5
2/ Mục đích nguyên cứu
Như phần lý do chọn đề tài đã đề cập, mục đích cơ bản của luận văn này
là góp phần làm rõ hơn sự cần thiết phải tập trung phát triển đội ngũ CNKT và từ
đó rút ra những giải pháp hợp lý để đề xuất góp phần hoàn thiện chính sách phát
triển đội ngũ CNKT nói riêng và phát triển nguồn nhân lực nói chung. Đây là
nhiệm vụ rất cấp thiết hiện nay để góp phần vào việc thực hiện mục tiêu phát
triển kinh tế trong tiến trình CNH, HĐH của Tp.HCM.
3/ Phạm vi nguyên cứu:
Không gian nguyên cứu là đòa bàn Tp. HCM, thời gian nguyên cứu đến
năm 2010.
Đề tài tập trung phân tích thực trạng đội ngũ CNKT ở Tp. HCM và tìm ra
một số giải pháp để phát triển đội ngũ CNKT.
4/ Phương pháp nguyên cứu:
Để thực hiện đề tài, tác giả thu thập số liệu thứ cấp ở các đơn vò Sở LĐ –
TB & XH, Sở Khoa học Công nghệ, Viện kinh tế Tp. HCM, các đơn vò có liên
quan, trên sách, báo chí, tạp chí và internet.
Phương pháp xử lý số liệu: đối với các dữ liệu thu được, tác giả áp dụng
các biện pháp xử lý sau: so sánh, tổng hợp, phân tích, thống kê.
5/ Bố cục của luận văn:
Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực và đội
ngũ CNKT
Chương 2: Thực trạng đội ngũ CNKT Tp.HCM
Chương 3: Các giải pháp phát triển đội ngũ CNKT Tp.HCM đến năm
2010
Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghòêp tác giả đã nguyên cứu,
tham khảo và sử dụng nhiều tài liệu của các công trình nguyên cứu, hội thảo
khoa học có liên quan đến nguồn nhân lực và đội ngũ CNKT để tăng cường tính
thực tiễn của đề tài nguyên cứu đóng góp vào chủ trương phát triển kinh tế, xã
hội của Thành phố.
6
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN
NHÂN LỰC VÀ ĐỘI NGŨ CÔNG NHÂN KỸ THUẬT
1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển
1.1.1 Khái niệm về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Theo Liên Hiệp Quốc: sự phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục
đào tạo và sử dụng tiềm năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế xã
hội và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Theo UNESCO: phát triển nguồn nhân lực là làm cho toàn bộ sự lành
nghề của dân cư luôn luôn phù hợp trong mối quan hệ với sự phát triển của
đất nước.
Theo Cherrington: giáo dục mang tính chất chung, cung cấp cho học
viên các kiến thức chung có thể sử dụng vào các lónh vực khác nhau, đào tạo
liên quan đến việc tiếp thu các kiến thức, kỹ năng đặc biệt, nhằm thực hiện
những công việc cụ thể. Còn phát triển liên quan đến việc nâng cao khả năng
trí tuệ và cảm xúc cần thiết để thực hiện công việc tốt hơn.
Ông Carrel Et Al: tán thành quan điểm cho rằng có hai loại đào tạo:
đào tạo chung được áp dụng để nhân viên có được những kỹ năng có thể được
sử dụng ở mọi nơi, có thể ích lợi cho nhân viên trong mọi công việc. Đào tạo
chuyên được áp dụng giúp nhân viên có được các thông tin và kỹ năng chuyên
biệt, áp dụng cho công việc của mình tại nơi làm việc.
Từ những quan điểm trên có thể nói rằng phát triển và đào tạo nguồn
nhân lực là một “loại hoạt động có tổ chức, được điều kiển trong một thời gian
xác đònh và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách”. Do đó:
• Đào tạo: là quá trình học tập làm cho người lao động có thể thực
hiện được chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ.
7
• Giáo dục: là quá trình học tập để chuẩn bò con người cho tương lai;
có thể cho người đó chuyển tới công việc mới trong một thời gian thích hợp.
• Phát triển: là quá trình học tập nhằm mở ra cho các cá nhân những
công việc mới dựa trên những đònh hướng tương lai của tổ chức.
Ba bộ phận trên hợp thành của giáo dục – đào tạo và phát triển nguồn
nhân lực là cần thiết cho sự thành công của tổ chức và sự phát triển tiềm năng
của con người.
Vì vậy, phát triển và đào tạo nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào
tạo, giáo dục và phát triển đã được thực hiện bên trong tổ chức mà còn bao
gồm một loạt những hoạt động khác của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực
được thực hiện từ bên ngoài: học việc, học nghề, các hoạt động dạy nghề.
Các lý do và tác dụng của việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là:
• Để chuẩn bò và bù đắp vào những chỗ thiếu, bò bỏ trống. Sự bù
đắp và bổ sung này diễn ra thường xuyên nhằm làm cho nền kinh
tế hoạt động trôi chảy.
• Để chuẩn bò cho những ngừơi lao động thực hiện được những
trách nhiệm và nhiệm vụ mới do có sự thay đổi trong mục tiêu:
cơ cấu, luật pháp, chính sách và kỹ thuật công nghệ mới tạo ra.
• Để hoàn thiện khả năng người lao động (nhiệm vụ hiện tại cũng
như nhiệm vụ tương lai một cách có hiệu quả)
Tác dụng của phát triển và đào tạo nguồn nhân lực còn là: giảm bớt được
sự giám sát, vì đối với người lao động được đào tạo, họ là người có thể tự giám
sát; giảm bớt những tai nạn do những hạn chế của con người hơn là do những hạn
chế của trang bò. Sự ổn đònh và năng động của tổ chức tăng lên, chúng được bảo
đảm có hiệu quả ngay cả khi thiếu những người chủ chốt do có nguồn đào tạo dự
trữ để thay thế.
8
1.1.2 Khái niệm về đào tạo và phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật
(CNKT).
- Hiện nay, CNKT được hiểu như là những công nhân đã hoàn thành
chương trình dạy nghề dài hạn hoặc ngắn hạn, tốt nghiệp qua các chương trình
dạy nghề. Ngay cả luật giáo dục (1998) chỉ đề cập “dạy nghề nhằm đào tạo
người lao động có kiến thức, có kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, CNKT, chuyên
viên nghiệp vụ”.
Như vậy CNKT được xác đònh theo thời gian đào tạo và tên gọi của
bằng cấp, mà chưa chứa đựng được vai trò của CNKT trong quá trình sản xuất. Vì
thế có thể hiểu: CNKT là người có năng lực tác động trực tiếp và hiệu quả vào
quá trình tạo ra sản phẩm xã hội.
Với cách hiểu này CNKT được cấu thành từ hai yếu tố:
- Năng lực nghề nghiệp của CNKT đóng vai trò quan trọng nhất: là
những kiến thức nghề nghiệp có được qua đào tạo và hành nghề; là những kỹ
năng nghề nghiệp được chắt lọc trên nền tảng kiến thức nghề nghiệp; là thái độ
lao động đúng đắn qua nhận thức mục đích nghề nghiệp và thói quen nghề
nghiệp, qua quá trình say mê lao động. Năng lực ấy mang tính phát triển để thích
ứng với yêu cầu của nền kinh tế. Như vậy, để trở thành CNKT phải trải qua quá
trình đào tạo, có thể từ trường lớp hoặc qua quá trình lao động, nhưng cốt lõi là
các tri thức lý luận và thực tiễn về lónh vực kỹ thuật, công nghệ liên quan trực
tiếp đến nghề nghiệp.
- CNKT là những người tác động trực tiếp và hiệu quả vào quá trình tạo
ra sản phẩm xã hội. Ngày nay, về cơ bản một sản phẩm làm ra mang đậm tính
chất xã hội và người CNKT là khâu then chốt trong quá trình ấy. Họ vừa trực
tiếp lao động, vừa có khả năng vận hành và thích ứng với sự đổi mới công nghệ.
CNKT chiếm vò trí quan trọng trong lao động sản xuất, và bao giờ cũng
đảm nhiệm công việc một cách độc lập với tư cách là người thợ chính làm việc
9
trong một nhóm người lao động. Tuỳ thuộc vào quá trình công nghệ sản xuất có
độ phức tạp về kỹ thuật khác nhau mà có tỷ lệ CNKT cao thấp khác nhau. Song
nói chung thì họ thường chiếm tỷ lệ cao khi công nghệ sản xuất ngày càng phức
tạp.
Như vậy bậc công nhân là bậc thấp hơn CNKT. Công nhân là lao động
có trình độ sơ cấp trong những nghề ít phức tạp hay chỉ làm một phần việc của
người CNKT. Họ chưa được đào tạo đủ về kiến thức, kỹ thuật, kỹ xảo nghề
nghiệp như người CNKT.
Còn CNKT lành nghề là những CNKT làm việc hiệu quả trong nghề ít
nhất từ năm năm trở lên và họ đảm đương vai trò của người thợ cả trong nhóm
người cùng lao động.
- Phát triển đội ngũ CNKT: thể hiện ở nâng cao tay nghề, tăng khả
năng sáng tạo, tác phong làm việc, ý thức kỷ luật lao động và tăng năng suất lao
động.
Phát triển đội ngũ CNKT của một quốc gia, một vùng lãnh thổ là tạo sự
biến đổi về số lượng và chất lượng của từng CNKT, tạo lập một cơ cấu đội ngũ
CNKT hợp lý và sự sử dụng năng lực của họ vì sự tiến bộ kinh tế – xã hội.
1.2. Vai trò, vò trí của đội ngũ CNKT trong nền kinh tế quốc dân
Cơ sở quan trọng để xác đònh việc phát triển đội ngũ CNKT là yêu cầu
mang tính khách quan vì đây là đòi hỏi tất yếu của quá trình CNH, HĐH đất
nước. Vì thế vai trò của việc phát triển đội ngũ CNKT được xem xét trên cả 3
lónh vực: kinh tế, xã hội, chính trò.
1.2.1 Phát triển đội ngũ CNKT là yêu cầu đảm bảo thành công trong sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước
Ngày nay, mặc dù công nghệ hiện đại, hệ thống thiết bò tiên tiến, nhưng
CNKT vẫn là mắc xích quan trọng trong dây chuyền sản xuất để tạo ra sản phẩm
ngày càng nhiều và có chất lượng, bởi vì, không có một kỹ thuật hay phương
10
pháp nào có thể đem lại hiệu quả, nếu không có những người có đủ năng lực
quản lý và sử dụng nó.
Sự nghiệp CNH, HĐH sẽ thúc đẩy nền sản xuất hiện đại. Lực lượng sản
xuất càng tiên tiến, hiện đại càng yêu cầu phải có một lực lượng CNKT ở các
trình độ khác nhau. Thiết bò, công nghệ càng hiện đại đòi hỏi người sử dụng phải
có trình độ nghề nghiệp tương ứng mới có thể điều kiển hệ thống máy móc phục
vụ cho quá trình sản xuất.
Cơ cấu hợp lý của lực lượng lao động về trình độ chuyên môn đối với
khu vực công nghiệp được phân bố theo tỷ lệ như sau:
Biểu 1.1 Quan hệ cơ cấu chất lượng lao động
và trình độ kỹ thuật (Đvt:%)
Các giai đoạn tiến bộ kỹ thuật
Loại lao động
3 4 5 6 7 8 9 10 11
Lao động giản đơn 15 7 - - - - - - -
CNKT chưa lành nghề 60 65 37 11 3 - - - -
CNKT lành nghề 20 20 53 45 60 55 40 21 -
Kỹ thuật viên 4 6,5 8 12,5 21 30 40 50 60
Kỹ sư 1 1,5 2 4,5 7 10 17 25 34
Trên đại học - - - 0,5 2 2 3 4 6
Nguồn: Viện chiến lược phát triển năm 2001
Như vậy, trong hầu hết các giai đoạn tiến bộ kỹ thuật, CNKT luôn luôn
đóng vai trò thiết yếu và đòi hỏi trình độ nghề nghiệp ngày càng cao. Sự nghiệp
CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta đòi hỏi nguồn nhân lực phải có
một đội ngũ lao động có tay nghề có trình độ nghề nghiệp theo cơ cấu thích ứng
với nền kinh tế hiện tại và trong tương lai. Muốn có một đội ngũ lao động có
trình độ kỹ thuật, chuyên môn giỏi đòi hỏi cần phải đào tạo. Đào tạo con người
có nghề nghiệp và được sử dụng là nhu cầu của từng cá nhân và của toàn xã hội.
Hiện nay, yếu tố quyết đònh đến sự cạnh tranh của nền kinh tế một
11
quốc gia là chất lượng nguồn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực kỹ thuật, thực
hành chiếm một tỷ trọng lớn. Chính đội ngũ CNKT ngày càng phát triển sẽ đảm
bảo điều kiện cần thiết để tiến hành CNH, HĐH và tăng trưởng bền vững.
Cơ cấu lao động là hạt nhân hình thành cơ cấu kinh tế hiện đại. Nước ta
đang trong quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của nền kinh tế từ nông nghiệp
sang công nghiệp và dòch vụ nên diễn ra quá trình điều chỉnh cơ cấu lao động.
Lao động phổ thông sẽ giảm để tăng lực lượng lao động có trình độ chuyên môn
kỹ thuật và nghòêp vụ mới có thể đáp ứng được nhu cầu của nền kinh tế. Để làm
được điều đó chỉ có đònh hướng đào tạo mới mong có được đội ngũ công nhân
lành nghề, các chuyên gia giỏi trong các lãnh vực của nền kinh tế.
Trong xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, đội ngũ CNKT có tay nghề giỏi
còn là lực lượng đi đầu để thực hiện chiến lược mở cửa, hội nhập kinh tế một
cách có hiệu qủa. Hiện nay, xuất khẩu lao động có tay nghề là một hướng đi của
các nước đang phát triển có nguồn lao động dồi dào để tích luỹ ban đầu và ngày
càng trở thành một ngành thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước.
1.2.2 Phát triển đội ngũ CNKT góp phần làm cho lực lượng lao động xã
hội ít bò tổn thương khi cơ cấu lại nền kinh tế.
Trong 20 năm qua (1986-2006), nước ta thực hiện đường lối đổi mới,
nhiều việc làm được tạo ra trong khu vực dòch vụ và công nghệ cao như: ngân
hàng, bảo hiểm, ngành giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, tin học, điện tử,
công nghệ vật liệu mới … Mặc khác từ sự cơ cấu lại nền kinh tế và cả trong từng
ngành, từng doanh nghiệp theo xu hướng giảm dần những công việc truyền
thống, sử dụng cơ bắp để thay thế bằng những người lao động có trình độ cao
hơn, đòi hỏi người lao động phải có các phẩm chất như tính cơ động và chủ động.
Do vậy, rất cần những người chòu khó học tập, biết thích nghi với sự biến đổi
trong cơ cấu lao động hiện nay.
Xu hướng lao động hiện nay là đa năng, tức là kết hợp giữa năng lực kỹ
12
thuật với khả năng quản lý và tài năng doanh nghiệp (nói đến khả năng thích
nghi và kỹ năng ứng xử trong xã hội). Đối với công nhân trực tiếp sản xuất, họ
chòu ảnh hưởng bởi sự phát triển công nghệ mới và các hình thức lao động mới.
Bản chất chung của việc làm đang thay đổi. Việc nâng cao trình độ tay
nghề đồng thời kéo theo sự thay đổi về cơ cấu việc làm theo xu hướng lao động
có trình độ thấp dần dần được thay thế bởi lao động có trình độ cao. Trong hệ
thống sản xuất mới, người công nhân vừa trực tiếp sản xuất, vừa đảm nhận các
chức năng của nhà phân tích, nhà quản lý, do đó đòi hỏi khả năng sáng tạo của
họ ở mức cao hơn nhiều so với chức năng khi họ chỉ là người thừa hành. Do vậy,
CNKT có khả năng thích nghi cao với xu hướng học tập thường xuyên, học suốt
đời, có đủ năng lực sáng tạo, đổi mới và phát triển.
Thò trường việc làm hiện nay có nhiều thay đổi theo hướng tăng nhanh
số lượng việc làm đòi hỏi có một chuyên môn nhất đònh. Vì thế cần coi trọng
việc đào tạo thường xuyên đội ngũ CNKT, bởi vì, một trong những nguyên nhân
kiến cho người lao động bò loại khỏi các doanh nghiệp là do trình độ và kiến thức
của họ ngày càng lạc hậu, không theo kòp yêu cầu mới của sản xuất kinh doanh.
Do vậy, việc đào tạo, tái đào tạo, thường xuyên nâng cao trình độ cho người lao
động nói chung và CNKT nói riêng là việc làm cần thiết để họ có thể duy trì sự
tồn tại trong guồng máy sản xuất và tăng nhanh khả năng thích ứng với công
nghệ.
1.2.3 Phát triển đội ngũ công nhân kỹ thuật là cơ sở để nâng cao chất
lượng giai cấp công nhân, đảm bảo giữ vững đònh hướng XHCN.
Nước ta là một trong số ít quốc gia xây dựng đất nước theo con đường
xã hội chủ nghóa (XHCN) dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Trải qua thời gian khó
khăn sau khi thống nhất đất nước, nước ta đã đạt được những thành tựu nhất đònh
trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Do ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp công nhân, là đại biểu trung
13
thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Hòên
nay, Đảng ta đang lãnh đạo xây dựng nền kinh tế thò trường đònh hướng XHCN,
mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế, vì vậy càng phải chăm lo, giữ vững và tăng
cường bản chất của giai cấp công nhân trong Đảng. Trong thời kỳ thực hiện
CNH, HĐH, giai cấp công nhân Việt Nam phải được đào tạo nâng cao tay nghề,
kỹ thuật nghiệp vụ mới có thể đáp ứng được công cuộc xây dựng đất nước trong
thời kỳ mới. Mà đội ngũ CNKT là lực lượng chủ chốt trong lực lượng sản xuất
ngày nay. Nếu được chuẩn bò tốt về mặt trí tuệ và thái độ nghề nghiệp để tiếp
thu công nghệ ngày một tiên tiến, đội ngũ CNKT ngày càng thể hiện mình là
khâu then chốt, là nồng cốt của lực lượng lao động xã hội, quyết đònh đến sự phát
triển nhanh và bền vững của nền kinh tế đi theo đònh hướng XHCN.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng và kinh nghiệm về phát triển đội ngũ
CNKT phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
1.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển đội ngũ CNKT phục vụ
CNH, HĐH đất nước.
1.3.1.1 Các yếu tố môi trường tác động đến sự phát triển đội ngũ
CNKT
a/ Kinh tế - xã hội:
Bối cảnh kinh tế – xã hội chung, đặc biệt là cơ cấu và cơ chế kinh tế vó
mô cũng như những quá trình kinh tế kèm theo như thò trường sức lao động, nhu
cầu về lao động, tình trạng việc làm và thất nghiệp, mức độ đô thò hoá, cơ cấu và
động thái dân số, cơ cấu xã hội và nghề nghòêp, về lãnh thổ, về dân tộc, sắc tộc
và tôn giáo, hệ thống truyền thông đại chúng cũng như các thiết chế chính trò –
xã hội của quốc gia đều là những điều kiện tác động mạnh mẽ đến qui mô, tốc
độ và tính chất của sự phát triển đội ngũ CNKT.
Nhiều yếu tố cụ thể trong đời sống kinh tế – xã hội như tập quán học
tập, các quan hệ xã hội, tâm lý trong sản xuất – kinh doanh, các quan hệ thương
14
mại trong nước và nước ngoài, mối quan tâm của gia đình, cộng đồng cũng ảnh
hưởng không ít đến sự phát triển giáo dục nghề nghòêp của quốc gia.
Những điều kiện trên có tác động rất khác nhau theo từng nước và từng
khu vực. Môi trường kinh tế – xã hội của các nước phát triển thì ổn đònh nên tác
động chủ yếu đến chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Trái lại, đối với các nước
đang phát triển và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam thì
môi trường kinh tế – xã hội tác động mạnh đến sự phát triển qui mô và mạng
lưới giáo dục nghề nghiệp, cải cách giáo dục dạy nghề trên nhiều mặt như pháp
lý, nhân sự, mục tiêu, quản lý, nội dung, phân bố lãnh thổ, tài chính, tổ chức…
b/ Chính sách và công cụ thể chế hoá giáo dục nghề nghòêp:
Chính sách giáo dục nghề nghiệp hiện nay là tập trung phục vụ phát
triển những ngành tri thức mũi nhọn và công nghệ sạch, tăng cường các giá trò
nhân văn, văn hoá và đạo đức cơ bản hay giá trò sống, có lựa chọn và ưu tiên
dành cho các trường đào tạo theo chuẩn chất lượng cao.
Công cụ thể chế hoá đặc trưng cho giáo dục nghề nghiệp là hệ thống
chuẩn quốc gia bao gồm: nội dung giáo dục (chương trình), phát triển giáo dục
dạy nghề; công nghệ, phương tiện kỹ thuật giảng dạy và học tập, môi trường vật
chất của giảng dạy và học tập, quản lý và thanh tra giáo dục.
Chính sách về chương trình giáo dục là điều kiện pháp lý hàng đầu
trong công cuộc cải cách, đổi mới hay thay đổi trong giáo dục nói chung, giáo
dục nghề nghiệp nói riêng. Việc phát triển chương trình được ủy quyền cho các
cấp quản lý đòa phương, nhà nước trung ương chỉ qui đònh chuẩn quốc gia.
Thường chương trình giáo dục cơ cấu gồm ba bộ phận: chương trình bắt buộc,
thường khớp với chuẩn tối thiểu, gọi là chương trình hạt nhân; chương trình bắt
buộc – phải học một số môn hay hoạt động nhất đònh nhưng tự do chọn môn học
theo sở thích hoặc phù hợp với năng lực cá nhân; chương trình tự chọn tuỳ theo ý
muốn hoặc nhu cầu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét