Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Nghiên cứu thực trạng việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường CDDSPTW

TÓM TẮT NỘI DUNG LUẬN VĂN
Thương mại điện tử hiện đang phát triển rất mạnh mẽ tại Việt Nam. Các loại
hình thương mại điện tử phổ biến có thể kể đến đó là B2C- Doanh nghiệp với khách
hàng, C2C-khách hàng với khách hàng, B2B- Doanh nghiệp với doanh nghiệp.
Vấn đề đánh giá giá chất lượng hệ thống thương mại điện tử là một vấn đề
mới, không chỉ đối với lĩnh vực CNTT ở Việt Nam mà còn đối với thế giới. Việc
đánh chất lượng các hệ thống thương mại điện tử cũng phải dựa trên các chuẩn đánh
giá giống như đánh giá chất lượng phần mềm đó là chuẩn ISO/IEC 9126. Chuẩn này
được dùng để đánh giá chất lượng phần mềm và có các đặc tính tính năng
(Functionality), độ ổn định hoặc khả năng tin cậy ( Reliability), tính khả dụng
(Usability), tính hiệu quả (Efficiency), Khả năng duy trì (Maintainability), Tính khả
chuyển (Protability). Đối với việc đánh giá chất lượng của hệ thống thương mại điện
tử ta chỉ dùng bốn đặc tính chất lượng đó là tính năng (Functionality), độ ổn định
hoặc khả năng tin cậy ( Reliability), tính khả dụng (Usability), tính hiệu quả
(Efficiency).
Mô hình đánh giá sẽ dựa trên các đặc tính yêu cầu được đưa ra trong tiêu
chuẩn trên, và mô hình được xây dựng trên nền mạng BN(Baysian Network) với cơ
sở lý thuyết xác suất Bayes đế tính các giá trị xác suất của các thuộc tính chất lượng.
Các giá trị xác suất này sẽ cho chúng ta biết được chất lượng các chức năng của hệ
thống cũng như chất lượng tổng thể của toàn bộ hệ thống thương mại điện tử.
Mô hình đánh giá đưa ra trong luận văn là mô hình đánh giá dành cho các hệ
thống thương mại điện tử loại B2C, mô hình đã đưa vào đánh giá một số website
thương mại và có báo cáo phân tích cụ thể chất lượng của từng hệ thống, sau đây là
toàn bộ nội dung của luận văn.
5
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay tại các nước phát triển, thương mại điện tử là một loại hình thương
mại đã rất phổ biến. Người dùng Internet tại các nước phát triển có thể mua, bán, trao
đổi hầu như mọi thứ qua mạng. Việc thanh toán cũng qua mạng và thực hiện rất dễ
dàng bằng cách chuyển khoản hoặc sử dụng thẻ tín dụng. Còn đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam thì thương mại điện tử đi qua giai đoạn đầu của quá trình
phát triển.
Theo báo cáo tình hình ứng dụng thương mại điện tử năm 2007 của Bộ Công
Thương thì cho đến cuối năm 2007 Thương mại điện tử Việt Nam đã có nhiều thay
đổi đáng kể. Việc ứng dụng thương mại điện tử ở các doanh nghiệp đang tăng lên
nhanh chóng nhất là trong lĩnh vực du lịch, chứng khoán và bán lẻ. Các loại hình
thương mại được phát triển phổ biến đó là B2C- doanh nghiệp với người tiêu dùng,
C2C- Người tiêu dùng với người tiêu dùng và B2B- Doanh nghiệp với doanh nghiệp.
Việc thanh toán điện tử đã có nhiều cải thiện, đã có các doanh nghiệp cung cấp dịch
vụ thanh toán điện tử tiêu biển là PayNet và VnPay. Các ngân hàng cũng chú ý đến
việc thanh toán điện tử hơn, nhiều ngân hàng đã có các dịch vụ ngân hàng trực tuyến
như Techcombank và Đông á. Ngoài ra các cổng thanh toán điện tử cũng đang hoàn
thiện dần tiêu biểu là SmartLink và Banknetvn. Đây là các yếu tố quan trọng ảnh
hưởng đến sự phát triển của thương mại điện tử Việt Nam.
Bên cạnh các vấn đề nói trên một yếu tố quan trọng nữa ảnh hưởng đến sự
phát triển của thương mại điện tử Việt Nam đó là vấn đề xây dựng các hệ thống
thương mại điện tử của các doanh nghiệp ứng dụng thương mại điện tử. Chất lượng
của các hệ thống thương mại điện tử của các doanh nghiệp là nhân tố chính ảnh
hưởng đến sự thành công về mặt ứng dụng thương mại điện tử của doanh nghiệp đó.
Đối với các nước phát triển thì các hệ thống thương mại điện tử khi đưa vào
sử dụng đều được đánh giá chất lượng để tìm ra những điểm hạn chế và khắc phục
chúng. Và để làm được điều này thì đã có nhiều giải pháp được đưa ra như đánh giá
chất lượng theo hướng công nghệ của (Zwass, 1996; Elfriede & Rashka, 2001), đánh
giá dựa trên phản hồi từ người dùng cuối, nhưng tập trung chính vào tính khả dụng
(usability) của hệ thống, đánh giá dựa vào đặc tính cụ thể như các vấn đề như đặc
tính thể hiện sự giao dịch thành công (Bidgoli, 2002), hoặc đảm bảo tính tin cậy của
hệ thống (Elfriede & Rashka, 2001) vv…Mặc dù tất cả các nhân tố trên ảnh hưởng
đến chất lượng của hệ thống thương mại điện tử và là điều kiện tiên quyết cho sự
thành công của hệ thống, nhưng chúng không phải là những nhân tố duy nhất. Để
6
đánh giá được chất lượng hệ thống thương mại điện tử thì phương pháp tổng thể là
kết hợp tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống.
Chính vì vậy chuẩn ISO/IEC 9126 ra đời nhằm đáp ứng vấn đề đánh giá chất
lượng các hệ thống thương mại điện tử. Chuẩn này được áp dụng cả cho đánh giá
phần mềm và cả hệ thống thương mại điện tử.
Ở Việt Nam chưa có một báo cáo nào về đánh giá chất lượng các hệ thống
thương mại điện tử dựa trên chuẩn ISO/IEC 9126, do vậy luận văn này là một trong
những báo cáo tìm hiểu đầu tiên về việc ứng dụng chuẩn ISO/IEC 9126 vào đánh giá
chất lượng các hệ thống thương mại điện tử. Hy vọng rằng luận văn này sẽ đóng góp
một phần vào sự phát triển thương mại điện tử tại Việt Nam.
7
Chương I TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
1.1 Khái niệm thương mại điện tử
Thương mại điện tử là việc mua và bán các sản phẩm và dịch vụ thông qua hệ
thống điện tử như Internet và các mạng máy tính khác
1
. TMĐT không chỉ bắt đầu từ
khi có Web, ngay từ những năm 70 TMĐT đã có thể coi như đã tồn tại khi có nhiều
mua bán giữa các doanh nghiệp được thực hiện bằng giao thức EDI (Electronic Data
Interchange) thông qua các mạng VAN (Value-Added Networks). Tuy nhiên thương
mại điện tử thực sự phát triển kể từ khi có mạng Internet. Rất nhiều hình thức thương
mại điện tử sử dụng internet như chuyển tiền điện tử (electronic funds transfer), quản
lý dây chuyền cung ứng (SCM), Maketing qua mạng internet, xử lý giao dịch trực
tuyến trao đổi dữ liệu số, mua bán qua mạng vv…
1.2 Các loại hình thương mại điện tử
Các giao dịch của thương mại điện tử diễn ra bên trong và giữa ba nhóm tổ
chức chủ yếu là: doanh nghiệp, các cơ quan nhà nước (Chính phủ) và người tiêu
dùng. Dựa vào các chủ thể tham gia giao dịch thương mại điện tử người ta phân
thành các loại mô hình giao dịch thương mại điện tử, bao gồm doanh nghiệp với
doanh nghiệp (business to business - B2B; doanh nghiệp với cơ quan nhà nước
(business to government -B2G); doanh nghiệp với người tiêu dùng (business to
consumer - B2C); cơ quan nhà nước với cơ quan nhà nước (Government to
Government G2G); cơ quan nhà nước với người tiêu dùng ( Government to consumer
G2C); người tiêu dùng với người tiêu dùng (consumer to comsumer - C2C). Trong
chương này chỉ nêu những mô hình có tính chất phổ biến đối với các doanh nghiệp và
có thể áp dụng tại Việt Nam.
1
Theo wikipedia
8

Hình 1.1 Các mô hình giao dịch điện tử của các tổ chức
1.2.1 Mô hình giao dịch doanh nghiệp – người tiêu dùng (B2C)
Do đối tượng tham gia mô hình giao dịch này gồm doanh nghiệp và người tiêu
dùng nên thương mại điện tử dạng B2C có sức lan tỏa mạnh và thường được xã hội
chú ý. Đây cũng là phương thức thường được doanh nghiệp lựa chọn khi bước đầu
triển khai ứng dụng thương mại điện tử, đặc biệt với những doanh nghiệp vừa và nhỏ
hướng tới phục vụ đối tượng người tiêu dùng.
Ta có thể rút ra một số nhận định sau:
- Điểm mấu chốt quyết định thành công của một website thương mại điện tử
B2C là khả năng thu hút và duy trì sự quan tâm của người tiêu dùng.
Mô hình kinh doanh thương mại điện tử theo phương thức B2C phù hợp hơn với các
doanh nghiệp thương mại dịch vụ.
- Thành công của các công ty theo mô hình B2C là nhờ vào những thuận lợi
trong việc mua hàng mà họ có thể cung cấp cho khách hàng. Quá trình này có phần
tương tự với dịch vụ khách hàng kiểu cũ. Các công ty như Amazon.com vv đã thu
hút được đông đảo khách hàng trực tuyến chủ yếu là nhờ vào việc đáp ứng một cách
hoàn hảo nhu cầu của họ.
9
Hình 1.2 Mô hình thương mại điện tử B2C
1.2.2. Mô hình giao dịch doanh nghiệp - doanh nghiệp (B2B)
Giữa các doanh nghiệp, TMĐT được sử dụng để trao đổi dữ liệu, mua bán và
thanh toán hàng hoá và dịch vụ. Về mặt công nghệ trong khi B2C chủ yếu sử dụng
cửa hàng ảo trên mạng, mô hình B2B chủ yếu sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI).
Về thanh toán, trong mô hình dạng B2B việc thanh toán được tiến hành trên
cơ sở quyết toán bù trừ vào cuối kỳ và có thể thực hiện theo phương thức truyền
thống mà vẫn không làm giảm ý nghĩa của nó. Trong khi đó ở mô hình B2C, việc
thanh toán được quan tâm đặc biệt vì mua hàng lần nào thanh toán lần đó. Đấy là chỗ
khác nhau căn bản giữa hai loại mô hình B2B và B2C. Các mô hình của thương mại
điện tử B2B:
Có nhiều kiểu mô hình B2B cho các kiểu kinh doanh khác nhau, trong đó đặc
trưng nhất là các mô hình sau:
- Mô hình bán hàng thông qua hệ thống các đại lý
- Mô hình mua hàng thông qua tập hợp các nhà cung cấp
- Mô hình hỗn hợp mở rộng extended site (ES)
- Mô hình bán đấu giá
- Mô hình gọi thầu
10
Hình 1.3 Mô hình thương mại điện tử B2B
1.1.3. Customer to Customer (C2C)
Hình 1.4 Mô hình thương mại điện tử C2C
Phương thức giao dịch thương mại điện tử C2C diễn ra giữa các cá nhân
người tiêu dùng với nhau, cá nhân người tiêu dùng đưa thông tin về sẩn phẩm trên
mạng người mua xem thông tin và đặt mua các phiên giao dịch diễn gia trực tiếp.
Mô hình C2C phụ thuộc rất nhiều vào trình độ thương mại điện tử, đòi hỏi
từng cá nhân tham gia giao dịch kiến thức và hiểu biết rất rõ về thương mại điện tử.
khác hẳn so với thương mại điện tử B2C hoặc B2B là những mô hình kinh doanh
dựa trên doanh nghiệp và do doanh nghiệp làm động lực. Hiện nay tốc độ phát triển
khá nhanh về số lượng trang web cũng như lượng thông tin đăng trên từng trang. Đây
là những website thông tin về các loại hàng hóa và dịch vụ cần bán, cần mua, đi cùng
với một số tiện ích như tìm kiếm, tư vấn tiêu dùng, v.v
Đặc điểm của mô hình này:
11
Mô hình này bao gồm giao dịch giữa những khách hàng. Ở đây, khách hàng
thực hiện việc mua bán trực tiếp với khách hàng khác.
http://www.ebay.com/ và http://www.bazee.com/ là trường hợp điển hình mà thông
qua đó, người bán có thể quảng cáo và bán sản phẩm của mình tới người mua khác.
Nhưng để thực hiện các giao dịch này thì người bán và người mua phải đăng ký với
nhà cung cấp dịch vụ trên các site thương mại điện tử mà mình muốn thực hiện mua
và bán.
Đồng thời người bán phải trả một khoảng phí cố định cho nhà cung cấp dịch
vụ (ở đây là các site thương mại điện tử), người mua có thể trả giá cho sản phẩm
mình mua mà không cần trả bất kỳ một khoản phí nào
Ví dụ: ebay.com, Chodientu.vn, Half.com
Hình 1.5 Mô hình thương mại điện tử C2B
Trong mô hình này đối tượng chủ yếu là khách hàng và doanh nghiệp đặc
điểm của mô hình này cũng tương tự như mô hình B2C, như ở đây khách hàng (cá
nhân) là người bán, còn doanh nghiệp là người mua.
Trong mô hình này thì người khách hàng là người bán trực tiếp đưa ra các
thông tin về sản phẩm nhận đặt hàng xử lý và gửi sản phẩm doanh nghiệp là người
mua (xem thông tin sản phẩm và đặt mua sản phẩm)
1.3. Tình hình phát triển TMĐT trên thế giới
Theo báo cáo thương mại điện tử 2005 của UNCTAD, tốc độ tăng trưởng về
số lượng người sử dụng Internet toàn cầu là 15,1%, thấp hơn so với 2 năm trước đó
(26%). Tuy số người sử dụng Internet ngày càng tăng nhanh ở Châu Phi (56%), Đông
Nam Á và SNG (74%) nhưng nhìn chung khoảng cách giữa các nước phát triển và
đang phát triển vẫn rất lớn (chỉ 1,1% người dân Châu Phi truy cập được Internet năm
2003 so với 55,7% của dân cư Bắc Mỹ). Nhằm tận dụng triệt để tính năng của
12
Internet, người sử dụng không chỉ cần có kết nối mà họ còn cần kết nối nhanh với
chất lượng tốt. Trong một số ứng dụng kinh doanh điện tử, băng thông rộng đã trở
thành một điều kiện không thể thiếu. Nếu các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước
đang phát triển không thể truy cập Internet băng rộng, họ khó có thể triển khai các
chiến lược ICT nhằm cải thiện năng suất lao động trong những mảng tìm kiếm và
duy trì khách hàng, kho vận và quản lý hàng tồn. Hiện nay, Mỹ chiếm hơn 80% tỷ lệ
TMĐT toàn cầu, và tuy dung lượng này sẽ giảm dần, song Mỹ vẫn có khả năng lớn
cho việc chiếm tới trên 70% tỷ lệ TMĐT toàn cầu trong 10-15 năm tới. Mặc dù một
số nước châu Á như Singapore và Hong Kong (Trung Quốc) đã phát triển rất nhanh
và rất hiệu quả, thương mại điện tử tử các nước khác ở châu lục này đều còn phát
triển chậm.
Thương mại điện tử không chỉ giải quyết những yêu cầu thiết yếu, cấp bách
trên các lĩnh vực như hệ thống giao dịch hàng hoá, điện tử hoá tiền tệ và phương án
an toàn thông tin , mà hoạt động thực tế của nó còn tạo ra những hiệu quả và lợi ích
mà mô hình phát triển của thương mại truyền thống không thể sánh kịp (ví dụ, trường
hợp hiệu sách Amazon, trang web đấu giá eBay). Chính vì tiềm lực hết sức to lớn của
thương mại điện tử nên chính phủ các nước đều hết sức chú trọng vấn đề này. Nhiều
nước đang có chính sách và kế hoạch hành động để đẩy mạnh sự phát triển của
thương mại điện tử ở nước mình, nhằm nắm bắt cơ hội của tiến bộ công nghệ thông
tin nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước,
giành lấy vị trí thuận lợi trong xã hội thông tin tương lai.
Khoảng cách ứng dụng thương mại điện tử giữa các nước phát triển và đang
phát triển vẫn còn rất lớn. Các nước phát triển chiếm hơn 90% tổng giá trị giao dịch
thương mại điện tử toàn cầu, trong đó riêng phần của Bắc Mỹ và châu âu đã lên tới
trên 80%. Phương thức kinh doanh B2B đang và sẽ chiếm ưu thế nổi trội so với B2C
trong các giao dịch thương mại điện tử toàn cầu. Trong phương thức B2C, loại hình
bán lẻ tổng hợp (siêu thị thương mại điện tử) dù chiếm tỷ lệ không cao trong tổng số
cửa hàng bán lẻ trực tuyến nhưng lại nắm giữ phần lớn giá trị giao dịch B2C trên thị
trường ảo. Việc kết hợp cửa hàng bán lẻ trực tuyến với các kênh phân phối truyền
thống hiện vẫn là phương thức được nhiều nhà kinh doanh lựa chọn.
1.4. Tình hình phát triển thương mại điện tử ở Việt Nam
Mặc dù chưa phải là thước đo trình độ triển khai ứng dụng thương mại điện tử
của doanh nghiệp, nhưng số lượng và chất lượng các website kinh doanh cũng là một
tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ phát triển thương mại điện tử, đặc biệt trong
bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam còn tương đối bỡ ngỡ với các phương thức tiến
13
hành thương mại điện tử của thế giới. Khi việc kết nối hệ thống giữa các đối tác
chiến lược để tiến hành trao đổi dữ liệu điện tử trực tiếp ở Việt Nam hiện còn chưa
phát triển, thì các website là kênh phổ biến nhất để doanh nghiệp quảng bá sản phẩm,
xúc tiến dịch vụ và tiến hành giao dịch thương mại điện tử cả theo hình thức B2B lẫn
B2C. Do vậy, nếu một doanh nghiệp xây dựng và duy trì được một website hiệu quả
để phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, điều này đã nói lên một
trình độ nhất định về triển khai ứng dụng thương mại điện tử trong doanh nghiệp đó.
Hàng năm, Vụ Thương mại điện tử – Bộ Thương mại đều tiến hành các hoạt
động điều tra, đánh giá hiện trạng hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam, đặc biệt
là tình hình ứng dụng thương mại điện tử ở của các doanh nghiệp. Theo Báo cáo
thương mại điện tử năm 2005, trong tổng số 504 doanh nghiệp được khảo
sát thì có 46,2% doanh nghiệp đã thiết lập website. Tuy nhiên hầu hết các doanh
nghiệp được khảo sát đều tập trung ở những thành phố hoặc khu công nghiệp trọng
điểm của các tỉnh, nơi hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông tương đối tốt.
Chiếm phần lớn (68,7%) trong những doanh nghiệp đã thiết lập website là các doanh
nghiệp kinh doanh thương mại - dịch vụ. Số website của doanh nghiệp sản xuất mặc
dù còn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn nhưng cũng đã nói lên sự quan tâm nhất định của
những doanh nghiệp này đối với việc ứng dụng thương mại điện tử để tiếp thị cho
sản phẩm của mình. Tính gộp cả khối doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương
mại - dịch vụ, số lượng sản phẩm được giới thiệu trên các website cũng rất đa dạng.
Nhìn vào cơ cấu hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu trên các website doanh
nghiệp, có thể thấy nhóm hàng hóa phổ biến nhất hiện nay vẫn là thiết bị điện tử -
viễn thông và hàng tiêu dùng. Do đặc thù của mặt hàng điện tử - viễn thông và đồ
điện gia dụng là mức độ tiêu chuẩn hóa cao, với những thông số kỹ thuật cho phép
người mua đánh giá và so sánh các sản phẩm mà không cần phải giám định trực
quan, nhóm hàng này sẽ tiếp tục chiếm ưu thế khi thâm nhập các kênh tiếp thị trực
tuyến trong vòng vài năm tới. Về lĩnh vực dịch vụ, dẫn đầu về mức độ ứng dụng
thương mại điện tử hiện nay là các công ty du lịch, điều này cũng phù hợp với tính
chất hội nhập cao và phạm vi thị trường mang tính quốc tế của dịch vụ này. So với
năm 2004, năm 2005 có một loại hình dịch vụ mới nổi lên như lĩnh vực ứng dụng
mạnh thương mại điện tử là dịch vụ vận tải giao nhận, với rất nhiều website công phu
và có nhiều tính năng tương tác với khách hàng.
Có tới 87,6% số doanh nghiệp có website cho biết đối tượng họ hướng tới khi
thiết lập website là các tổ chức và doanh nghiệp khác, trong khi 65,7% doanh nghiệp
chú trọng tới đối tượng người tiêu dùng. Như vậy, phương thức giao dịch B2B sẽ là
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét