Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẨN MAY XUẤT KHẨU VIỆT THÁI

Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
5
Bảng 2.4. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh 54
Bảng 2.5. So sánh tốc độ tăng trưởng doanh thu 55
và lợi nhuận qua các năm 55
2.2. Thực trạng về năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần may
xuất khẩu Việt Thái trong hoạt động xuất khẩu hàng may mặc 55
2.2.1. Nguồn lực trong công ty

56
2.2.1.1. Nguồn vốn và tiềm lực tài chính 56
Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu tài chính trong công ty 56
Bảng 2.7. So sánh một số chỉ tiêu của công ty 58
so với đối thủ cạnh tranh 58
2.2.1.2. Nguồn nhân lực 58
2.2.1.3. Trình độ Công nghệ sản xuất 60
2.2.2. Tổ chức quản lý và điều hành sản xuất của công ty

61
2.2.3. Chất lượng sản phẩm của công ty

62
2.2.4. Năng suất lao động trong công ty

63
Bảng 2.8. Năng suất lao động của công ty CP may XK Việt Thái
63
2.2.5. Hoạt động nghiên cứu thị trường, Marketing, dịch vụ khách
hàng

64
2.3. Những giải pháp công ty đã thực hiện để nâng cao năng lực cạnh
tranh 65
2.3.1. Xây dựng thương hiệu VITEXCO, quảng bá hình ảnh công ty
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
6

65
2.3.2. Xây dựng hệ thống thị trường

66
2.3.3. Công tác tổ chức quản lý và điều hành sản xuất

66
2.4. Đánh giá khả năng cạnh tranh của công ty 67
2.4.1. Đánh giá những mặt đạt được

67
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế

69
2.4.3. Nguyên nhân của những tồn tại hạn chế

71
2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan 71
2.4.3.2. Nguyên nhân xuất phát từ phía công ty 72
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của
Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt Thái 73
3.1. Phương hướng mục tiêu của công ty trong thời gian tới 73
3.1.1. Phương hướng phát triển

73
3.1.2. Mục tiêu 74
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ
phần may xuất khẩu Việt Thái 75
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
7
3.2.1. Giải pháp từ phía công ty

75
3.2.1.1. Giải pháp về mặt tổ chức quản lý và nguồn nhân lực 75
3.2.1.2. Giải pháp nâng liên quan tới sản phẩm 77
3.2.1.3. Giải pháp liên quan tới công nghệ áp dụng 78
3.2.1.4. Mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu 80
3.2.2. Các kiến nghị

81
3.2.2.1. Kiến nghị đối với nhà nước 81
3.2.2.2. Kiến nghị với hiệp hội dệt may Việt Nam 83
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
LỜI NÓI ĐẦU
1. Ý nghĩa chọn đề tài
Xu hướng toàn cầu hoá, quốc tế hoá đã và đang diễn ra diễn ra có tác
động mạnh mẽ tới các tất cả quốc gia. Hoà cùng xu thế ấy, Việt Nam đang
chuyển mình tiến bước để bắt kịp với đà phát triển chung của thế giới, dành
hết nỗ lực cho việc sản xuất và xuất khẩu mặt hàng chủ lực của nước nhà,
khẳng định vị thế ở thị trường nước ngoài. Với mục tiêu đẩy mạnh công
nghiệp hoá hiện đại hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từng bước hội nhập vào
nền kinh tế thế giới, hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ bó hẹp trong
phạm vi một nước mà có sự liên kết trao đổi với nhau. Mở rộng họat động
kinh doanh sang thị trường nước ngoài là điều hết sức cần thiết trong bối cảnh
hội nhập hiện nay, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự tồn tại và
phát triển của các doanh nghiệp đặc biệt là các doanh nghiệp trong ngành dệt
may- một ngành có tốc độ phát triển nhanh chóng chiếm tỷ trọng lớn trong
kim ngạch xuất khẩu của nước nhà. Các doanh nghiệp dệt may phải đối mặt
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
8
với sự cạnh tranh gay gắt khốc liệt. Để đứng vững trên thị trường và trong
công cuộc chạy đua này, nắm bắt đúng thời cơ nâng cao năng lực cạnh là
nhân tố hết sức quan trọng giúp doanh nghiệp thành công.
Công ty Cổ phần may xuất khẩu Việt Thái trực thuộc Công ty xuất
nhập khẩu Thái Bình là một doanh nghiệp trẻ đã có hướng đi mạnh dạn về sản
phẩm và thị trường tiêu thụ. Những năm gần đây công ty đã không ngừng vận
động nâng cao chất lượng sản phẩm và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng
may mặc ra trường nước ngoài, xứng đáng là ngành may mặc hàng đầu của
tỉnh. Để nâng cao vị thế, cạnh tranh được với các doanh nghiệp dệt may trong
và ngoài nước công ty cổ phần may Việt Thái cần có chiến lược cạnh tranh
cùng các công cụ biện pháp thích hợp. Xuất phát từ tầm quan trọng của cạnh
tranh với các doanh nghiệp cùng với quá trình tìm hiểu thực tế trong thời gian
thực tập tôi đã chọn đề tài:
“ Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần may xuất khẩu Việt
Thái”
2. Mục tiêu của đề tài
Tập trung phân tích năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần may xuất
khẩu Việt Thái và chỉ ra những mặt đạt được cũng như hạn chế. Trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu năng lực cạnh năng lực cạnh tranh của Việt Thái từ năm
2004 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện chuyên đề thực tập này tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu: Thu thập số liệu, thông tin từ nguồn thông tin thứ cấp, phân tích
tổng hợp các báo cáo của công ty kết hợp với tham khảo thông tin từ sách,
báo, internet, thực hiện phỏng vấn một số cán bộ thuộc phòng kế hoạch xuất
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
9
nhập khẩu và phương pháp xử lý dữ liệu thu được thông qua việc đánh giá
các chỉ tiêu, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, dự báo.
Sử dụng các công cụ phân tích môi trường kinh doanh như:
PEST: Để thấy được cơ hội cũng như thách thức đối với doanh nghiệp,
giúp doanh nghiệp không bị động, phản ứng linh hoạt với sư thay đổi của môi
trường, tận dụng cơ hội, hạn chế thách thức để có thể phát triển bền vững.
Mô hình năm lực lượng của Michael Porter: Xác định mức độ cạnh
tranh trong ngành.
Chuỗi giá trị: Phân tích các hoạt động tạo giá trị cho doanh nghiệp để
từ có xác định điểm mạnh, điểm yếu cũng như lợi thế của doanh nghiệp qua
đó phát huy điểmt mạnh và tìm biện pháp hạn chế điểm yếu, nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh.
5. Kết cấu chuyên đề thực tập
Gồm 3 chương.
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp xuất khẩu.
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần may
xuất khẩu Việt Thái.
Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của công ty cổ
phần may xuất khẩu Việt Thái.
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
10
Chương 1: Lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp xuất khẩu
1.1. Một số khái niệm cơ bản
Khái niệm cạnh tranh
Khái niệm cạnh tranh ra đời khi nền kinh tế thị trường xuất hiện. Trong lịch
sử phát triển của nền kinh tế thế giới đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về
cạnh tranh:
Các nhà kinh tế học thuộc trường phái cổ điển cho rằng cạnh tranh là
quá trình bao gồm các hành vi phản ứng. Quá trình này tạo ra trong mỗi thành
viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi
thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình.
Cạnh tranh theo hàm nghĩa kinh tế học học là chỉ quá trình tranh đấu
tiến hành không ngừng giữa các chủ thể kinh tế trong thị trường nhằm thực
hiện lợi ích kinh tế và mục tiêu đã định của bản thân. Động lực nội tại của
cạnh tranh là lợi ích kinh tế của tự thân chủ kinh tế, biểu hiện cụ thể trong quá
trình cạnh tranh là giữ hoặc mở rộng mức chiếm hữu thị trường, gia tăng mức
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
11
tiêu thụ, nâng cao lợi nhuận. Áp lực bên ngoài của cạnh tranh là đọ sức kịch
liệt giữa các đối thủ cạnh tranh, kẻ bại tất sẽ bị đào thải.
Từ điển kinh doanh của Anh (xuất bản năm 1992: Cạnh tranh được
xem là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường
nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoậc cùng một loại khách
hàng về phía mình.
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Cạnh tranh là hoạt động
tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà
kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu,
nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Cạnh tranh buộc những người sản xuất và buôn bán phải cải tiến kĩ
thuật, tổ chức quản lí để tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng hàng
hoá, thay đổi mẫu mã, bao bì phù hợp với thị hiếu của khách hàng; giữ tín
nhiệm; cải tiến nghiệp vụ thương mại và dịch vụ, giảm giá thành, giữ ổn định
hay giảm giá bán và tăng doanh lợi.
Như vậy qua các khái niệm đã nêu ở trên ta có thể hiểu một cách đầy
đủ: Cạnh tranh là quá trình kinh tế mà trong đó các chủ thể kinh tế ganh
đua nhau, tìm mọi biện pháp cả nghệ thuật kinh doanh lẫn thủ đoạn để đạt
được mục tiêu kinh tế của mình như chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách
hàng cũng như đảm bảo tiêu thụ có lợi nhất nhằm nâng cao vị thế của
mình.
Có thể nói rằng ở đâu có lợi ích kinh tế thì ở đó có cạnh tranh. Mục
đích cuối cùng của cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích: đối với các doanh nghiệp
là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng.
Nhà nước khuyến khích sự cạnh tranh giữa các chủ thể sản xuất kinh
doanh nhằm đẩy nhanh tiến bộ khoa học - kĩ thuật và công nghệ, nâng cao
năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, giảm giá thành, trên cơ sở đó,
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
12
tăng lợi nhuận cho người sản xuất, kinh doanh giỏi, đồng thời có lợi cho
người tiêu dùng và toàn xã hội, nhưng chỉ thừa nhận sự cạnh tranh trong
khuôn khổ pháp luật, chống những hoạt động phạm pháp đẻ ra những hệ quả
tiêu cực trong xã hội (không làm hàng giả, buôn lậu, trốn thuế, đầu cơ tích trữ,
độc quyền, lừa dối…)
Khái niệm năng lực cạnh tranh
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OECD) thì năng lực cạnh
tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo
ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế.
KN theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Năng lực cạnh tranh là
khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành
thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh
tranh trên thị trường tiêu thụ.
Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh khi doanh nghiệp
đó có thể đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là thực lực và lợi thế mà doanh
nghiệp có thể huy động để duy trì và cải thiện vị trí của nó đối với các doanh
nghiệp khác trên thị trường một cách lâu dài và có ý chí nhằm thu được lợi
ích ngày càng cao.
Theo Humbert Lesca NLCT của DN là khả năng, năng lực mà doanh
nghiệp có thể tự duy trì lâu dài một cách có ý chí trên thị trường cạnh tranh và
tiến triển bằng cách thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất cũng đủ để trang trải
cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp.
Hoặc NLCT của doanh nghiệp còn được định nghĩa là khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nhằm đáp ứng và chống lại các đối thủ cạnh tranh
trong việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ một cách lâu dài nhất.
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
13
Những định nghĩa trên cho thấy, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
trước hết phải được tạo ra từ khả năng, thực lực của doanh nghiệp. Một doanh
nghiệp được coi là có NLCT khi doanh nghiệp đó dám chấp nhận việc giành
những điều kiện thuận tiện có lợi cho chính doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần
phải có tiềm lực đủ mạnh để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp dựa trên nhiều yếu tố như: giá
trị sử dụng và chất lượng sản phẩm cao, điều kiện sản xuất ổn định do sản
xuất dựa chủ yếu trên cơ sở kĩ thuật hiện đại, công nghệ tiên tiến, quy mô sản
xuất lớn và nhờ đó giá thành và giá cả sản phẩm hạ; Các yếu tố xã hội như
giữ được tín nhiệm (chữ tín) trên thị trường, việc tuyên truyền, hướng dẫn
tiêu dùng, quảng cáo cũng có ảnh hưởng quan trọng hiện nay các nhà sản xuất
còn sử dụng một số hình thức như bán hàng trả tiền dần (trả góp) để kích
thích tiêu dùng, trên cơ sở đó tăng năng lực cạnh tranh.
Tuy nhiên, để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thì không
chỉ đơn thuần đánh giá các yếu tố thuộc bản thân doanh nghiệp mà điều quan
trọng là phải đánh giá, so sánh với các đối tác cạnh tranh hoạt động trên cùng
một lĩnh vực, cùng một thị trường. Trên cơ sở các so sánh đó, muốn tạo nên
năng lực cạnh tranh, đòi hỏi doanh nghiệp phải tạo lập được lợi thế so sánh
với đối tác của mình. Nhờ lợi thế này, doanh nghiệp có thể thoả mãn tốt hơn
các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của
đối thủ cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố
môi trường kinh doanh và sự biến động khôn lường của nó, cùng một sự thay
đổi của môi trường kinh doanh có thể là cơ hội phát triển cho doanh nghiệp
này cũng có thể là nguy cơ phá sản các doanh nghiệp khác.
Doanh nghiệp xuất khẩu hoạt động kinh doanh trong một phạm vi rộng
lớn hơn các doanh nghiệp chỉ kinh doanh trong nước, chịu ảnh hưởng của rất
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
14
nhiều quy định của các thị trường khác nhau. Nhờ có được khả năng vượt trội
so với các doanh nghiệp khác trong việc cung ứng sản phẩm, dịch vụ của
doanh nghiệp mình phục vụ nhu cầu tiêu thụ tại thị trường nước ngoài hoặc
cho khách hàng nước ngoài tại nước mình (xuất khẩu tại chỗ) mà doanh
nghiệp xuấu khẩu dành được thị phần tiêu thụ ngày một lớn, tăng thu nguồn
thu ngoại tệ.
1.2. Các cấp độ của năng lực cạnh tranh
Năng lực cạnh tranh chia làm bốn cấp độ có liên quan mật thiết, phụ
thuộc lẫn nhau:
Năng lực cạnh tranh cấp độ quốc gia
Theo Diễn đàn kinh tế thế giới(WEF) thì năng lực cạnh tranh quốc gia
là khả năng của nền kinh tế quốc dân đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao
trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương đối
vững chắc.
Theo báo cáo về năng lực cạnh tranh toàn cầu, năng lực cạnh tranh
quốc gia được định nghĩa là khả năng nước đó đạt được những thành quả
nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tăng trưởng kinh tế
cao, được xác định bằng thay đổi của GDP đầu người theo thời gian.
Theo uỷ ban công nghiệp Mỹ, năng lực cạnh tranh quốc gia là mức độ
mà ở đó dưới các điều kiện thị trường tự do và công bằng, có thể sản xuất
được các hàng hoá và dịch vụ đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường quốc
tế, đồng thời duy trì và mở rộng được thu nhập thực tế của người dân nước
đó.
Như vậy các định nghĩa về năng lực cạnh tranh quốc gia đều nhấn
mạnh đến khía cạnh tăng trưởng kinh tế quốc gia có sự bền vững, ổn định của
nền kinh tế, nâng cao được thu nhập đời sống của dân cư nước đó.
SVTH: Đỗ Thị Thuý Hường Lớp KDQT 46A

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét