Science & Technology Development, Vol 12, No.01 - 2009
Trang 26 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM
SỰ PHÁ SẢN CỦA NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ MỸ TRONG CUỘC CHIẾN
TRANH THỰC DÂN MỚI Ở VIỆT NAM (1954-1975)
Võ Văn Sen
Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, ĐHQG-HCM
TÓM TẮT:Bài viết tập trung phân tích sự phá sản của những tư tưởng chỉ đạo cơ bản
nhất của nghệ thuật quân sự mà Mỹ đã áp dụng trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, cụ
thể là:
- Sự phá sản của sự sùng bái sức mạnh hỏa lực, vũ khí kỹ thuật chi
ến tranh hiện đại của
Mỹ
- Mỹ không thể giành thế chủ động mà luôn rơi vào thế bị động chiến lược.
- Mỹ không giải quyết được một loạt mâu thuẫn về quân sự giữa đánh nhanh và đánh
lâu dài, giữa phân tán và tập trung, giữa phòng ngự và phản công… khi đối phó với cuộc
chiến tranh nhân dân của Việt nam.
“Chiến tranh là một cuộc đọ sức quyế
t
liệt nhất, một sự ganh đua quyết liệt nhất
về lực lượng cũng như về cố gắng chủ
quan của hai bên, trên cơ sở những điều
kiện khách quan nhất định” (1). Sự thất bại
của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược
thực dân mới ở Việt Nam trước hết là sự
thất bại của nghệ thuật quân sự
Mỹ khi đọ
sức với nghệ thuật quân sự của chiến tranh
nhân dân Việt Nam.
Nghệ thuật quân sự bao gồm ba bộ phận
hợp thành cơ bản là chiến lược quân sự,
nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật, trong
đó chiến lược quân sự là quan trọng nhất.
Bài viết này không thể đi sâu khảo sát tất
cả các nội dung cụ thể cùng mối quan hệ
của ba b
ộ phận này, mà chỉ có thể dừng lại
ở sự phá sản của những vấn đề, những tư
tưởng chỉ đạo cơ bản nhất của nghệ thuật
quân sự mà Mỹ đã áp dụng trong cuộc
chiến tranh xâm lược Việt Nam.
1. Sự phá sản của tư tưởng “chiến tranh
tiêu hao” ( “war of attrition”), của sự
sùng bái sức mạnh của hỏa lực, vũ khí-
kỹ thu
ật chiến tranh hiện đại do nền
công nghiệp quân sự khổng lồ của mỹ
cung cấp
Tư tưởng quân sự xuyên suốt lịch sử
200 năm lập quốc của Mỹ luôn là tư tưởng
giành “thắng lợi triệt để”, bắt đối phương
phải “đầu hàng vô điều kiện” bằng cách
chủ yếu dùng sức mạnh của hỏa lực, vũ
khí- kỹ
thuật chiến tranh hiện đại nhất của
Mỹ. Từ cuối thế kỷ XIX trở đi Mỹ trở
thành nước giàu nhất thế giới, có một lực
lượng quân sự hùng mạnh nhất trong phe
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 - 2009
Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM Trang 27
đế quốc. Cả hai cuộc Chiến tranh thế giới
không làm cho Mỹ nghèo đi chút nào, mà
chỉ giúp nhân đôi sự giàu mạnh của Mỹ vì
Mỹ “quân sự hóa” nền kinh tế, thu được
50% tổng lợi nhuận nhờ bán vũ khí. Tư
tưởng này đã chỉ đạo cả hai Đảng Dân chủ
và Cộng hòa bước vào cuộc chiến tranh
xâm lược thực dân mới ở nước ta. Tướng
William DePuy, Phó Tư lệnh Quân đội Mỹ
ở Miền Nam, mùa xuân 1966 đã tổng kết
chiến lược quân sự Mỹ: “Giải pháp ở Việt
Nam là bom nhiều hơn, đạn pháo nhiều
hơn, bom na-pan nhiều hơn… cho tới khi
đối phương tan vỡ và đầu hàng” (2).
“Hàng rào điện tử McNamara”, chiến
thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận”, …
của Mỹ cũng không thể nào giúp quân
ngụy giành thắng lợi trong cuộc chiến
tranh đặc biệt mà đã b
ị phá sản ngay từ đầu
trước phương châm “hai chân, ba mũi” của
cách mạng miền Nam. Năm 1965 Johnson
đưa quân vào miền Nam, leo những nấc
thang cao nhất trong cuộc chiến, đẩy mạnh
những cuộc hành quân “tìm diệt” ( “search
and destroy”) nhằm tiêu diệt chủ lực của
ta, giành quyền chủ động trên chiến trường
với niềm tin “tuyệt đối”vào sức mạnh của
Mỹ. Sau khi cuộc phản công chiến lược
mùa khô thứ nh
ất 1965-1966 với 450 cuộc
hành quân lớn nhỏ nhằm vào 5 hướng
chiến lược thất bại, Mỹ đã dồn mọi hy
vọng vào cuộc phản công chiến lược lần
thứ hai 1966-1967 với quy mô và hỏa lực
gấp đôi lần trước: 895 cuộc hành quân lớn
nhỏ nhưng chỉ tập trung vào một hướng là
Đông Nam bộ, trong đó có ba cuộc hành
quân có mật độ quân số cao nhất cuộc
chiế
n tranh Việt Nam ( Attleboro: 30.000
quân, Cedar Falls : 35.000 quân và
Junction City: 45.000 quân)(3). Đây là ba
cuộc hành quân điển hình nhất của biện
pháp chiến lược “tìm diệt”. Thế nhưng “
cuộc tiến công chủ yếu của Mỹ đã không
thể bẩy được được lực lượng chủ yếu của
Cộng sản”(4), “không xóa được “chiến khu
C” ( “war zone C” của Cộng sản” (5). Nhà
sử học Mỹ Gabriel Kolko cho biết: “Vào
đầu năm 1967 mọi nhân vật quan trọng ở
Washington đều biết từ những báo cáo của
CIA và Lầu Năm Góc rằng chiến lược của
Mỹ đã, đang thất bại” (6). Khi tiến hành
cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ
nhất, Johnson đã đánh gía sức mạnh của
không quân của chúng qúa lớn và cho rằng
miền Bắc không có khả năng kháng cự vì
không đủ hai điều kiện: Lực lượng phòng
không miền Bắ
c không đủ sức bắn máy
bay Mỹ; không quân miền Bắc không đủ
khả năng chiến đấu với không quân Mỹ.
Tướng không quân Le May còn chủ quan
hơn khi nói rằng : “ Không quân là quyết
định, không quân là công cụ chiến thắng,
bằng không quân chúng ta có thể đạt bất
kỳ mục tiêu nào trên thế giới; Bắc Việt
Science & Technology Development, Vol 12, No.01 - 2009
Trang 28 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM
Nam hãy sờ lên gáy, nếu không chúng ta
sẽ ném bom tàn phá tan hoang, đẩy lùi Bắc
Việt Nam về thời kỳ đồ đá. Dưới bom đạn
Mỹ, Bắc Việt Nam không chịu nổi vài tuần
“(7). Thế nhưng, sức mạnh của cuộc chiến
tranh nhân dân chống chiến tranh phá hoại
đã làm kẻ thù hoàn toàn kinh ngạc! Tỷ lệ
máy bay rơi so với số lần xuất kích là 5-
8%, có trận lên đến 10%, trong khi đó tỷ lệ
này trong Chiến tranh thế gi
ới thứ hai chỉ
là 1%. “Một số người lái theo kinh nghiệm
bản thân đã từng dự cuộc Chiến tranh thế
giới lần thứ hai và chiến tranh Triều Tiên
đã phải nhận rằng việc phòng thủ Béc
Lanh, Luân Đôn, các nhà máy lọc dầu lửa
của Đức và các mục tiêu then chốt khác
cũng không thể so sánh được với các tổ
ong vò vẽ của miền Bắc Việt Nam” (8).
Mỹ đã không đạt đượ
c bất cứ mục tiêu nào
trong chiến tranh phá hoại lần thứ nhất.
Trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ
hai (4-12/1972), Nixon điên cuồng và tàn
bạo hơn Johnson nhiều lần cả về quy mô,
bước đi, thủ đoạn,… mặc dù mục tiêu rất
giới hạn. Nixon đã dám làm những điều
mà trước đây Johnson không dám làm.
Trong cuộc tập kích chiến lược 12 ngày
đêm bằng B-52 vào Hà Nội, Hải Phòng,
Nixon muố
n tạo ra sức công phá bằng 5
qủa bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống
Hiroshima và Nagasaki (Nhật Bản) năm
1945, mà không dùng bom nguyên tử.
Cuối cùng chúng phải chấp nhận ký Hiệp
định Paris mà không sửa chữa được gì so
với bản dự thảo đã đồng ý trong cuộc tiếp
xúc riêng giữa Mỹ và Việt Nam dân chủ
cộng hòa vào đầu tháng10-1972.
Trừ vũ khí hạt nhân, tất cả vũ khí tối
tân lợi hại Mỹ đều đ
ã đem ra sử dụng trong
cuộc chiến tranh Việt Nam và cuối cùng
chúng cũng vẫn không thể hủy diệt được
Việt Nam, không thể giành thắng lợi. Tư
tưởng chỉ đạo quân sự “sùng bái” sức
mạnh của vật chất-kỹ thuật, vũ khí , hỏa
lực đã bị chiến tranh nhân- chiến tranh
cách mạng của ta giáng một đòn chí mạng.
Sau cuộc chiến, McNamara đã rút ra một
trong nhữ
ng kinh nghiệm, bài học là: “Lúc
đó chúng ta đã không nhận ra được những
hạn chế của các thiết bị kỹ thuật quân sự
cao và hiện đại, lực lượng quân sự và học
thuyết quân sự trong khi đối đầu với những
phong trào nhân dân được huy động cao
một cách bất thường. Chúng ta đã thất bại
trong việc thích ứng chiến thuật quân sự
của chúng ta với nhiệm vụ giành lấy trái
tim và khối óc c
ủa người dân thuộc một
nền văn hóa hoàn toàn khác” (9).
Quy luật của chiến tranh là “mạnh
được yếu thua”. Thắng lợi hay thất bại
trong một cuộc chiến là tuỳ thuộc vào
tương quan so sánh lực lượng của hai bên
tham chiến. Thế nhưng, sức mạnh ở đây
không đơn thuần là sức mạnh quân sự, mà
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 - 2009
Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM Trang 29
là sức mạnh tổng hợp được thể hiện trên
chiến trường bằng những sức mạnh vật
chất cụ thể. Dĩ nhiên, ta không bao giờ
xem nhẹ vai trò của vũ khí, kỹ thuật quân
sự hiện đại, cũng như tiềm lực kinh tế và
quốc phòng của Mỹ, nhưng cũng không
bao giờ tuyệt đối hóa chúng, không đặt
chúng trong quan hệ với con người, trong
đó nhân tố con ngườ
i có vai trò quyết định.
Chiến thắng của nhân dân ta chứng minh :
“Một nước lớn, một đội quân xâm lược số
lượng đông, trang bị rất hiện đại có thể trở
thành bất lực và hoàn toàn có thể bị đánh
bại trước sức mạnh chiến đấu của một dân
tộc nhỏ, nhưng có quyết tâm đánh địch và
có cách đánh hay, một dân tộc dũng cảm,
thông minh, quyết
đánh và đánh giỏi” (10).
“ Khả năng của một đội quân cách mạng
mưu trí và kiên quyết trong việc đánh bại
người Mỹ giàu có hơn vô cùng”(11).
2.Mỹ không thể giành lấy thế chủ
động, mà chủ yếu là rơi vào thế bị động
về chiến lược; từng bước thất bại hết
chiến lược chiến tranh này đến chiến
lược chiến tranh khác, khi “leo thang”
chiến tranh cũng nh
ư lúc “xuống thang”
chiến tranh để cuối cùng phải chấp nhận
thất bại hoàn toàn
Một trong những đặc điểm nổi bật của
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là
“cả hai bên ta và địch đều phải vừa đánh
vừa tìm hiểu đối phương” (12). Đối với ta,
việc xác định sức mạnh tối đa mà Mỹ có
thể huy động vào cuộc chiế
n tranh Việt
Nam luôn là một câu hỏi khó. Do vậy,
trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh
không thể tiến hành chiến tranh theo lối
“dốc túi” như trong kháng chiến chống
Pháp, mà điều tối quan trọng là phải xác
định chính xác mục tiêu của từng bước đi,
phải thực hiện nghệ thuật “biết thắng từng
bước cho đúng “, giành thắng lợi từng
bước tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Đối v
ới Mỹ, chúng cũng phải vừa đánh
vừa thăm dò, vừa thí nghiệm các chiến
lược quân sự, chiến thuật chiến tranh mới,
thực hành việc “leo thang chiến tranh”(“
escalation of war”) từng bước, khi cần thiết
thì xuống thang nhưng vẫn muốn có “thế
mạnh” trên bàn hội đàm Paris. Trong cuộc
“đấu trí” vừa đánh vừa tìm hiểu đó, do bị
chi phối bởi tính phi nghĩa của một cuộc
chi
ến tranh xâm lược thực dân mới, do
phương pháp đánh gía của Mỹ về so sánh
lực lượng không được khoa học, biện
chứng, do nghệ thuật quân sự của Mỹ lỗi
thời, không thích hợp để đối phó với cuộc
chiến tranh cách mạng- chiến tranh nhân
dân của ta nên Mỹ thường rơi vào thế bị
động, đi từ thất bại này đến thất bại khác.
Từ năm 1950, Mỹ
đã bắt đầu viện trợ
cho Pháp và đến năm 1953 thì 72% chiến
phí của Pháp ở Đông Dương là do Mỹ
cung cấp. Tuy vậy, Mỹ không hy vọng gì
Science & Technology Development, Vol 12, No.01 - 2009
Trang 30 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM
vào thắng lợi của Pháp mà chỉ chuẩn bị
tiền đề cho việc Mỹ nhảy vào Việt Nam
thuận lợi nhất. Bên cạnh thắng lợi, hạn chế
lớn của Hiệp định Genève-1954 trong việc
chỉ giải phóng được một nửa đất nước đã
tạo cho Mỹ thêm những điều kiện thuận lợi
nhảy vào miền Nam. Từ năm 1954 trở đi
Mỹ chủ động dùng “cuộc chiến tranh một
phía” để tấn công lực lượng cách mạng và
nhân dân ta ở miền Nam. Do tình hình thế
giới phức tạp, do chậm phán đoán âm mưu
và thủ đoạn của Mỹ,…nên ta đã chậm đề
ra đường lối và phương pháp chuyển thế
đấu tranh ở miền Nam. Vì vậy trong 4 năm
đầu tiên (1954-1958) cách mạng miền
Nam chịu nhiều tổn thất do bị địch th
ẳng
tay đàn áp, khủng bố. Cách mạng miền
Nam rơi vào thế “thoái thủ và giữ gìn lực
lượng cách mạng”(13). Thế nhưng , vào
năm 1959-1960 giũa lúc Mỹ Diệm tin
tưởng tương quan so sánh lực lượng có lợi
nhất cho chúng , chúng hy vọng có thể tiêu
diệt được cách mạng miền Nam “ lấp sông
Bến Hải” mở đường “Bắc tiến”, thì ta đã
nhìn thấy một cách toàn diện, biện chứng
tình hình so sánh lực lượ
ng, thấy được cả
chỗ mạnh và chỗ yếu của ta và địch, biết
và dám dùng chỗ mạnh của ta tiến công
vào chỗ yếu của địch để chuyển thế cho
cách mạng mạng Nam. Đảng ta xác định :
“ Cuối năm 1959 đầu năm 1960, chế độ
thống trị ở miền Nam đã lâm vào trình
trạng khủng hoảng trầm trọng. Tuy ở thành
thị địch còn tương đối m
ạnh, nhưng trong
nhiều vùng nông thôn rộng lớn, địch không
thể cai trị nhân dân một cách bình thường
được nữa; bộ máy ngụy quyền cơ sở từng
phần đã suy yếu và bất lực. Còn quần
chúng nhân dân, đặc biệt là đông đảo nông
dân, thì sục sôi cách mạng, đã tỏ ra kiên
quyết và sẵn sàng chiến đấu sống chết với
quân thù. Đó là những điều kiện chín muồi
cho phép hoạt độ
ng quần chúng nhân dân
nông thôn nổi dậy khởi nghĩa từng phần,
đập tan khâu yếu nhất trong hệ thống cai
trị của địch”(14). Mỹ Diệm không hiểu vì
sao ta lại có thể tiến hành một cuộc khởi
nghĩa to lớn như vậy, phá sập từng mảng
lớn hệ thống chính quyền cơ sở ở nông
thôn của chúng. Chúng hoàn toàn bất ngờ
trước sức vùng dậy mạnh mẽ củ
a lực lượng
chính trị và cách ta nắm lấy thời cơ một
cách táo bạo để “đồng khởi”, chuyển cách
mạng miền Nam sang thế chiến lược tiến
công. Với thắng lợi của cuộc “Đồng khởi”-
1960, Mỹ Diệm bị đẩy vào thế bị động đối
phó, hình thức thống trị của chủ nghĩa thực
dân mới bằng chính quyền tay sai độc tài
phát-xít đã b
ị sụp đổ.
Từ năm 1961, Kennedy bị động
chuyển sang chiến lược “chiến tranh đặc
biệt”, một trong ba loại chiến tranh của
chiến lược quân sự toàn cầu mới “Phản
ứng linh hoạt”(“Flexible response”). Biện
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 - 2009
Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM Trang 31
pháp chiến lược của Mỹ là dùng quân đội
tay sai hành quân càn quét, gom dân thực
hiện “quốc sách” “Ap chiến lược” (
“Strategic hamlet”). Mỹ ngụy đã hoàn toàn
bất ngờ trước khả năng tạo nên sức mạnh
tổng hợp của phương pháp cách mạng
miền Nam: “hai chân ba mũi”, kết hợp đấu
tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, tiến
công trên cả ba vùng chiến lược,… Bằng
cách đó nhân dân Việt Nam đã “phá lỏng”,
“phá rã”, “pha banh”, “phá dứt
điểm” hệ
thống Ap chiến lược của Mỹ ngụy. Sau
thắng lợi của ta ở Bình Giã, Ba Gia, Đồng
Xoài,… từ cuối 1964 đến giữa năm 1965,
sự phá sản của “chiến tranh đặc biệt” đã
qúa rõ, Johnson phải chuyển sang “chiến
lược chiến tranh cục bộ”( “Local war” hay
“Limited war”).
Mỹ chuyển sang chiến lược chiến
tranh mới trên thế thua, thế chiến lược bị
động nên dù có đưa ngày càng nhi
ều quân
Mỹ vào miền Nam, “lực lượng so sánh
giũa ta và địch vẫn không thay đổi
lớn”(15). Trong khi đó, Đảng ta đã dự kiến
rất sớm và chính xác về xu hướng phát
triển của chiến tranh (Nghị quyết BCHTW
lần thứ 9, 12-1963), nên có sự chuẩn bị đối
phó, giũ vững và thực hành chiến lược tiến
công, kết hợp phản công và tiến công
thắng Mỹ ngay từ những trận đầu,
đánh
thắng trên cả hai miền Nam Bắc. Quân ta
đã chiếm lĩnh và xây dựng thế trận tiến
công gần các trung tâm chính trị, các căn
cứ quân sự, đường giao thông chiến lược
để chia cắt và tiến công địch; kịp thời mở
ra những hướng mới đẩy lùi địch vào thế bị
động. Tháng 6-1966 ta chủ động mở mặt
trận đường 9-Bắc Quảng Trị để thu hút,
giam chân và tiêu diệt một lự
c lượng lớn
lính thủy đánh bộ Mỹ, phá vỡ ý định đưa
quân Mỹ vào Đồng bằng Sông Cửu Long,
phá kế hoạch Mỹ dự định đánh ra khu IV.
Cùng với việc bẻ gãy cuộc phản công
chiến lược 1966-1967, quân ta đã chủ động
mở ra các cuộc tiến công trên nhiều hướng,
nhất là hướng rừng núi Bắc Tây Nguyên,
Tây khu V, đường số 9, đồng bằng Nam
bộ, khu V, Trị Thiên,… Những cuộ
c hành
quân “tìm diệt” của Mỹ để tiến công ta
được nhà báo Mỹ Malcolm Browne mô tả
như “ đang dùng búa tạ đập nút bần trên
mặt nước. Bằng cách này hay cách khác
nút bần vẫn tồn tại” (16). Một nghiên cứu
của MACV( Cơ quan cố vấn viện trợ quân
sự Mỹ ở miền nam) cho thấy: “chỉ 1%
những cuộc phản công “tìm diệt” của quân
Mỹ vào nông thôn là gặp được kẻ địch, còn
85% những cuộ
c nổ súng thì đối phương là
người khai hỏa đầu tiên”(17). Tháng 12-
1967, một nghiên cứu tương tự khác của
Mỹ, dựa trên 165 cuộc nổ súng thì 73% là
do quân ta tiến công trước(18). Sau chiến
thắng đối với cuộc phản công chiến lược
mùa khô 1966-1967, Mỹ rơi vào thế “tiến
Science & Technology Development, Vol 12, No.01 - 2009
Trang 32 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM
thoái lưỡng nan về chiến lược”. Cuộc tổng
tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 là
một đòn đánh thật mạnh, thật bất ngờ vào
ý chí xâm lược của Mỹ với một cách đánh
chưa tùng diễn ra trước đó. Giũa lúc Mỹ
đang “giăng bẩy” ở Khe Sanh chờ ta tạo ra
“một cái giống như Điện Biên Phủ”, thì
hướng chính của ta là đưa chiến tranh vào
thành thị miền Nam. Chiến thắng này “đã
tạo bước ngoặt quyết định của cuộc kháng
chiến chống Mỹ cứu nước, làm đảo lộn thế
bố trí chiến lược của chúng; làm rung
chuyển cả nước Mỹ và chấn động dư luận
thế giới; làm lung lay tận gốc ý chí xâm
lược của giới cầm quyền Mỹ, mở đầu qúa
trình xuống thang chiến tranh củ
a đế quốc
Mỹ”(19).
Những hạn chế của ta do chủ quan
trong đánh gía so sánh lực lượng giữa ta và
địch trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy
1968 ( nhất là ở đợt 2 và 3), cùng với việc
ta chậm nhận ra âm mưu, thủ đọan mới của
Nixon trong Việt Nam hóa chiến tranh,
một sự vận dụng đầu tiên của “học thuyết
Nixon”, Mỹ đã có cơ hội chủ động ph
ản
công vào vùng nông thôn, giành nhiều
thắng lợi, rồi mở rộng chiến tranh ra toàn
Đông Dương. Thời gian 1968-1970 là một
trong hai thời kỳ khó khăn nhất của cách
mạng miền Nam ( thời kỳ 1954-1958 và
1968-1970) với hơn 10 vạn cán bộ, chiến
sĩ, cơ sở của ta bị thương vong(20)! Thế
nhưng, dù thâm độc và tàn bạo đến đâu,
Việt Nam hóa chiến tranh cũng ra đời
trong thế thua, thế bị động v
ề chiến lược,
thế yếu. Tháng 1-1970, nghị quyết hội nghị
của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 18
đã kịp đưa ra những phán đoán và dự kiến
đúng về âm mưu thủ đoạn của Nixon nên
ta đã chủ động đối phó, giành thắng lợi lớn
ở Kampuchia năm 1970 và ở Lào năm
1971, kịp đưa các binh đoàn chủ lực của ta
về đứng chân ở mi
ền Nam, mở ra thắng lợi
của cuộc tiến công chiến lược xuân hè
1972.
Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa
xuân 1975 là đỉnh cao của nghệ thuật quân
sự Việt Nam và cũng là đỉnh cao của sự
phá sản của nghệ thuật quân sự của Mỹ
ngụy. Do Đảng ta phát huy cao quyền chủ
động, tức quyền làm chủ trong chiến tranh
và trên toàn chiến trường nên quân địch
lâm vào thế bị động ngay t
ừ đầu và ngày
càng bị động thêm.
Đảng ta đã sớm chủ động tích cực chuẩn bị
cả thế và lực trên cả hai miền Nam Bắc từ
đầu năm 1973 nên đã tạo được lực lượng
lớn nhất và thế trận có lợi nhất cho trận
quyết chiến chiến lược cuối cùng. Đảng ta
phân tích khoa học so sánh lực lượng, hạ
quyết tâm chiến lược chính xác, luôn nắm
quy
ền chủ động, biết “phát hiện thời cơ
mới” và “tạo thời cơ mới”, giành thắng lợi
ngày càng lớn. Do đó địch đã bị bất ngờ
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 - 2009
Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM Trang 33
cả về phương hướng, mục tiêu tiến công,
về thời gian, lực lượng và cách đánh của ta
và tạo cho ta điều kiện tốt nhất để sử dụng
yếu tố bất ngờ để đánh bại địch, một vấn
đề hàng đầu trong nghệ thuật quân sự. Ở
Tây Nguyên địch bị bất ngờ về phương
hướng và mục tiêu tiến công. Ở Huế
chúng bất ngờ về cách đánh và ở Đà Nẵng
bị bất ngờ về thời gian tiến công . Ở Sài
Gòn địch bị bất ngờ về cả thời gian và quy
mô tiến công(21). Nhưng bất ngờ chiến
lược lớn nhất của địch chính là thời gian
của cuộc tổng tiến công và nổi dậy. Ngay
sau Hiệp định Paris-1973, địch bình định
lấn chiếm, làm ta mất đất, m
ất dân, lâm
vào thế bị động ở một số vùng ở miền
Nam. Điều đó càng làm cho địch chủ quan
tin rằng chúng có đến hai năm để phá hoại
Hiệp định Paris. Vì vậy, khi trận tổng tiến
công và nổi dậy nổ ra, chúng hoàn toàn bị
động về chiến lược và không đối phó kịp.
Sau chiến tranh nhìn lại tình hình suy yếu
của ngụy quân ngụy quyền trong thời gian
này, Nixon đổ lỗi cho quốc hộ
i Mỹ đã cắt
giảm viện trợ, khiến quân ngụy “bị buộc
phải chiến đấu theo kiểu con nhà
nghèo”(22). Thế nhưng, ông ta không hiểu
rằng đây không phải là nguyên nhân chính,
mà cái chính là một hệ thống những sự thất
bại và bị động của Mỹ trong suốt cuộc
chiến tranh. Trước đo, với tất cả hỏa lực
hùng hậu trong tay, Nixon đã làm được gì
hay chỉ là phả
i chấp nhận thất bại đau đớn:
ký Hiệp định Paris và rút quân Mỹ về nước
vô điều kiện. Nếu quốc hội Mỹ tiếp tục
tăng viện trợ cho chế độ Sài Gòn, thì liệu
ngụy quân có giành được thế chủ động
tiến công hay chỉ là kéo dài thêm chút nữa
sự tồn tại của chúng mà thôi!
3.Mỹ không thể phát huy cái mạnh, cái sở
trường của chúng, mà trái lại còn bị
khoét sâu vào chỗ yếu ngày càng nhiều;
không giải quyết được một loạt mâu
thuẫn về quân sự (giữa đánh nhanh và
đánh lâu dài; giữa phân tán và tập trung;
giữa phòng ngự và tiến công;…) khi đối
phó với cuộc chiến tranh nhân dân toàn
dân, toàn diện của nhân dân ta
Chỗ yếu rất cơ bản của Mỹ là tính chất
phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược
thực dân mới; Mỹ phải dựa vào ngụy quân
ngụy quyề
n nhưng chúng rất yếu vì không
có cơ sở xã hội vững chắc. Hơn nữa Mỹ
qúa chủ quan trong đánh gía so sánh lực
lượng giữa ta và chúng, xem thường cuộc
chiến tranh nhân dân của ta; qúa tin vào
sức mạnh quân sự với vũ khí và nghệ thuật
quân sự của một “quân đội chính quy hiện
đại”. Vì thế, phương châm chiến lược của
Mỹ là “đánh nhanh thắng nhanh”, càng kéo
dài chiến tranh càng không có lợi cho Mỹ
về mọ
i mặt, kể cả về kinh tế. Eisenhower
tưởng rằng chỉ bằng cuộc chiến tranh một
phía có thể tiêu diệt lực lượng cách mạng ở
Science & Technology Development, Vol 12, No.01 - 2009
Trang 34 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM
miền Nam không có quân đội chính quy.
Kế hoạch quân sự Staley-Taylor cho rằng
có thể “bình định miền Nam trong vòng 18
tháng”, kế hoạch Johnson- McNamara hy
vọng bình định một số vùng trọng điểm ở
miền Nam trong vòng hai năm,… Johnson
cũng tin rằng leo thang sang chiến tranh
cục bộ, một kiểu chiến tranh can thiệp trực
tiếp bằng quân đội Mỹ như chiến tranh
Triều Tiên, giới hạn trong phạm vi chiến
trường miền Nam và dùng chiến tranh phá
hoại bằng không quân và hải quân ở miền
Bắc là có thể nhanh chóng giành thắng lợi.
Điều mà Mỹ rất sợ là phải “sa lầy” (
“quagmire”) trong cuộc chiến tranh lâu dài
ở Việt Nam đã diễn ra! Năm 1965 khi Mỹ
đưa quân vào miền Nam, đồng chí Lê
Duẩn nhận định : “Chỗ yếu nhất của Mỹ là
phải đánh lâu dài. Hầu hết các cuộc chiến
tranh mà Mỹ tiến hành từ Chiến tranh thế
giới l
ần thứ hai đến nay, chỉ trong khoảng
ba, bốn năm chứ không lâu hơn.”(23).
Ngày 17-7-1966 khi Mỹ leo thang chiến
tranh ở cả hai miền Nam Bắc, Hồ Chủ tịch
đã chỉ rõ cho Mỹ hiểu điều mà Mỹ sợ nhất
thì nhân dân ta không sợ : “ Giôn-xơn và
bè lũ phải biết rằng chúng có thể đưa 50
vạn quân, một triệu quân hoặc nhiều hơn
nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược
miền Nam; chúng có thể dùng hàng ngàn
máy bay tăng cường đánh phá miền Bắc
nhưng chúng quyết không thể lay chuyển
được ý chí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ cứu
nước của nhân dân Việt Nam anh hùng,
chúng càng hăng thì tội ác của chúng càng
nặng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10
năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa( nhấn
mạnh, V.V.S). Hà Nội, Hải phòng; và một
số xí nghiệp có thể bị tàn phá; song nhân
dân Việt Nam quyết không sợ
. Không có
gì qúy hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng
lợi nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta
đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”(24). Do
tương quan so sánh lực lượng, phương
châm chiến lược của ta là đánh lâu dài;
đánh lâu dài là sở trường của ta, càng đánh
ta càng mạnh, càng làm chuyển hóa so
sánh lực lượng theo hướng có lợi cho ta.
Chúng ta biết đánh và biết thắng trong một
cuộc chiến tranh lâu dài với Mỹ.
Chỗ mạ
nh nhất trong tiềm lực quân sự
của Mỹ là vũ khí hạt nhân, nhưng do tương
quan so sánh lực lượng trên thế giới, do
Mỹ không còn độc quyền về vũ khí hạt
nhân, do “miền Nam Việt Nam không phải
là mối đe dọa sự sống còn của nước
Mỹ”(25), nên Mỹ không thể sử dụng chỗ
mạnh nhất ấy. Còn với vũ khí thông
thường, dù tối tân đến mức nào đi ch
ăng
nữa, thực tế chiến tranh cũng cho thấy Mỹ
không thể đánh bại cuộc chiến tranh nhân
dân do Đảng ta lãnh đạo. Ngày nay giới
nghiên cứu lịch sử và quân sự Mỹ vẫn còn
tranh luận nhau, xem sai lầm trong chiến
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 - 2009
Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM Trang 35
lược quân sự của Mỹ là do không áp dụng
những nguyên tắc quân sự cổ điển hay áp
dụng sai những nguyên tắc này để đối phó
với loại chiến tranh như chiến tranh ở Việt
Nam(26). Rõ ràng, chúng ta có thể nói
ngay, dù Mỹ vận dụng đúng đắn những
nguyên tắc chiến tranh cổ điển của
Clausewitz đến mức nào, thì cũng không
giành được thắng lợi vì một lẽ đơn giản là
những nguyên tắc ấy không đủ sức đối phó
với nghệ thuật quân sự, phương pháp cách
mạng của cuộc chiến tranh nhân dân-chiến
tranh cách mạng Việt Nam phong phú, đa
dạng và cực kỳ sáng tạo.
Thế chiến lược của chiến tranh nhân
dân địa phương kết hợp với chiến tranh
nhân dân của các binh đoàn chủ lực; của
lực lượng vũ trang kết hợp với lực l
ượng
chính trị, của ba thứ quân , trên ba vùng
chiến lược, của ba mặt trận,… đã hãm địch
vào thế bất lợi. Mỹ có đông quân, nhiều vũ
khí và như vậy chỉ triển khai thế trận có
chiến tuyến rõ ràng thì mới phát huy được
sức mạnh. Thế nhưng cuộc chiến tranh
nhân dân đánh địch ở khắp nơi, bao vây,
chia cắt, tạo ra thế chiến tranh xen kẻ rất
triệt
để, làm cho đâu đâu cũng là chiến
trường, Mỹ không có chỗ nào là an toàn
tuyệt đối. Mỹ không thể tập trung quân, mà
phải phân tán lực lượng một cách bị động,
từ đó tạo nhiều sơ hở cho ta tiến công.
Mặc dù Mỹ có nhiều phương tiện cơ giới,
có sức cơ động nhanh, nhưng chúng không
thể nhanh hơn ta được, vì với ba thứ quân
ở đâu ta cũng có lực lượng
đứng sẵn tại
chỗ. Nhờ vậy, năm 1965 khi Mỹ đổ quân
vào miền Nam, ta mới có thể tiến công
chúng khắp mọi nơi, giữ vững và phát huy
thế chiến lược tiến công.
Summers cho rằng chiến tranh Việt
Nam là “chiến tranh quy ước” (
“conventional warfare”), thế mà Mỹ chỉ
tập trung vào cuộc chiến tranh chóng nổi
dậy, tiêu diệt du kích trong khi du kích chỉ
có chức năng thực sự là quấy rối, làm
hoang mang lực lượng c
ủa Mỹ và ngụy
quân cho chủ lực đánh những đòn quyết
định(27). Phân tích như thế là không thỏa
đáng! Summers quên rằng các cuộc hành
quân “tìm diệt” trong chiến tranh cục bộ
chính là nhằm “bẻ gãy xương sống của
Việt Cộng”. Thực ra, Mỹ không làm được
điều đo, chứ không phải là không có ý
thức. Mỹ bị hãm vào vòng vây của chiến
tranh nhân dân, không xác định được đối
phương, đánh không trúng, không thi thố
được cách
đánh sở trường; bị bao vây phân
tán và bị tiêu diệt. Trong trận Junction City
(45.000 quân Mỹ ngụy, trong đó có 35.000
quân Mỹ), Mỹ không thể tiêu diệt được
chủ lực của ta. Thế trận chiến tranh nhân
dân đã được triển khai trong một vùng căn
cứ không có dân; trong đó ở giai đoạn một,
ta chỉ sử dụng chủ yếu là lực lượng du kích
Science & Technology Development, Vol 12, No.01 - 2009
Trang 36 Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM
và tự vệ cơ quan, làm cho địch hoang
mang , còn chủ lực chỉ đánh vừa và nhỏ ở
cấp tiểu đoàn; ở giai đoạn hai, qủa đấm
của các sư đoàn chủ lực của ta đã được
tung ra trước sự bất ngờ và bị động của
quân Mỹ (28).
Chiến thắng của nhân dân ta trong
cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã
chứng minh cho chi
ều sâu của trí tuệ Việt
Nam, cho sức mạnh vô địch của chiến
tranh nhân dân đối phó với chiến tranh
xâm lược thực dân mới bằng vũ khí thông
thường. Rõ ràng rằng: “Hiện nay, nói về
sức mạnh quân sự thì đáng chú ý nhất là
sức mạnh của chiến tranh nguyên tử và sức
mạnh của chiến tranh nhân dân”(29).
Những bài học chiến thắng hôm qua vẫn
còn tiếp tục gắn bó với chúng ta trong việc
xây dự
ng thế trận chiến tranh nhân dân bảo
vệ tổ quốc Việt Nam hiện nay.
FAILURE OF THE AMERICAN MILITARY IN THE NEO-COLONIALIST
WAR IN VIET NAM (1954-1975)
Vo Van Sen
University of Social Sciences and Humanities, VNU-HCM
ABSTRACT: the paper analyses the failure of the basic prevailing thinking adopted by
the US military during the war of aggression in Viet Nam, specifically:
- The over-estimate of US military capability, and its reliance on modern weapon
technology
- The US failure to obtain a strategic position of strength
- The US failure to resolve conflicting military tactics between fighting fast and long-
standing fighting, between diffusion and concentration, between defensive and offensive
when facing the Vietnam people’s war.
TẠP CHÍ PHÁT TRIỂN KH&CN, TẬP 12, SỐ 01 - 2009
Bản quyền thuộc ĐHQG-HCM Trang 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Võ Nguyên Giáp, Chiến tranh giải phóng dân tộc và chiến tranh bảo vệ tổ quốc.
NXB ST, HN, 1979, tr. 382.
[2]. James S. Olson, Randy Roberts, Where the Domino fell: American and Vietnam,
1945-1975. NXB St. Martin’s Press, New York, 1996, tr. 163.
[3]. Marilyn Young, The Vietnam Wars 1945-1990. NXB Harper Perennial, 1991, tr.
186.
[4]. James S. Olson, Randy Roberts, sđd, tr. 161.
[5]. Gabriel Kolko, Anatony of a War. NXB Pantheon, New York, 1985, tr. 179-180.
[6]. Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước- Những sự kiện quân sự. NXB QĐND, HN,
1980, tr. 112.
[7]. Việt Nam anh hùng, Báo Nhân Dân ngày 29-6-1968.
[8]. Robert S. Mc Namara, In Retrospect- the tragedy and lessons of Vietnam. NXB
Times Books, New York, 1995, tr. 322.
[9]. Võ Nguyên Giáp, sđd, tr. 385.
[10]. Gabriel Kolko, sđd, tr. 180.
[11]. Ban Chỉ Đạo T
ổng Kết Chiến Tranh (trực thuộc Bộ Chính Trị), Tổng kết cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước- Thắng lợi và bài học. NXB CTQG, HN, 1995, tr. 31, 34.
[12]. Lê Duẩn, Hăng hái tiến lên dưới ngọn cờ vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười, .NXB
ST, HN, 1969, tr. 41.
[13]. Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 12, 27-12-1965.
[14]. James S. Olson, Randy Roberts, sđd, tr. 161.
[15]. Jaynes Werner, Luu Doan Huynh (edited), The Vietnam War: Vietnamese and
American Perspectives. NXB M.E. Sharpe, New York, 1993, tr. 155.
[16]. Ban Chỉ Đạo Tổ
ng Kết Chiến Tranh (trực thuộc Bộ Chính Trị), sđd, tr. 74, 315.
[17]. Xem Võ Nguyên Giáp, sđd, tr. 489-490.
[18]. Richard Nixon, The Memoirs of Richard Nixon. NXB A Touchstone Book, New
York, London,…, 1990, tr. 889.
[19]. Lê Duẩn, Thư vào Nam. NXB ST, HN, 1985, tr. 100.
[20]. Hồ Chí Minh, Vì độc lập tự do vì chủ nghĩa xã hội. NXB ST, HN, 1975, tr.281.
[21]. Ban Chỉ Đạo Tổng Kết Chiến Tranh (trực thuộc Bộ Chính Trị), sđd, tr. 125.
[22]. Jaynes Werner, Luu Doan Huynh (edited), sđd, tr. 113.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét