được các doanh
nghiệp của mình nằm trong lòng nước thì hành chính sách bảo hộ.
Tác động tiêu cực.
Khi các doanh nghiệp thực hiện việc đầu tư ra nước ngoài thì trong
nứơc sẽ mất đi khoản vốn đầu tư, khó khăn hơn trong việc tìm nguồn vốn
phát triển cũng như giải quyết việc làm. do đó trong nước có thể dẫn tới
nguy c
ơ suy thoái, vì thế mà nước chủ nhà không đưa ra những chính sách
khuyên khích cho việc đầu tư ra nước ngoài. đâù tư ra nước ngoài thì doanh
nghiệp sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn trong môi trường mới về chính
trị, sự xung đột vũ trang của các tổ chức trong các quốc gia hay những tranh
chấp nội bộ của quốc gia hay đơn thuần chỉ là sự thay đổi trong chính sách
SV Sourn Sok Meng
và pháp luật của quốc gia tiếp nhận… tất cả những điều đó đều khiến cho
các doanh nghiệp có thể rời vào tình trạng mất tài sản cơ sở hạ tầng. Do vậy
mà họ thường phải đầu tư vào các nước ổn định về chính trị cũng như trong
chính sách và môi trường kinh tế.
Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì hoạt động FDI có tác độ
ng:
Tác động tích cực.
- Nhờ nguồn vốn FDI đầu tư mà có thể có điều khiến tốt để khai thác
tốt nhất các lợi thế về tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lí. Bởi các nước tiếp
nhận thì thường là nước đang phát triển có tài nguyên song không biệt cách
khai thác.
- Tạo điều kiện để khai thác được nguồn vốn từ bên ngoài do không
quy định mức vốn góp tối đa mà chỉ quyết đị
nh mức vốn góp tối thiểu cho
nhà đầu tư.
- Thông qua việc hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài hay cạnh tranh
với doanh nghiệp nước ngoài và tiếp thu được kỹ thuật công nghệ hiện đại
hay tiếp thu được kính nghiệm quản lí kinh doanh của họ.
- Tạo điều kiện để tạo việc làm, tăng tốc độ tăng trưởng của đối tượng
bỏ vốn cũng như t
ăng kim ngạch xuất khẩu và tăng trưởng kinh tế, qua đó
nâng cao đời sống nhân dân.
- Khuyến khích doanh nghiêp trong nước tăng năng lực kinh doanh,
cải tiến công nghệ mới nâng cao năng suất chất lượng giảm giá thành sản
phẩm do phải cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài, một mặt khác thông
qua hợp tác với nước ngoài có thể mở rộng thị trường thông qua tiếp cận với
bạn hàng của đối tác đ
âù tư.
Tác động tiêu cực
- Nếu không có quy hoạch cụ thể và khoa học, có thể đầu tư tràn lan
kém hiệu qua, tài nguyên thiên nhiên có thể bị khai táhc bừa bại về sẽ gây ra
ô nhiễm môi trường nghiệm trọng
SV Sourn Sok Meng
- Môi trường chính trị trong nước có thể bị ảnh hưởng, các chính sách
trong nước có thể bị thay đổi do khi đầu tư vào thì các nhà đầu tư thường có
các biện pháp vận động quan chức địa phường theo hướng có lợi cho mình.
- Hiệu quả của đầu tư phụ thuộc vào nước tiếp nhận có thể tiếp nhận
từ các nước đi đầu tư những công nghệ thiết bị lạc hậu không phù h
ợp với
nền kinh tế gây ô nhiễm môi trường.
- Các lĩnh vực và địa ban đầu tư phục thuộc vào sự lựa chọn của nhà
đầu tư nước ngoài mà không theo ý muốn của nước tiếp nhận. Do vậy việc
bổ trí cơ cấu đầu tư sẽ gặp khó khắn sẽ tạo ra sự phát triển mất cân đối giữa
các vùng.
- Giảm số lượng doanh nghiệp trong nước do quá trình cạnh tranh nên
nhiều doanh nghiệp trong nước bị phá sản. hay ảnh hưởng tới can cần thành
toán quốc tế do sự di chuyển của các luồng vốn cũng như luồng hàng hoá ra
vào trong nước.
- Ngày này hầu hết việc đàu tư là của các công ty đa quốc gia vì thế
các nước tiếp nhận thường bị thua thiệt, thất thu thuế hay các liên doanh sẽ
phải chuyển thành doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do các vấn đề
chuyển nhượng giá n
ội bộ của các công ty này.
4. Địa điểm của FDI
Các chủ đầu tư thực hiện đầu tư trên nước sở tác phải tuần thu pháp
luật của nước đó.
- Hình thực này thường mang tình khả thi và hiệu quả kinh tế cao
- Tỷ lệ vốn quy định vốn phân chia quyền lợi và ngiã vụ các chủ đầu tư
- Thu nhập chủ đầu tư phục thuộc vào kết quả kinh doanh
- Hi
ện tượng đa cực và đa biến trong FDI là hiện tượng đặc thù,
không chỉ gồm nhiều bên với tỷ lệ góp vốn khác nhau mà còn các hình thực
khác nhau của tư bản tư nhân và tư bản nhà nưóc cũng tham gia.
SV Sourn Sok Meng
- Tồn tại hiện tượng hai chiều trong FDI một nước vừa nhận đầu tư
vừa thực hiện đầu tư ra nước ngoài nhằm tận dụng lợi thế so sanh giữa các
nước
-Do nhà đầu tư muốn đầu tư vào thì phải tuần thu các quyết định của
nứơc sở tại thì nên vốn tỷ lệ vốn tối thiểu của nhà đầu vào vốn pháp định
củ
a dự án là do luật đầu tư của mỗi nước quyết định. Cămpuchia quyết định
là 40% trong khi ở Mỹ lại quyết định lại Quy định 10% và một số nước khác
lại là 20%.
- Các nhà đầu tư là nguồn bỏ vốn và đóng thời tự mình trực tiếp quản
lý và điều hành dự án. quyền quản lí phục thuộc vào vốn đóng góp mà chủ
đầu tư đã góp trong vốn pháp
định của dự án. nếu doanh nghiệp 100% vốn
nước ngoài thì họ có toà quyền quyết định
- Kết quả thu được từ dự án được phân chia cho các bên theo tỷ lệ vốn
góp vào vốn pháp định sau khi đã nộp thuế cho nước sở tại và trả lợi tức cổ
phần cho các cổ đồng nếu là công ty cổ phần.
- FDI thường được thực hiện thông qua việc xây dựng mới hay mua
lại một phầ
n hoặc toàn bộ doanh nghiệp đang hoạt động, thông qua việc
mua cổ phiếu để thông tin xác nhận
5. Các lý luận khác về FDI
5.1. Lý luận về chu kỳ sản phẩm
Lý luận này đề cập tới chu kỳ phát triển của chu kỳ tuổi thọ của sản
phẩm quyết định các doanh nghiệp phải đầu tư ra ngoài để chiếm lĩnh thị
trường ra nước ngoài. Lý thuyết này được RAYMOND VERNON xây dựng
nă
m 1966, nhấn mạnh về vòng đời của một sản phẩm bao gồm 3 thời kỷ:
thời kỷ sản phẩm mới, thời kỷ sản phẩm hoàn thiện, thời kỷ sản phẩm tiêu
chuẩn hay chính muối. Lý thuyết này chỉ ra rằng chỉ được thực hiện khi sản
phẩm bước sang thời kỷ chuẩn hoá và chi phsi sản xuất là yếu tố quyết định
khi cạnh tranh.
SV Sourn Sok Meng
Lý luận trên này vạch ra sự khác nhau về tầm quan trọng của các yếu
tố sản xuất trong các giai đoạn phát triển sản phẩm, là cái làm này nảy sinh
quy luật chiến dịch lợi thế
5.2. Quyết cầu thành hữu cơ của đầu tư
Cạnh tranh thị trường đang được mở rộng, tiền đề sống của xí nghiệp
là phải tiếp tụ tăng trưởng, đầu tư
ra nước ngoài nhằm bảo vệ vị trí của mình
trên thị trường ngày càng mở rộng. xét dưới gốc độ của quy luật đầu tư,
muốn duy trì năng lực thu lời của đầu tư thì phải tiến hành đầu tư mới nêú
không thì thu lao của đầu tư sẽ giảm, các nhà đầu sẽ đầu tư ra nước ngoài
với mục đích ngắn ngừa đối thu cạnh tranh chiếm lĩnh th
ị trường.
SV Sourn Sok Meng
5.3. Lý luận về phân tán rủi ro
H.M. Markawitey cho rằng sự lựa chọn đầu tư có hiệu quả là đầu tư
đa dạng hoá sản phẩm, tức là phần tán hoá, mức bù trừ thù lao giữa các hạng
mục đầu tư thấp hoặc ấm sẽ có thể khiến cho thù lao dự kiến lớn giá trị của
biến độ về thù lao.
Đa dạng hoá làm cho sản phẩm có sự khác biệt, sự khác biệt theo
chi
ều ngang, sự khác biệt theo chiều rộng có thể phân tán rủi ro
III. XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA FDI
1. FDI tăng nhanh và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tỷ trọng
vốn đầu tư.
Tổng lưu chuyển vốn quốc tế ngày càng tăng nhanh trong những năm
gần đây khoảng 20 đến 30% một năm. điều đó cho thâý xu thế quốc tế hoá
đời sống ngày càng phát triển mạnh, các nước đều phục thuộc lẫn nhau và
tham gia tích cực vào quá trình phân công lao động quốc tế. Những năm
1970, vốn FDI thế
giới hàng năm tăng 25 tỷ đo la mỹ, đến những năm 1980
đến 1985 lượng vốn FDI thế giới hàng năm tăng 50 tỷ USD năm 1988 lượng
vốn FDI thế giới là 158 tỷ USD chung nhưng năm 1990 đến 1993 lượng vốn
FDI thế giới không ngừng tăng va dừng ở mức dưới 200 tỷ USD đến năm
1994 vốn FDI thế giới tăng 226 tỷ USD năm 1995 còn số đó là 235 USD
đến nă
m 1998 vốn FDI của toàn thế giới lên tới 4000 tỷ USD tăng 20 % với
năm 1997 và cho đến hết năm 2002 lượng FDI của thế giới là 4500 tỷ USD
điều đó chứng tỏ hoạt động FDI ngày càng đựoc nhiều nước tiến hành.
Hướng phát triển FDI: Từ sau chiến tranh thế giới thứ 2 vốn FDI chủ
yếu đổ vào các nước châu Âu bởi đầu tư thời đó mạnh nhất là Mỹ, các công
ty c
ủa Mỹ thực hiện theo kế hoạch MARSHAL để thúc đẩy nền kinh tế của
các nước đồng mình. Thời kỷ sau đó khi nền kinh tế tây âu và nhật bản phục
hồi, thế giới hình thành ba trung tâm Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản, FDI chủ yếu
được thực hiện trong các nước công nghiệp nhằm củng cố tiềm lực của
SV Sourn Sok Meng
mình. Những năm 50 do suy thoái rộng khắp trong giới tư bản thì FDI có xu
hướng chuyển sang các nước đang phát triển.
Bảng 1: Đầu tư trục tiếp nước ngoài trên thế giới
Nhóm nước 1986 1987 1988 1989 1990 1991 1992
Tổng số 78 133 159 195 184 194 226
Nước CNPT 64 108 129 165 152 114 142
Nứơc ĐPT 14 25 30 30 52 80 84
Nguồn: World Investment Report, UN, New york
Nguyên nhân của sự chuyển hướng này là vì:
- Suy thoái kinh tế có tình chu kỷ, sự tự tụt giảm lãi suất và lợi nhuận
của nước phát triển để đạt được lợi nhuận cao buộc các nhà đầu tư phải tìm
địa ban mới đó là thị trường của các nước đang phát triển.
- Xu hướng toàn cầu hoá và đa dạng hoá ảnh hưởng lâu dài tới sự
chuyển hướng đầu tư
vì nhiệm độ tăng nhanh như hiện này thì các nước
đang phát triển chiếm tỷ trọng lớn trong sản xuất và thương mại quốc tế, đó
là nơi thu hút FDI hấp dẫn. Mặt khác khi việc cải cách mạnh mẽ thị trường
tài chính của cả nước phát triển lẫn các nứơc đang phát triển dẫn tới sự cạnh
tranh gay gặt trong thu hút FDI.
- Tác động của quốc cách mạng khoa học kỹ thu
ật khiến các nứơc
công nghiệp phải thường xuyên thay thế may móc thiết bị lạc hậu để làm
được điều này họ phải tìm được nơi để chuyển giao các công nghệ, đó là các
nứơc đang phát triển các nước công nghiệp lại thu được giá trị mới.
- Thế giới xuất hiện nhiều vấn đề mà một mình các nước công nghiệp
không thể giải quyết hết vì thế cần phả
i hợp tác với các nước đang phát
triển.
- Các nước đang phát triển đạt được những thanh tưu to lớn, về kinh
tế, đảm bảo môi trường vĩ mô và cải thiệt môi trường đầu tư thuận lợi, tham
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét