Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

Phân tích thực trạng dân số thành phố Hồ Chí Minh


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH



NGUYỄN VĂN TRÃI


PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ DỰ BÁO
DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẾN NĂM 2019

Chuyên ngành: Khoa Học Thống Kê
Mã số: 62.46.50.01



TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ





THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - 2009
Công trình được hoàn thành tại Trường Đại Học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh



Người hướng dẫn khoa học:
1. TS TRẦN VĂN THẮNG
2. TS LÊ THỊ THANH LOAN




Phản biện 1: PGS. ĐẶNG HẤN
Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh
Phản biện 2: PGS.TS. NGUYỄN THỊ KIM THÚY
Trường Cao đẳng Công nghệ và Quản trò kinh doanh TP.HCM
Phản biện 3: PGS.TS ĐỖ NGỌC TẤN
Vụ Dân số – Kế hoạch hóa gia đình





Luận án sẽ được bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh vào lúc ………giờ
………, ngày …… tháng …… năm ……….



Có thể tìm hiểu luận án tại Thư viện quốc gia hoặc Thư viện trường Đại học Kinh Tế Thành
phố Hồ Chí Minh.
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
ĐÃ ĐƯC CÔNG BỐ


1. Nguyễn Văn Trãi (2007), Vận dụng một số mô hình toán thống kê trong dự báo dân số
thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên tạp chí phát triển kinh tế số 197, tháng 3/2007, trang 24.
2.
Nguyễn Văn Trãi (2007), Vài nét về sự gia tăng dân số ở thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên
tạp chí thông tin khoa học thống kê số 3/2007, trang 8.


-1-
MỞ ĐẦU

1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghò quyết Hội Nghò Ban Chấp Hành Trung ương Đảng lần thứ tư (Khoá VII) ngày 14/1/1993
khẳng đònh công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình là một bộ phận quan trọng trong chiến lược
phát triển đất nước, là một trong những vấn đề kinh tế – xã hội hàng đầu của nước ta, là một yếu
tố cơ bản nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và của toàn xã hội.
Qui mô, cơ cấu, tỷ lệ gia tăng dân số có tác động lớn đến sự phát triển của một nền kinh tế.
Để quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, cần có một sự hiểu biết về qui mô, thành phần dân số,
về sự phát triển và sự biến động dân số. Để lập kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế-xã hội, yêu
cầu biết tổng quát số lượng dân số – lao động trong từng giai đoạn thời gian sắp tới. Hơn nữa, nhu
cầu số liệu dân số cho các công trình kế hoạch hóa, các chương trình phát triển kinh tế – xã hội
không chỉ đặt ra với cả nhà nước mà còn cho các cấp đòa phương trong đó đặc biệt chú ý là cấp
vùng, tỉnh, thành phố. Những nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng nhờ công tác dự báo dân số.
Do đó, việc đánh giá hiện trạng dân số, dự báo dân số, phân tích và sử dụng kết quả dự báo
vào một số lónh vực của cuộc sống xã hội thành phố Hồ Chí Minh là rất cần thiết và đề tài “Phân
tích thực trạng và dự báo dân số thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2019” đã được hình thành từ
những suy nghó trên.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu, đề xuất những phương pháp dự báo dân số là vấn đề rất khó, hơn nữa việc vận
dụng những phương pháp đã có trong thực tế ngày lại càng khó hơn do những thay đổi bất thường
xảy ra trong dân cư. Luận án đã dựa vào số liệu các cuộc tổng điều tra dân số, các cuộc điều tra
mẫu và các số liệu thống kê khác đã được công bố để tính toán, dự báo, kiểm đònh để chọn lựa
phương pháp thích hợp, phân tích, nhằm xây dựng nên một bức tranh tương đối tổng hợp về dân số
thành phố Hồ Chí Minh trong tương lai, nhằm cung cấp những thông tin có ích, góp phần giải
quyết những vấn đề kinh tế – xã hội đã được nêu ra ở trên.
3. ĐỐI TƯNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài là dân số trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Sau một năm
là thành viên WTO, bức tranh toàn cảnh kinh tế của thành phố năm 2007 có nhiều điểm sáng nổi
bậc hơn năm 2006. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của thành phố tăng 12,6%; giá trò xuất khẩu
hàng hóa tăng 17,2%; tổng thu ngân sách nhà nước tăng 18,1%; tỉ lệ thất nghiệp khu vực thành thò
giảm còn 5,50%. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng đặt ra là phải đònh hướng đúng đắn để đạt được sự
phát triển toàn diện, bền vững với số dân, cơ cấu dân số hợp lý, … và trên kết quả dự báo dân số,
chúng ta có thể tiến hành dự báo chi tiết hơn cho một số lónh vực mà các nhà lập kế hoạch quan
tâm.
4. PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU
Về cơ sở lý luận, đề tài dựa vào dân số học, kinh tế học, xã hội học, còn về phương pháp
nghiên cứu toàn bộ đề tài dựa trên chủ nghóa duy vật biện chứng, các phương pháp và mô hình
toán học, các phương pháp thống kê và phương pháp dân số học. Ngoài ra để tính toán và minh
hoạ đề tài cũng sử dụng các phần mềm tin học như Excel để xử lý số liệu.
5. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯC VÀ MỘT SỐ ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
1/ Vận dụng các phương pháp dự báo dân số để dự báo dân số thành phố Hồ Chí Minh một
cách cụ thể, từ đó cho thấy tính khả thi của việc sử dụng kết quả dự báo vào một số lónh vực trong
đời sống kinh tế – xã hội của thành phố.
2/ Số liệu được sử dụng trong luận án đã được phân tích tỉ mỉ, kiểm tra tính chính xác của dữ
liệu bằng phương pháp Myer, trên cơ sở kết hợp giữa số liệu của thống kê dân số thường xuyên và
số liệu của Tổng điều tra dân số để số liệu mang tính hiện thực, sinh động hơn.
-2-
3/ Phần lý luận trong luận án đã được sắp xếp, trình bày và phân tích một cách có hệ thống, rõ
ràng. Các phương pháp dự báo được sử dụng trong luận án đã được phân tích, đánh giá ưu điểm,
nhược điểm của từng phương pháp dự báo.
4/ Điểm mới trong luận án là kết hợp giữa dự báo dân số theo các phương pháp toán học với cơ
cấu dân số thành phố (đã qua phân tích nhiều năm) để dự báo thành phần tuổi của dân số, và các
phương pháp toán học này được cũng được kiểm đònh bằng phương pháp toán thống kê để chọn
phương pháp thích hợp nhất.
5/ Cuối cùng, trong luận án cũng đã phân tích và sử dụng kết quả dự báo vào một số lónh vực
của cuộc sống kinh tế – xã hội nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho những nhà hoạch đònh
chính sách của thành phố.
6. KẾT CẤU LUẬN ÁN
Luận án gồm 169 trang, 48 bảng, 12 biểu đồ, hình. Kết cấu nội dung gồm mở đầu, ba chương
và phần kết luận và kiến nghò
• Chương 1: Cơ sở lý luận về phân tích thực trạng và dự báo dân số.
• Chương 2: Phân tích một số đặc điểm cơ bản và thực trạng biến động của dân số thành phố
Hồ Chí Minh trong thời kỳ 1975 đến nay.
• Chương 3: Dự báo dân số thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2019 và sử dụng kết quả dự báo
vào một số lónh vực
-3-
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG
VÀ DỰ BÁO DÂN SỐ

1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ xa xưa con người đã biết thu thập thông tin về dân số trước hết là số đàn ông, số đàn bà.
Ngày nay, loài người ngày càng trở nên đông đúc hơn trên bình diện toàn thế giới cũng như từng
quốc gia, đòi hỏi mỗi nhà nước phải nắm vững số lượng, chất lượng, biến động dân cư, … tạo điều
kiện cho khoa học dân số ra đời để nghiên cứu khoa học về dân số.
1.1.1 Qui mô dân số
Khi nghiên cứu dân số thành phố Hồ Chí Minh thì thông tin quan trọng và cần thiết, thường
được thu thập đầu tiên là quy mô dân số. Nó được hiểu là tổng số người hay tổng số dân sinh sống
(cư trú) trên đòa bàn thành phố vào một thời điểm xác đònh, chẳng hạn, đầu năm, giữa năm, cuối
năm.
1.1.2 Dân số trung bình
Tổng số dân là chỉ tiêu thời điểm – nó cần thiết trong quá trình tính toán, phân tích, so sánh
với các chỉ tiêu kinh tế xã hội nhằm lý giải nguyên nhân, tình hình và hoạch đònh chiến lược phát
triển. Trong thực tế, để phân tích các hiện tượng dân số ở chương II, như phân tích mức độ sinh,
mức độ chết, v.v… cần phải tính toán dân số trung bình trong một khoảng thời gian nhất đònh,
thường là trong một năm.
1.1.3 Tỷ lệ tăng dân số hàng năm
Là chỉ tiêu cơ bản biểu thò mức độ tăng trưởng hay suy thoái dân số trong một khoảng thời gian
nhất đònh.


1.1.4 Cơ cấu dân số theo giới tính và độ tuổi
Mỗi một dân số khác nhau đều có cơ cấu giới tính và tuổi khác nhau – tức là số lượng hay tỷ lệ nam và
nữ ở mỗi độ tuổi hay nhóm tuổi là khác nhau và cấu trúc này có tác động quan trọng đến tình hình dân số
cũng như kinh tế xã hội, cả hiện tại và trong tương lai.
Tỷ số giới tính là tỷ số nam so với nữ của một dân số nhất đònh, thông thường được biểu thò
bằng số nam trên 100 nữ.
Tỷ số phụ thuộc theo tuổi là tương quan giữa tổng số trẻ em 0-14 tuổi và người già 60 tuổi trở
lên so với số lượng dân số trong nhóm tuổi 15-59 tuổi.
Tháp dân số hay còn gọi là tháp tuổi, là một công cụ biểu diễn cơ cấu dân số theo giới tính và
độ tuổi dưới dạng đồ thò.
1.1.5 Những chỉ tiêu phản ánh biến động dân số
Những chỉ tiêu đánh giá mức độ sinh sản
Tỷ suất sinh sản thô là số trường hợp sinh ra sống trên 1000 dân vào một thời kỳ nhất đònh
thường là một năm.
Tỷ suất sinh chung là số trường hợp sinh ra sống trên 1000 phụ nữ tuổi 15-49 trong một năm
nhất đònh. Đây là cách đo mức sinh tinh tế hơn tỷ suất sinh thô bởi vì nó liên hệ những trường hợp
sinh sát hơn với nhóm tuổi và giới có nguy cơ sinh sản (tức phụ nữ 15-49 tuổi).
Tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi (nhóm tuổi) là tương quan giữa số sinh ra sống do phụ nữ một độ
tuổi hoặc nhóm tuổi nào đó sinh ra trong năm và số phụ nữ trung bình của độ tuổi hoặc nhóm tuổi đó trong
năm.
-4-
Tổng tỷ suất sinh cho biết số con trung bình sinh ra sống của một phụ nữ (hay 1000 phụ nữ) có
thể sinh ra trong suốt cuộc đời sinh sản của mình và tuân theo tỷ suất sinh đặc trưng theo tuổi
(hoặc nhóm tuổi) ấn đònh trước vào một năm nhất đònh nào đó.
Tỷ suất tái sinh sản thô biểu thò số con gái trung bình mà một (hoặc 1000) phụ nữ sinh ra trong
suốt cuộc đời sinh sản của mình khi đi qua các độ tuổi có khả năng sinh sản theo tỷ suất đặc trưng
theo tuổi hiện hành nào đó, nếu như tất cả họ đều sống đến hết thời kỳ có khả năng có con.
Tỷ suất tái sinh sản thuần, cũng giống như tỷ suất tái sinh sản thô, nhưng nó chỉ tính đến số con
gái còn sống đến tuổi của bà mẹ sinh ra mình để có thể tham gia vào quá trình tái sinh sản dân số,
tiếp tục sinh đẻ, tái tạo ra thế hệ dân số mới.
Những chỉ tiêu đánh giá mức độ chết
Tỷ suất chết thô là số trường hợp chết tính trên 1000 dân vào một năm nhất đònh nào đó. Cũng
giống như tỷ suất sinh thô, tỷ suất chết thô bò ảnh hưởng bởi nhiều đặc tính của dân số, và đặc biệt
là cấu trúc tuổi.
Để phản ánh mức độ chết cụ thể của từng độ tuổi (nhóm tuổi), đồng thời loại bỏ ảnh hưởng bởi
cơ cấu dân số theo tuổi và cũng có thể so sánh mức chết trong cùng một độ tuổi hoặc nhóm tuổi
của hai dân số khác nhau ta dùng chỉ tiêu tỷ suất chết đặc trưng theo tuổi hoặc nhóm tuổi.
Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi được coi như là một chỉ báo tốt về tình trạng chăm sóc sức
khỏe của bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào. Đó là số trẻ em dưới 1 tuổi bò chết, tính theo
1000 trường hợp sinh ra sống của năm đó.
Bảng sống (hay còn gọi là bảng chết)
Bảng sống là công cụ mạnh nhất của dân số học, dùng để mô tả một cách hoàn thiện nhất mức
độ chết của dân số. Nhờ bảng sống ta có thể mô tả được trật tự chết của một tập hợp dân số trong
suốt cuộc đời kể từ khi sinh thông qua các chỉ tiêu và ký hiệu truyền thống: Số sống đến tuổi x (l
x
)
– cho biết bao nhiêu từ tập hợp sinh ban đầu sống đến tuổi x; Số chết dần trong độ tuổi x (d
x
) – chỉ
rõ bao nhiêu từ tập hợp sinh ra ban đầu chết trong độ tuổi x; Xác suất chết ở độ tuổi x (q
x
) – thể
hiện khả năng một người sống sót đến đúng tuổi x sẽ không sống thêm được một năm tuổi nữa;
Xác suất sống đến (x+1) tuổi của những người đạt x tuổi (p
x
) – nó biểu thò khả năng sống được
đến cúôi mỗi độ tuổi đã cho; Số sống trung bình trong độ tuổi x (L
x
) – đây là giá trò trung bình của
l
x
trong khoảng tuổi từ x đến x + 1 tuổi; Tổng số năm-người của số đạt x tuổi sống từ tuổi x đến độ
tuổi tận cùng (T
x
); Tuổi thọ trung bình (e
x
) – là số năm trung bình mỗi người đã sống được đến độ
tuổi x còn có thể sống được đến cuối đời.
Thực tế, người ta thích xây dựng các bảng sống theo các nhóm tuổi 5 năm (bảng sống rút gọn).
Điều này có thể là do các số liệu đang được sử dụng không đủ độ tin cậy đối với bảng sống tính
theo từng năm tuổi, hoặc ta muốn có một bức tranh ngắn gọn hơn về mức chết. Các chỉ tiêu của
bảng chết rút gọn cũng giống như các chỉ tiêu của bảng chết đầy đủ, cách tính có khác ít nhiều do
tính theo từng nhóm tuổi 5 năm.
Quan trọng nhất của bảng chết là có thể sử dụng trực tiếp chúng để tính hệ số sống (hệ số chuyển tuổi)
phục vụ cho dự báo dân số.
Những chỉ tiêu đánh giá mức độ chuyển cư
Sự chuyển cư có quan hệ chặt chẽ với các điều kiện sống của con người. Chuyển cư làm thay
đổi số lượng, cơ cấu tuổi và các hiện tượng kinh tế xã hội khác của cộng đồng dân cư nơi họ
chuyển đi cũng như nơi họ chuyển đến. Để đo mức độ chuyển cư, có các thước đo: Tỷ suất nhập
cư, tỷ suất xuất cư, tỷ suất chuyển cư thuần tuý và chúng cũng có thể tính riêng theo tuổi, giới tính.
1.2 PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO DÂN SỐ
1.2.1. Ước lượng và dự báo dân số
Thực tế có những ước lượng và dự báo dân số thường gặp: một là ước lượng số dân vào một
thời điểm nào đó giữa hai cuộc tổng điều tra dân số, loại tính toán này chỉ cần thêm giả thiết về sự
-5-
thay đổi dân số giữa hai cuộc tổng điều tra dân số đó; hai là ước lượng số dân sau tổng điều tra
dân số, dạng tính toán này thường sử dụng phương trình dân số:
P
t
= P
0
+ B – D + I – E (trong đó: P
t
và P
0
là dân số cuối và đầu kỳ tính toán; B, D là số sinh và số chết
trong kỳ; I, E là số người chuyển đến và số người chuyển đi trong kỳ); ba là dự báo dân số ở bất kỳ thời
điểm nào đó trong tương lai (sẽ được đề cập ở mục 1.2.2).
1.2.2. Một số phương pháp toán thống kê và dân số học thường dùng trong dự báo dân số
Dự báo dân số bằng phương pháp toán thống kê
Phương pháp toán thống kê có các hàm tuyến tính, hàm lũy thừa, hàm mũ và hàm logistic
thường được dùng để dự báo dân số.
Dự báo dân số theo các hàm toán thống kê đơn giản, dễ thực hiện nhưng mức độ chính xác
thường không cao vì nó đã loại bỏ tác động của cơ cấu tuổi đến biến động dân số trong tương lai.
Ngoài ra, phương pháp này chỉ tính được tổng số dân chứ không xác đònh được cơ cấu dân số theo
độ tuổi trong tương lai, trong khi chỉ tiêu này lại có tầm quan trọng lớn nhất.
Dự báo dân số theo phương pháp dân số học
Phương pháp dân số học được sử dụng để dự báo dân số là phương pháp thành phần (hay còn
gọi là phương pháp chuyển tuổi). Thực chất của phương pháp này là dựa vào việc xác đònh kết
quả tác động của ba nhân tố: sinh, chết và di cư của dân số để dự báo. Nguồn số liệu cần thiết sử
dụng cho việc dự báo:
- Dân số chia theo nam, nữ và theo tuổi hoặc nhóm tuổi thu được qua tổng điều tra dân số.
- Hệ số sống chia theo giới tính và độ tuổi hoặc nhóm tuổi được tính toán trên cơ sở các chỉ tiêu
của bảng sống theo công thức: S
x
=L
x+1
/ L
x
. Từ đây, nếu thời kỳ gốc, dân số ở độ tuổi x là P
x
, thì
dân số của độ tuổi này chuyển vào độ tuổi sau: P
x+1
= P
x
.S
x
.
- Từ suất sinh đặc trưng theo độ tuổi hoặc nhóm tuổi ta xác đònh số sinh dự kiến cho thời kỳ dự
báo và số sống đến cuối kỳ.
- Kết quả dự báo theo thành phần sẽ được cộng với số di cư thuần túy theo từng độ tuổi hoặc
nhóm tuổi.
-6-
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG DÂN SỐ TP.HCM
THỜI KỲ TỪ NĂM 1975 ĐẾN NAY

Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật
lớn nhất của cả nước. Về vò trí đòa lý, phía Bắc và Đông Bắc thành phố giáp với các tỉnh Tây
Ninh, Bình Dương, Đông và Đông Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Đặc khu Vũng Tàu Côn Đảo, Tây
và Tây Nam giáp các tỉnh Long An, Tiền Giang, phía Nam giáp biển Đông.
Diện tích thành phố là 2.095,01 Km
2
bao gồm các quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Quận
Tân Bình, Tân Phú, Bình Tân, Bình Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức và Gò Vấp và các Huyện: Nhà
Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi và Bình Chánh.
Sau khi có đường lối đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thò trường do Đại hội VI của Đảng đề ra
(1986), kinh tế thành phố tăng trưởng với tốc độ cao. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân tăng từ
4,2%/năm trong thời kỳ 1986-1990 lên 12,6%/năm trong thời kỳ 1991-1995. Tốc độ tăng trưởng
bình quân trong thời kỳ 1996-2000 là 10,2%/năm. Hiện nay, tốc độ tăng GDP bình quân mỗi năm
trong 5 năm 2001-2005 đạt 11%, so với cả nước là 7,51% trong cùng thời kỳ. Thu nhập bình quân
đầu người (tính trên GDP) đạt 1.500 USD/người/năm, vượt xa mức bình quân chung cả nước là 638
USD/người/năm. Sự phát triển kinh tế của thành phố là động lực thu hút dân số và lao động từ các
tỉnh, thành phố khác nhưng đồng thời gây ra áp lực gia tăng dân số thành phố hiện nay.
2.1 QUI MÔ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH QUA CÁC THỜI
KỲ
Mức tăng tuyệt đối và tỷ lệ tăng dân số Thành phố Hồ Chí Minh qua các thời kỳ:



Bảng 2.2: Mức tăng tuyệt đối và tỷ lệ tăng dân số Tp.HCM
qua các thời kỳ (trang 60 – luận án)

Mức tăng tuyệt đối (1000 người)
Thời kỳ
Cả thời kỳ Bình quân năm
Tỷ lệ tăng
bình quân (%)
1976 – 1980 - 189,2 - 47,3 - 0,40
1981 – 1985 278,3 55,7 1,57
1985 -1990 411,6 82,3 2,13
1990 – 1995 521,8 104,3 2,41
1995 – 2000 534,7 106,9 2,21
2000 – 2006 1.175,8 196,0 3,43

Qua đây ta thấy thời kỳ đầu dân số giảm do việc hồi hương và đi xây dựng vùng kinh tế mới
và một số người vượt biên ra nước ngoài. Từ năm 1981 trở lại đây, dân số thành phố tăng cả số
tuyệt đối lẫn tương đối. Đặc biệt là thời kỳ sau khi có đường lối đổi mới kinh tế (1986), dân số
tăng nhanh chủ yếu là do tăng cơ học.
2.2 CƠ CẤU DÂN SỐ THEO GIỚI TÍNH VÀ ĐỘ TUỔI
Tỷ lệ giới tính của dân số thành phố nhỏ hơn 100, thấp hơn so với cả nước. Năm 1999, tỷ lệ
giới tính của thành phố là 92,8 trong khi đó của cả nước là 96,7. Tỷ lệ phần trăm dân số theo
nhóm tuổi cũng có nhiều thay đổi từ tổng điều tra dân số 1989 đến điều tra dân số giữa kỳ 1-10-
2004. Theo điều tra dân số 1989, số dân ở nhóm tuổi 0-14 chiếm 30,83% số dân; ở nhóm tuổi 15-
64 chiếm 64,58% số dân và nhóm tuổi 65 trở lên chiếm 4,59% số dân; con số tương ứng theo tổng
điều tra dân số năm 1999 là: 23,86%; 70,92% và 5,22%; theo điều tra dân số giữa kỳ 2004 là:
19,77%; 75,29% và 4,94%. Từ đây có thể nói thành phố Hồ Chí Minh cũng như cả nước đang đạt
“cơ cấu vàng” về dân số. Những năm qua, tỷ lệ phụ thuộc cũng thay đổi đáng kể. Hiện cứ 100
-7-
người trong độ tuổi lao động 15-59 tuổi chỉ còn phải nuôi 54,9 người (1989); 41,0 người (1999) và
32,8 người (2004).
2.3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH BIẾN ĐỘNG CỦA DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.3.1 Phân tích biến động tự nhiên của dân số
Mức độ sinh
Trong thời kỳ 1990 trở lại đây, xu hướng giảm tỷ suất sinh của dân số thành phố diễn ra khá rõ
nét. Chênh lệch tỷ suất sinh giữa khu vực nội và ngoại thành đã có sự thu hẹp, đặc biệt từ năm
2001 trở lại đây, chênh lệch hầu như không đáng kể. Điều này có thể do chất lượng cuộc sống của
người dân ngoại thành ngày càng được cải thiện và nâng cao. Mức sinh gần như giảm hầu hết ở
các nhóm tuổi. Riêng nhóm 15-19 tuổi, mức sinh có xu hướng tăng, từ 13,8‰ năm 1989 lên
14,7‰ năm 1999. Sự tăng lên mức sinh ở nhóm tuổi này là do tình trạng “sống chung”, “sống
thử” trước hôn nhân trong nhóm dân số nữ này là rất phổ biến, nhất là nhóm phụ nữ di dân từ các
tỉnh. Tổng tỷ suất sinh đã giảm từ 2,3 con/phụ nữ năm 1989 xuống 1,4 con/phụ nữ vào năm 1999,
dưới ngưỡng thay thế là 2,1 con/phụ nữ.
Mức độ chết
Tỷ suất chết của dân số thành phố khá ổn đònh và duy trì ở mức trên dưới 4‰; ở khu vực nội
thành luôn thấp hơn ở ngoại thành và ngày càng được thu hẹp. Đặc biệt, tỷ suất chết của trẻ sơ
sinh liên tục giảm, hiện nay, chỉ còn 10,0‰, thấp hơn cả nước là 21,0‰ (2002). Kết quả này thể
hiện sự thành công của chương trình chăm sóc sức khỏe của bà mẹ và thai sản.
Tỷ suất tăng tự nhiên của dân số thành phố Hồ Chí Minh
Tỷ suất sinh giảm, tỷ suất chết ổn đònh nên tỷ suất tăng tự nhiên cũng thay đổi theo chiều
hướng giảm dần, và hiện nay chỉ còn ở mức 10,7‰ (2006). Mặc dù tỷ suất tăng tự nhiên giảm,
nhưng đáng lưu ý là số lượng tăng tuyệt đối hàng năm vẫn không giảm mà có xu hướng tăng. Thời
kỳ 1981-1985, mỗi năm tăng bình quân là 58.924 người, đến thời kỳ 1996-1999, con số đã lên đến
67.451 người. Như vậy, giảm tỷ suất tăng tự nhiên chưa đủ để làm giảm lượng tăng tuyệt đối của
dân số.
2.3.2 Phân tích biến động cơ học của dân số
Cũng như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cũng còn rất nhiều khó khăn trong việc
kiểm soát mức tăng dân số cơ học. Do điều kiện kinh tế phát triển, điều kiện sống được nâng cao
nên thành phố thu hút nguồn nhân lực và lao động từ các nơi về thành phố ngày càng nhiều. Hiện
nay, các vùng lân cận thành phố như Đồng Nai, Bình Dương, Long An, v.v hình thành nhiều khu
công nghiệp, kinh tế đang trên đà phát triển, kết hợp với các chủ trương, chính sách chuyển dòch
cơ cấu kinh tế của thành phố theo hướng ngành nghề sử dụng lao động có kỹ năng, hàm lượng
chất xám cao, giảm và chuyển các ngành nghề sử dụng lao động đơn giản ra khu vực ngoại thành,
vùng ven v.v sẽ là yếu tố giảm bớt áp lực di dân đến thành phố trong những năm sắp tới.
-8-
CHƯƠNG III
DỰ BÁO DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2019 VÀ SỬ DỤNG KẾT QUẢ DỰ BÁO
VÀO MỘT SỐ LĨNH VỰC

Mục đích nghiên cứu của luận án là ứng dụng các phương pháp toán thống kê và phương pháp
dân số học để dự báo dân số thành phố Hồ Chí Minh. Mục tiêu mà thành phố đưa ra trong lónh vực
dân số là kiểm soát quy mô dân số thành phố khoảng 7,2 triệu người vào năm 2010 và 10 triệu
người vào năm 2020. Để thực hiện được mục tiêu này, cần phải dự báo dân số thành phố để có
những biện pháp thích hợp, kòp thời.
3.1 ĐÁNH GIÁ VÀ CHỈNH LÝ KẾT QUẢ ĐIỀU TRA DÂN SỐ 1/10/2004 THEO GIỚI TÍNH
VÀ ĐỘ TUỔI (DÂN SỐ ĐƯC CHỌN LÀM GỐC CHO DỰ BÁO)
Số liệu dùng làm số liệu gốc (số liệu điều tra dân số giữa kỳ 1/10/2004 của thành phố Hồ Chí
Minh) đòi hỏi phải đầy đủ và chính xác. Để đánh giá mức độ chính xác trong khai báo tuổi của
dân cư, trong luận án đã sử dụng phương pháp Myer. Nó cho biết, dân số có xu hướng thích khai
báo vào những tuổi có tận cùng là con số nào từ 0 cho tới 9 trong dãy tuổi từ 10 đến 79. Kết quả
tính chỉ số Myer của dân số nam và nữ thành phố là 1,91 và 1,93. Phân chia mức độ chính xác
Myer: 1,5–3,0 là chính xác. Do đó, số liệu về cơ cấu tuổi, giới tính của dân số thành phố không
cần phải chỉnh lý do khai sai tuổi.
3.2 ỨNG DỤNG CÁC MÔ HÌNH TOÁN - THỐNG KÊ DỰ BÁO DÂN SỐ THÀNH PHỐ HỒ
CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2019.
3.2.1 Hàm tuyến tính (dân số thay đổi theo cấp số cộng)
{P
t
= P
0
(1+rt)}
Theo số liệu tổng điều tra dân số 1/4/1999 (P
0
), dân số thành phố có 5.037.155 người và số liệu
điều tra dân số giữa kỳ 1/10/2004 (P
1
), số dân có 6.109.493 người, ta chuyển số dân thời điểm
1/10/2004 về thời điểm 1/7/2004, vì những người sử dụng số liệu thường hay quan tâm đến dân số
trung bình hoặc dân số vào ngày 1 tháng 7 (dân số giữa năm).
P
1/7/2004
= P
0
+ t/T(P
1
– P
0
)
= 5.037.155 + 5,25/5,5(6.109.493 - 5.037.155)
= 6.060.750 người.
(trong đó: T – khoảng cách thời gian giữa 2 lần điều tra;
t – khoảng cách thời gian từ điều tra dân số lần đầu đến thời điểm 1/7/2004).
Dựa vào số liệu tổng điều tra dân số 1/4/1989 (

P
0
)

và điều tra dân số giữa kỳ 1/10/2004 (P
1
), t -
độ dài thời kỳ từ 1/4/1989 đến 1/10/2004 là 15,5 năm và công thức:
P
1
= P
0
(1+r)
t
, ta tính:
1
0
P
6.109.493
1
1
P
3.988.124
r 0,03432
t15,5


== =

Dự báo dân số thành phố theo hàm tuyến tính, cho ta kết quả dự báo trình bày trong bảng tổng
hợp.
3.2.2 Hàm cấp số nhân (dân số thay đổi theo cấp số nhân)
{P
t
= P
0
(1 + r)
t
}
Dựa vào số liệu tổng điều tra dân số 1/4/1999 và điều tra dân số giữa kỳ 1/0/2004, ta chuyển
số liệu về thời điểm 1/7 theo hàm lũy thừa:
-9-
5,25
t
5,5
1
T
1/7/2004 0
0
P 6.109.493
P P ( ) 5.037.155( ) 6.056.129nguoi
P 5.037.155
== =
Từ công thức: P
1
= P
0
(1+r)
t
, Với P
0
= 3.988.124 người và P
1
= 6.109.493 người, t - độ dài thời kỳ từ 1/4/1989 đến
1/10/2004 là 15,5 năm; ta tính được r = 0,02790 và kết quả dự báo dân số theo hàm lũy thừa được
trình bày trong bảng tổng hợp.
3.2.3 Hàm số mũ (dân số thay đổi theo cấp số nhân)
{P
t
= P
0
e
rt
}
Với P
1/7/2004
được tính từ mục 3.2.2, và hàm mũ: P
1
= P
0
e
rt
, ta tính được r = 0,02752 và kết quả
dự báo dân số được trình bày trong bảng tổng hợp.
Bảng tổng hợp kết quả dự báo dân số thành phố Hồ Chí Minh theo hàm tuyến tính, hàm luỹ
thừa và hàm mũ (người).
Bảng 3.6: Tóm tắt kết quả dự báo dân số Tp.HCM
theo hàm tuyến tính, hàm cấp số nhân và hàm mũ (người),
(Trang 121 - luận án)
Dân số ngày 1 – 7 của các năm dự báo
Năm
Hàm tuyến tính Hàm lũy thừa Hàm mũ
2005
6.268.755 6.225.095 6.225.108
2006
6.476.760 6.398.775 6.398.802
2007
6.684.765 6.577.301 6.577.343
2008
6.892.770 6.760.808 6.760.865
2009
7.100.775 6.949.434 6.949.508
2010
7.308.780 7.143.323 7.143.414
2011
7.516.785 7.342.622 7.342.731
2012
7.724.790 7.547.481 7.547.609
2013
7.932.794 7.758.056 7.758.204
2014
8.140.799 7.974.506 7.974.674
2015
8.348.804 8.196.995 8.197.185
2016
8.556.809 8.425.691 8.425.904
2017
8.764.814 8.660.767 8.661.005
2018
8.972.819 8.902.403 8.902.666
2019
9.180.824 9.150.780 9.151.070
Từ ba phương pháp dự báo trên, ta nội suy ngược về quá khứ từ năm 2003 đến năm 1992. Tính
độ lệch bình phương giữa giá trò thực và giá trò dự báo từ năm 1992 đến 2003, sau đó tìm được
được sai số bình phương trung bình (MSE) theo công thức:
µ
n
2
ii
i1
(P P)
MSE
n
=


=

Với hàm tuyến tính, ta tìm được MSE = 224,56.10
9
.
Với hàm lũy thừa, ta tìm được MSE = 32,80.10
9
.
Với hàm mũ, ta tìm được MSE = 32,79.10
9
.
Từ sai số bình phương trung bình tìm được, ta thấy, dự báo dân số thành phố Hồ Chí Minh bằng
hàm toán học, thì hàm mũ là thích hợp nhất vì có sai số nhỏ nhất.
3.3 DỰ BÁO DÂN SỐ TP.HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2019 THEO PHƯƠNG PHÁP THÀNH
PHẦN (Phương pháp chuyển tuổi)
Bốn loại số liệu cơ bản để thực hiện dự báo dân số thành phố theo phương pháp thành phần:
-10-
- Cơ cấu dân số theo nhóm tuổi và giới tính (bảng 3.8, trang 132 của luận án).
- Bảng sống của dân số nam, nữ thành phố Hồ Chí Minh (bảng 3.9, trang 133 của luận án), từ đây ta
tính hệ số chuyển tuổi hay còn gọi là hệ số sống (bảng 3.10, trang 134 của luận án).
- Tỷ suất sinh theo nhóm tuổi của phụ nữ thành phố theo kết quả tổng điều tra dân số 01–04–1999.
- Để ước tính số di cư thuần, ta lấy trung bình số tăng cơ học của 2 thời kỳ 1994–1999 và thời kỳ
2002–2006. Số tăng cơ học của các thời kỳ dự báo 5 năm (2004–2009); (2009–2014) và thời kỳ
(2014–2019) sẽ giữ mức ổn đònh trung bình của 2 thời kỳ trên, như đã phân tích trong luận án.
Bảng 3.19: Tổng hợp kết quả dự báo dân số TP.HCM theo nhóm tuổi sống đến cuối kỳ dự báo
từ 2009-2019 (người), (Trang 145 – luận án)
Nhóm tuổi
1/10/2004
(dân số gốc)
1/10/2009 1/10/2014 1/10/2019
0 – 4 399.724 523.111 536.345 511.936
5 – 9 386.134 450.328 572.786 585.920
10 – 14 422.195 431.488 495.419 617.379
15 – 19 595.490 472.210 481.454 545.079
20 – 24 799.970 660.900 538.525 547.685
25 – 29 672.551 858.818 721.075 599.811
30 – 34 631.182 707.184 891.589 755.248
35 – 39 536.540 654.848 730.044 912.410
40 – 44 466.990 548.699 665.320 739.512
45 – 49 385.032 473.363 553.530 667.974
50 – 54 250.568 385.502 471.404 549.385
55 – 59 140.557 248.658 378.412 460.923
60 – 64 121.398 138.709 240.717 363.165
65 – 69 101.117 115.532 131.252 224.053
70 – 74 88.144 87.874 100.240 113.668
75 – 79 57.267 68.229 68.073 77.647
80+ 54.102 71.533 89.083 98.112
Không xác
đònh*
1.083 1.776 2.927 4.847
Tổng cộng 6.109.493 6.898.762 7.668.195 8.374.754
* Nhóm không xác đònh được dự báo theo hàm mũ.
Tóm lại, dự báo dân số theo các phương pháp toán học cho kết quả khá gần với mục tiêu mà
thành phố đã đặt ra. Riêng dự báo theo phương pháp thành phần, thì kết quả có thấp hơn. Kết quả
thấp này được giải thích là do giảm mức độ sinh của dân số thành phố trong những năm gần đây,
đặc biệt, mức sinh tổng cộng hiện đã dưới ngưỡng thay thế, trong khi mức độ chết vẫn duy trì ở
mức ổn đònh và tương đối thấp.
-11-
3.4 SỬ DỤNG KẾT QUẢ DỰ BÁO VÀ PHÂN TÍCH
3.4.1 So sánh kết quả dự báo dân số và dự báo kinh tế
Dân số tăng dẫn đến nhu cầu về mọi mặt trong cuộc sống cũng tăng theo. Nếu nền kinh tế không tăng
trưởng kòp để đáp ứng nhu cầu của người dân thì làm cho đời sống dân cư ngày càng nghèo khó. Vì thế, để
hiểu rõ mức sống của người dân thành phố có tăng lên hay không ta tiến hành so sánh kết quả dự báo dân số
và dự báo GDP.
Theo phương pháp dự báo dựa vào tốc độ phát triển trung bình, với GDP năm 2004 đạt 79.237
tỷ đồng (theo giá so sánh 1994) được chọn làm gốc; tốc độ tăng GDP thời kỳ 1995 – 2004 bằng
10,4%/năm, thì đến năm 2010, GDP đạt 143.464 tỷ đồng với dân số dự báo năm 2010 (theo hàm
mũ) là 7.143.414 người, như vậy GDP bình quân đầu người theo giá so sánh 1994 sẽ đạt 20,08
triệu đồng/người/năm. Tương tự, năm 2019, dân số dự báo là 9.151.070 người và GDP đạt
349.514 tỷ đồng, như vậy GDP bình quân đầu người sẽ đạt 38,19 triệu đồng/người/năm.
3.4.2 Dự báo số học sinh đến trường
Lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo tính từ 1 – 5 tuổi; lứa tuổi học sinh tiểu học từ 6 – 10 tuổi; lứa tuổi
trung học cơ sở từ 11 – 14 tuổi và lứa tuổi trung học phổ thông từ 15 – 17 tuổi, và dựa vào kết quả
dự báo dân số theo phương pháp chuyển tuổi, ta dự báo số học sinh, số lớp, số giáo viên cần cho
các cấp học:
Bảng 3.23 và 3.24: Kết quả dự báo số học sinh, số lớp và số giáo viên các cấp, 2009-2019
(người), (Trang 153, 158 - luận án).
CÁC NĂM
2009 2014 2019
Cấp học
Số học sinh Số lớp Số giáo viên Số học sinh Số lớp Số giáo viên Số học sinh Số lớp Số giáo viên
Nhà trẻ, mẫu
giáo
508.555 12.714 25.428 543.633 13.591 27.182 526.733 13.168 26.336
Tiểu học 446.560 10.779 21.558 557.313 13.452 26.904 592.212 14.295 28.590
THCS 345.190 7.152 10.728 396.335 8.212 12.318 493.903 10.234 15.351
THPT 283.326 3.713 6.683 288.872 3.786 6.815 327.047 4.286 7.715
Từ số liệu này cho phép ta quy hoạch số lớp cũng như số giáo viên cần thiết để đáp ứng nhu cầu
học tập của người dân thành phố.
3.4.3 Dự báo số phụ nữ trong nhóm tuổi sinh đẻ (15 – 49 tuổi)
Số phụ nữ trong nhóm tuổi sinh đẻ trong các năm dự báo được xác đònh:
45 49
ff
15 49 i
i1519
Ww


=−
=


cho kết quả: Năm 2009 sẽ có 2.256.899 người; năm 2014 có 2.358.418 người và năm 2019 có
2.453.581 người. Từ đây, thành phố cần có những chính sách dành cho dân số nữ trong việc giáo
dục, tạo công ăn việc làm, đồng thời đề ra nhiều biện pháp kế hoạch hóa gia đình và các giải
pháp cho vấn đề chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ.
3.4.4 Dự báo về lực lượng lao động
Lao động nam được xác đònh từ các nhóm 15 – 59 tuổi và nữ từ 15– 54 tuổi. Kết quả dự báo lao
động nam và nữ qua các năm:

Bảng 3.26: Kết quả dự báo lao động Tp.HCM, 2009-2019, (người), (Trang 162 – luận án).

Các năm
Lao động
2009 2014 2019
Nam 2.412.310 2.629.512 2.811.645
Nữ 2.462.028 2.599.283 2.729.258
Tổng số 4.874.338 5.228.795 5.540.903
So với dân số (%) 70,66 68,19 66,16

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét