về tín dụng giữa bên đồng tài trợ và bên nhận tài trợ đều đợc thực hiện thông
qua tổ chức tín dụng làm đầu mối.
- Bên nhận tài trợ: Thờng là một pháp nhân hoặc cá nhân có nhu cầu vay
vốn đầu t cho dự án.
1 Tín dụng trực tiếp
Đây là hình thức tín dụng trung- dài hạn phổ biến trong nền kinh tế thị tr-
ờng. NHTM tiến hành mọi hoạt động và tự chịu trách nhiệm đối với từng dự án
đầu t của khách hàng mà họ đã lựa chọn để tài trợ. Thực tế cho thấy việc lựa
chọn dự án tốt là yếu tố quyết định nhất của hình thức tín dụng này.
1 Tín dụng tuần hoàn
Tín dụng tuần hoàn đợc coi là tín dụng trung- dài hạn khi thời hạn của hợp
đồng đợc kéo dài từ một đến vài năm và ngời vay rút tiền ra khi cần và đợc trả
nợ khi có nguồn, trong thời gian hợp đồng có hiệu lực.
Trong các DN cổ phần khi có nhu cầu về vốn trung- dài hạn, DN có thể ra
tăng việc phát hành cổ phiếu, nhng cũng có thể vay NH dới hình thức tín dụng
tuần hoàn, sau đó sử dụng phần lợi nhuận tính trả cho cổ đông để trả nợ, đồng
thời tăng vốn góp của cổ đông lên.
Thực chất đây là một hình thức cải biến cơ cấu tài chính của DN, chuyển
nợ vay NH thành vốn trung- dài hạn.
DN vay vốn cũng có thể yêu cầu NH chuyển tín dụng tuần hoàn thành tín
dụng trung- dài hạn và thậm chí có thể ra hạn kéo dài nhiều năm với điều kiện
có tài khoản đảm bảo cho khoản vay một cách chắc chắn. Việc chuyển đổi này
thờng đợc diễn ra vào cuối giai đoạn của hợp đồng và điều đó còn phụ thuộc
vào mức độ thực hiện hợp đồng và tình hình tài chính của khách hàng vay vốn.
0 Tín dụng thuê mua- dịch vụ thuê mua
Tín dụng cho thuê là một kiểu cho thuê tài sản để sử dụng chuyên môn
theo hợp đồng. Nếu trong hợp đồng có kèm theo lời hứa của ngời thuê sẽ bán lại
tài sản này, chậm nhất là khi hợp đồng cho thuê theo giá thoả thuận trớc thì đó
là thuê tài chính. Nếu trong hợp đồng không kèm theo lời hứa thì đó gọi là thuê
Ngành tài chính Ngân Hàng
5
hoạt động hay thuê đơn giản. Tài sản cho thuê bao gồm động sản và bất động
sản nh nhà cửa máy móc, thiết bị văn phòng.
2 Đối với NH- ngời cho thuê: Đa dạng hoá việc sử dụng vốn, mở rộng
dạng khách hàng, tăng thêm sản phẩm NH, giảm mức độ rủi ro so với cấp tín
dụng hoặc bảo lãnh. Vì trong thời gian cho thuê, NH vẫn chỉ có quyền sở hữu
pháp lý đối với thiết bị thuê nên NH có khả năng nhanh chóng chiếm lại thiết bị
nếu ngời đi thuê không tuân thủ theo hợp đồng thuê. Tín dụng thuê mua bảo
đảm sử dụng đúng đắn số vốn tài trợ, tỷ lệ sử dụng vốn cao.
3 Đối với ngời đi thuê: Ngời đi thuê không phải bỏ ngay một số tiền để
mua sắm thiết bị nhng vẫn có thiết bị sử dụng, có thể tiếp nhận đợc công nghệ
tiên tiến đồng thời hạn chế đợc sự lỗi thời nhanh chóng của thiết bị. Mô hình
tín dụng dịch vụ thuê, mua có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển đất nớc, tạo
điều kiện giúp đỡ các DN không đủ vốn nhng vẫn có thể thuê đợc máy móc,
thiết bị hiện đại, thúc đẩy việc sản xuất kinh doanh, tăng năng suất và chất lợng
sản phẩm.
1.1.2.4. Nghiệp vụ đầu t chứng khoán
Đây cũng là nghiệp vụ sinh lời của NHTM, trong nghiệp vụ này, NH đầu t
vào hai loại chứng khoán là chứng khoán Nhà nớc và chứng khoán Công ty.
1. 1. 3. Vai trò của tín dụng trung- dài hạn
1.1.3.1. Đối với các DN:
Các DN thờng gặp phải một căn bệnh là thiếu vốn đặc biệt là thiếu vốn
trung- dài hạn để phát triển sản xuất. Nền kinh tế không ngừng vận động, hàng
hoá sản xuất ngày càng nhiều và nhu cầu con ngời không ngừng nâng cao. Một
DN muốn tồn tại và phát triển thì phải biết nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu
cầu đó. Nh vậy, DN phải không ngừng đổi mới, mạnh dạn đầu t để nâng cao
chất lợng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trờng mới. Tuy
nhiên, để làm đợc điều này, cần huy động một khối lợng vốn nhất định, hoặc
DN có thể tự tích lũy qua lợi nhuận để lại nhng thời gian tích luỹ có thể quá lâu,
làm mất thời cơ kinh doanh. Hơn nữa, khi chậm đổi mới có nghĩa là lợi nhuận
không còn. DN có thể huy động vốn trên thị trờng chứng khoán hoặc vay vốn
NH. Đối với NH, việc vay vốn trung- dài hạn từ NH đôi khi đem lại nhiều thuận
Ngành tài chính Ngân Hàng
6
lợi hơn so với việc huy động vốn trên thị trờng chứng khoán. Về mặt kỳ hạn,
DN có thể vay vốn NH theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu kinh doanh. Về thủ tục
thời gian thì nhanh chóng và ít phức tạp, hơn nữa không phải công ty nào cũng
đợc quyền bán trái phiếu, cổ phiếu của mình trên thị trờng chứng khoán, nhất là
công ty mới thành lập hay quá nhỏ, cha có tiếng tăm. Ngoài ra với các khoản
vay trung- dài hạn tại NH, vừa giúp NH thực hiện chiến lợc kinh doanh đem lại
lợi tức cho DN mà không gia tăng sự kiểm soát của ngời bên ngoài đối với hoạt
động kinh doanh của DN nh trong trờng hợp phát hành cổ phiếu. Mặc dù, có
nhiều thuận lợi nh vậy nhng lãi suất trung- dài hạn của NH là chi phí khá cao
đối với DN. Nó buộc các DN phải nghĩ đến hiệu quả đầu t, doanh thu đạt đợc
không chỉ đủ để trả vốn và lãi cho NH mà phải đem lại lợi tức cho mình. Do
vậy, lãi suất tín dụng trung- dài hạn của NH là đòn bẩy thúc đẩy DN khai thác
triệt để đồng vốn để kinh doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.
Nh vậy, vay vốn trung- dài hạn từ NH là biện pháp quan trọng để các DN
có vốn cho thực hiện dự án của mình.
1.1.3.1. Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng trung dài hạn đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế
quốc dân, điều hoà lợng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng
làm nhiệm vụ chuyển vốn từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ những nhà tiết
kiệm sang nhà đầu t, phục vụ phát triển kinh tế.
Do tập trung đợc vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng
trung- dài hạn góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản xuất mở rộng đầu t phát
triển kinh tế, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp- nông
nghiệp- dịch vụ. Các khoản cho vay cung cấp cho các ngành đợc thực hiện theo
cả chiều sâu và chiều rộng, đầu t có trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất
mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, khai thác triệt để các nguồn lực, tập
trung phục vụ sản xuất. Nắm trong tay nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến
độ phát triển các công trình, các dự án, tạo đợc hiệu quả kinh tế bền vững, lâu
dài góp phần thúc đẩy tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã định hớng công
nghiệp hoá- hiện đại hoá.
Ngành tài chính Ngân Hàng
7
Bên cạnh đó, các khoản cho vay trung- dài hạn có vai trò tạo nguồn vốn để
thực hiện xây dựng mới, hiện đại hoá từng bớc nền sản xuất trong nớc, thúc đẩy
sản xuất, nâng cao chất lợng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để
tiêu thụ trong nớc và xuất khẩu. Hàng hoá có tính chất cạnh tranh trên thị trờng
quốc tế sẽ thúc đẩy xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân
thơng mại và cán cân thanh toán quốc tế.
Tín dụng trung- dài hạn có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh
tế vĩ mô. NHNN luôn quản lý tín dụng trung- dài hạn bằng các quy định và
chính sách của mình. NHNN đóng vai trò là ngời cho vay cuối cùng trong nền
kinh tế, ổn định lu thông tiền tệ. Thông qua tín dụng trung- dài hạn, Chính Phủ
cũng có thể quản lý và thực hiện các chơng trình kinh tế lớn một cách có hiệu
quả. Thực tế cho thấy, các chơng trình kinh tế lớn đều đợc cấp vốn thông qua hệ
thống các NHTM, hiệu quả đợc xét đến kỹ hơn và Chính Phủ cũng quản lý dễ
dàng hơn các chơng trình đầu t này. Ngoài ra, Chính Phủ còn có thể hớng tín
dụng trung- dài hạn vào các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ quá trình công
nghiệp hoá- hiện đại hoá để các ngành này đi đầu, tạo đà cho sự phát triển kinh
tế- xã hội đất nớc.
Hoạt động tín dụng trung- dài hạn tạo điều kiện phát triển các quan gia
luôn gắn liền với thị trờng thế giới. Tín dụng trung- dài hạn đã trở thành nhịp
cầu nối liền quan hệ kinh tế giữa các quốc gia với nhau bằng các hoạt động tín
dụng quốc tế nh: Các hình thức tín dụng giữa các Chính Phủ, giữa cá nhân với
cá nhân, các hình thức tài trợ, cho vay không hoàn lại của Chính Phủ các nớc.
1.1.3.2. Đối với hoạt động NH
Hoạt động của NH trong cơ chế thị trờng là hoạt động trong môi trờng
cạnh tranh gay gắt. Để có thể đứng vững trong môi trờng cạnh tranh gay gắt này
đòi hỏi mỗi NH phải thực sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của
chính mình. Vì vậy, hoạt động tín dụng đợc xem là sự cần thiết để mang tính
cạnh tranh của NH. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trờng vận động
trong điều kiện nền kinh tế mở với nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật
chất kỹ thuật hiện đại, tiến tới đổi mới toàn bộ nền kinh tế đã cho thấy nhu cầu
Ngành tài chính Ngân Hàng
8
vốn trung- dài hạn là cấp thiết và quan trọng. Nguồn vốn này tạo điều kiện cho
các DN đổi mới kỹ thuật, trang bị công nghệ mới, phơng pháp sản xuất mới để
tạo ra hàng hoá mới. Đây là điều kiện để NH mở rộng phạm vi hoạt động của
mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình trong nền kinh tế thị tr-
ờng.
Hơn nữa, tín dụng trung- dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết
nguồn vốn huy động còn d thừa tại mỗi NH, đồng thời cũng là cách NH gọi vốn
từ nền kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các DN. Vì vậy, tín dụng trung- dài
hạn cần phải đợc tăng cờng để các NH có thể tham gia nỗ lực vào sự nghiệp
công nghiệp- hoá hiện đại hoá đất nớc thông qua nghiệp vụ này.
Ngoài ra tín dụng trung- dài hạn còn là một nghiệp vụ mang lại lợi ích chủ
yếu cho NH. Bởi lẽ tín dụng trung- dài hạn là những khoản tín dụng có quy mô
lớn, lãi suất cao, thời gian dài nên lãi thu sẽ lớn và ổn định. Chuyển từ nghiệp
vụ cho vay ngắn hạn sang cho vay trung- dài hạn là sự biến chuyển có tính
chiến lợc của NH, đồng thời nâng cao tính cạnh tranh trong lĩnh vực NH. Khi
NH không đa dạng hoá hoạt động cho vay, đa dạng hoá khách hàng, thời hạn
vay tiền thì NH không thể đứng vững trong nền kinh tế thị trờng với sự chèn ép
đông đảo của NH khác. Quan hệ tín dụng trung- dài hạn cũng có thể dẫn tới các
hoạt động bảo lãnh do NH thực hiện. NH có thể thực hiện bảo lãnh vay các NH
khác, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh
khác cho khách hàng. Các hình thức bảo lãnh này đem lại thêm lợi nhuận cho
NH.
Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả tín dụng trung- dài hạn đang là những vấn
đề mà các NH đều quan tâm nhằm đem lại lợi nhuận cho NH cũng nh phục vụ
sự nghiệp phát triển kinh tế đất nớc.
1 hiệu quả tín dụng trung- dài hạn của NHTM trong nền kinh
tế thị trờng.
1.2. 1. Khái niệm hiệu quả tín dụng trung- dài hạn
Tín dụng trung dài hạn đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát
triển trong nền kinh té nớc ta, đặc biệt trong công cuộc công nghiệp hoá- hiện
Ngành tài chính Ngân Hàng
9
đại hoá đất nớc. Nh đã nói ở phần trên, tín dụng trung dài hạn không chỉ tác
động tới nền kinh tế mà còn tác động tới các DN mà hơn cả là tới NH. Thông
qua việc xem xét hiệu quả của hoạt động cho vay trung- dài hạn sẽ giúp cho NH
có thể đánh giá lại hoạt động cho vay của mình để từ đó có thể đa ra những giải
pháp thông qua nhằm khắc phục những tồn tại thiếu sót và đẩy mạnh hơn nữa
hoạt động cho vay.
Xét trên quan điểm của NH thì hoạt động tín dụng trung- dài hạn đợc xem
là có hiệu quả khi nó đảm bảo đợc ba yếu tố:
0 Khả năng sinh lợi cho NH
1 Khả năng thu hồi cả gốc và lãi đúng hạn
2 Khả năng thanh khoảnh từ phía nguồn.
Điều này có nghĩa là các NH khi tiến hành cho vay trung- dài hạn thì
khoản cho vay đó phải đem lại thu nhập cho NH, đảm bảo trang trải đợc chi phí
trả cho lãi suất huy động hoặc đi vay, chi phí NH và rủi ro của NH. Song không
phải các NH cứ cho vay nhiều, mang lại nhiều lợi nhuận là có hiệu quả cao bởi
vì nếu cho vay ra mà không thu hồi đợc vốn cho vay hoặc cho vay không cân
xứng với nguồn huy động đợc thì sớm hay muộn NH cũng dễ rơi vào tình trạng
thua lỗ, đổ bể. Chính vì vậy, yếu tố hiệu quả trong kinh doanh là yếu tố quan
trọng và cần thiết đầu tiên đối với sự tồn tại và phát triển của NH.
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng trung- dài hạn.
1.1.4.1. Quy mô cho vay trung- dài hạn:
Quy mô cho vay trung- dài hạn đợc thể hiện thông qua các chỉ tiêu sau:
3 Doanh số cho vay: Là chỉ tiêu cơ bản khi đánh giá một cách khái quát
và có hệ thống đối với những khoản vay tại một thời điểm. Khi xác định doanh
số cho vay, cha có sự đánh giá cụ thể về chất lợng và phần ròng của những
khoản vay trong một thời kỳ nhất định. Nhng đây là chỉ tiêu cho biết khả năng
luân chuyển sử dụng vốn của một NH. Quy mô đầu t và cấp vốn tín dụng của
NH đó với nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ.
4 D nợ tín dụng đối với nền kinh tế: Tổng d nợ nội tệ và ngoại tệ thể
hiện đợc mối quan hệ tín dụng giữa NH với khách hàng, đồng thời là chỉ tiêu
phản ánh phần vốn đầu t hiện đang còn lại tại một thời điểm của NH mà NH đã
Ngành tài chính Ngân Hàng
10
cho vay nhng cha thu về. Đồng thời chỉ tiêu này cũng phản ánh Mối quan hệ
với doanh số cho vay (d nợ đầu kỳ + doanh số cho vay doanh số thu nợ = d
nợ cuối kỳ), với khả năng đáp ứng nguồn vốn của các NHTM đối với nhu cầu
sử dụng vốn trong nền kinh tế.
1.1.4.2. Hiệu quả tín dụng trung- dài hạn
Để đánh giá hiệu quả tín dụng trung- dài hạn, ngời ta có thể dùng nhiều
chỉ tiêu khác nhau. Các chỉ tiêu này là các chỉ tiêu chung cho toàn bộ các khoản
tín dụng trung- dài hạn tại NH, tức là đánh giá hiệu quả tín dụng trung- dài hạn
của một NH.
Xét trên quan điểm NH:
0 Chỉ tiêu d nợ:
D nợ trung- dài hạn
Tổng d nợ tín dụng
Chỉ tiêu này cho thấy biến động tỷ trọng d nợ trung- dài hạn trong tổng d
nợ tín dụng của một NH qua các thời kỳ khác nhau. Có thể nghiên cứu biến
động quy mô, khối lợng tín dụng trung- dài hạn. Nếu chỉ xem xét tử số, tỷ lệ
này càng cao chứng tỏ mức độ phát triển ngày càng có uy tín. Vì tín dụng
trung- dài hạn có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn, thế mà d nợ lại lớn chứng tỏ mối quan
hệ khách hàng- NH là hoàn toàn tin cậy.
Chỉ tiêu này cũng có thể dùng so sánh giữa các NH khác nhau để thấy đợc
thế mạnh của NH này so với thế mạnh của NH khác trong hoạt động tín dụng
trung- dài hạn. Tuy nhiên, có thể coi đây nh một chỉ tiêu định lợng để có thể
thấy rõ bản chất của tín dụng trung- dài hạn của một NH.
1 Chỉ tiêu sử dụng vốn:
Huy động vốn x 100%
Sử dụng vốn
Doanh số cho vay trung- dài hạn
Hoặc:
Nguồn vốn trung- dài hạn
Ngành tài chính Ngân Hàng
11
NH có thể sử dụng nguồn vốn trung- dài hạn và một phần nguồn vốn ngắn
hạn để cho vay trung- dài hạn. Có thể hiểu đây là chỉ tiêu hệ quả phán ánh hiệu
quả tín dụng. Chỉ tiêu sử dụng vốn cho phép đánh giá tính hiệu quả trong hoạt
động tín dụng của một NH. Chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ NH đã sử dụng một
cách hiệu quả nguồn vốn huy động đợc.
2 Chỉ tiêu nợ quá hạn:
Nợ quá hạn trung- dài hạn
Tổng nợ quá hạn
NH sẽ chuyển các khoản vay không trả đợc nợ khi đến hạn thành các
khoản nợ quá hạn. Nợ quá hạn có thể do các nguyên nhân chủ quan của phía
DN, do các nguyên nhân khách quan hoặc do xác định không hợp lý thời hạn
vay, phơng thức hoàn trả hay một số yếu tố khác của hợp đồng. Nợ quá hạn là
điều không mong muốn của NH. Nó làm giảm hiệu quả tín dụng của NH và các
NH luôn cố gắng làm giảm tỷ lệ này.
Nợ quá hạn tín dụng trung dài hạn x 100%
Hoặc
Tổng d nợ tín dụng trung- dài hạn
Chỉ tiêu này cho thấy trong 100% d nợ tín dụng trung- dài hạn thì có bao
nhiêu % là nợ quá hạn.
Thể hiện tỷ lệ nợ không thanh toán đúng hạn trên tổng d nợ. Các NH có
chỉ số này thấp chứng tỏ hiệu quả tín dụng cao. ở các nớc có nền tài chính phát
triển, ngời ta quy định các NH có tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng d nợ < 5% thì đợc
coi là có chất lợng tín dụng tốt, ngợc lại nếu vợt quá 5% thì có dấu hiệu xấu,
hoạt động của NH đó không an toàn, nguy cơ rủi ro cao.
3 Chỉ tiêu nợ khó đòi :
Nợ khó đòi trung- dài hạn
Tổng d nợ trung- dài hạn
Rõ ràng tỷ lệ này càng cao, thì tín dụng có hiệu quả càng thấp. Nợ khó đòi
có nguy cơ làm giảm lợi nhuận của NH và nếu có quá nhiều nợ khó đòi sẽ có
Ngành tài chính Ngân Hàng
12
thể làm cho NH phá sản. Các NH đang cố gắng giảm đến mức tối đa các khoản
nợ khó đòi để làm tăng hiệu quả tín dụng trung- dài hạn.
4 Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận từ tín dụng trung- dài hạn
Tổng d nợ tín dụng trung- dài hạn
Lợi nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả các khoản tín dụng
trung- dài hạn bởi xét cho cùng mục đích của NHTM là lợi nhuận, hay ít nhất
cũng thu đủ để bù đắp chi phí bỏ ra.
Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời của tín dụng trung- dài hạn, nó
nêu lên số lãi thu đợc từ 1 đồng d nợ trung- dài hạn. Nên trong điều kiện thị tr-
ờng và rủi ro nh nhau thì chỉ tiêu này càng lớn càng có lợi cho NH. Đặc biệt với
những NH cha phát triển các dịch vụ NH thì thu từ hoạt động tín dụng là chủ
yếu. Có nghĩa là hiệu quả tín dụng tốt phải bao gồm cả cái mà khoản tín dụng
đó mang lại cho NH.
Hay ta xét đến chỉ tiêu:
Lợi nhuận tín dụng trung- dài hạn
Tổng lợi nhuận
Chỉ tiêu này cho phép thấy rõ hơn vị trí của tín dụng trung- dài hạn trong
hoạt động của NH. Thu từ khoản tín dụng có hiệu quả cao sẽ đóng góp lớn vào
thu nhập NH. Nếu khoản tín dụng có hiệu quả không tốt thì thu không đợc nợ
gốc và lãi mà còn làm tăng chi phí của NH, nên sẽ kéo theo lợi nhuận giảm t-
ơng ứng.
Tuy nhiên, đối với một số dự án trung- dài hạn theo kế hoạch Nhà nớc thì
chỉ tiêu này đôi khi tỏ ra không đầy đủ để phản ánh hiệu quả tín dụng.
Vì mục tiêu kinh tế- xã hội hay chiến lợc phát triển những ngành công
nghiệp mũi nhọn, những ngành công nghiệp non trẻ, thì đôi khi mục tiêu lợi
Ngành tài chính Ngân Hàng
13
nhuận không phải là hàng đầu. Lúc này lợi nhuận không phản ánh thực chất của
khoản tín dụng. Vì vậy, khi dùng các chỉ tiêu này để phân tích chúng ta phải
xem xét tổng hợp các mục tiêu của dự án vay vốn trung- dài hạn.
Xét trên quan điểm khách hàng
Khách hàng là ngời trực tiếp quản lý, sử dụng vốn trung- dài hạn, đối với
khách hàng thì chất lợng tín dụng biểu hiện ở một số chỉ tiêu nh sau:
- Doanh thu tăng từ dự án
5 Lợi nhuận tăng từ dự án
6 Lao động tăng từ dự án
Có thể nói, một khoản tín dụng tốt đối với NH cũng chính là khoản tín
dụng tốt đối với DN. Từ nguồn vốn vay NH mà DN thay đổi cơ chế mới, mở
rộng hoạt động sản xuất, làm tăng doanh thu, tăng lợi nhuận của DN. Nh vậy,
mục tiêu của DN không chỉ là cho vay thu mà còn thông qua nguồn vốn trung-
dài hạn để kích thích hoạt động của DN, tạo cơ sở cho sự phát triển nền kinh tế.
DN làm ăn coá hiệu quả, có lãi lại tiếp tục đầu t vào dự án mới, lại xuất hiện
nhu cầu tín dụng mới. Có thể thấy sự bớc song hành trên lộ trình kinh tế giữa
NH và DN dới sự tác động qua lại có hiệu quả; chỉ tiêu tăng lao động từ dự án
đáng quan tâm nhất là trong hoàn cảnh nền kinh tế nớc ta hiện nay, tỷ lệ thất
nghiệp tăng gần 7% thì một dự án đầu t sẽ giải quyết về khó khăn, về công việc
làm cho DN và cho xã hội, đó cũng là một khoản tín dụng có hiệu quả.
Nh vậy, khi đánh giá hiệu quả tín dụng trung- dài hạn, ta không thể căn cứ
vào một chỉ tiêu cụ thể mà phải xem xét một hệ thống các chỉ tiêu ở trên để
phân tích cả hai mặt định lợng và định tính, cả về lợi nhuận thuần tuý và lợi ích
xã hội, cả trên quan điểm của khách hàng và quan điểm của NH. Có nh vậy việc
đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng mới thực sự khách quan, chính xác phản
ánh đúng thực trạng để từ đó phân tích nguyên nhân, tìm ra giải pháp, tháo gỡ
khó khăn một cách hiệu quả.
1. 2. 3. Các nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả tín dụng trung dài hạn
của NHTM
Hoạt động tín dụng trung- dài hạn của các NHTM đợc thực hiện dới hình
thức sau:
Ngành tài chính Ngân Hàng
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét