Thứ Năm, 27 tháng 2, 2014

Rui ro tin dung tai NHNTVN chi nhanh Can Tho



1
LỜI MỞ ĐẦU

I. Sự cần thiết của đề tài:
Thực tiễn hoạt động của các NHTMVN trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua
đã cho chúng ta thấy tình trạng khó khăn về tài chính của một ngân hàng thường
phát sinh từ những khoản cấp tín dụng khó đòi, điển hình như: việc đổ vỡ hàng
loạt quỹ tín dụng, NHTMCP của những năm 1989-1990, việc đặt một số
NHTMCP vào tình trạng giám sát đặc biệ
t những năm 1999-2000, hay những vụ
án lớn và việc tiến hành xử lý một khối lượng nợ tồn đọng khá lớn của các
NHTMNN từ năm 2000 trở về trước đã chứng minh rất rõ điều này. Thêm vào
đó, nhìn vào kết cấu tài sản của các NHTMVN chúng ta nhận thấy: tài sản sinh
lời là các khoản cấp tín dụng luôn chiếm tỷ trọng khá lớn 60%-70% tài sản có,
thậm chí có một số NHTM tỷ lệ này lên
đến 80%.
Chính vì vậy, tín dụng luôn được đánh giá là một trong các loại nghiệp vụ
ngân hàng phức tạp và có độ rủi ro cao, và vấn đề quản lý rủi ro tín dụng là vấn
đề luôn được các NHTMVN quan tâm hàng đầu, nhất là hiện nay khi Việt Nam
đang trong giai đoạn đầu của quá trình hội nhập vào Tổ chức thương mại thế
giới (WTO).
Với mục tiêu hướng tới xây dựng mô hình một NHTM đạt tiêu chuẩn quốc
tế, hi
ện đại và vững mạnh, Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam nói chung và
Ngân hàng Ngoại Thương Việt Nam – chi nhánh Cần Thơ nói riêng trong quá
trình chuyển đổi của mình luôn quan tâm và đặt lên hàng đầu đối với vấn đề
kiểm soát tốt các loại rủi ro, trong đó đặc biệt là rủi ro tín dụng.
Đó cũng là lý do Tác giả chọn đề tài “Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
Ngoại Thương Việt Nam Chi nhánh Cần Thơ - Thực trạng và giải pháp”.

II. Mục tiêu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu muốn hướng đến các mục tiêu:
- Góp phần làm rõ hơn các lý luận về hoạt động tín dụng và rủi ro trong
hoạt động tín dụng.
- Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và các nguyên nhân dẫn đến rủi
ro tín dụng tại NHNTVN-CNCT.


2
- Trên cơ sở lý luận, phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề tài nêu ra một
số giải pháp nhằm hạn chế rủi ro cho hoạt động tín dụng tại NHNTVN-CNCT
nói riêng và các NHTMVN nói chung.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro
tín dụng và các giải pháp góp phần hạn chế rủi ro tín dụng để có thể góp phần
nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại NHNTVN-CNCT.
Phạm vi nghiên cứu: tác giả nghiên cứu giữa lý luận và thực tế nguyên
nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong thời gian ba năm qua (2004-2006) tại
NHNTVN-CNCT, từ đ
ó đưa ra các giải pháp nhằm để hạn chế rủi ro tín dụng.

IV. Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài
chính, ngân hàng, đề tài nghiên cứu đã được thực hiện trên cơ sở:
- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại
NHNTVN-CNCT.
- Ghi nhận các ý kiến, nhận định của các cán bộ tín dụng thông qua các
mẫu điều tra về nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng và các giải pháp góp phần
hạn chế rủi ro tín dụng.
- Trao đổi kinh nghiệm với các cán bộ tín dụng công tác tại NHNTVN-
CNCT, và các cán bộ công tác trong ngành tài chính, ngân hàng nói chung.
- Trên cơ sở lý luận, các số liệu thực tế tổng hợp được, kết quả các mẫu
điều tra, và các ý kiến nhận định của các cán bộ tín dụng, tác giả sử dụng các
phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giá thực trạng hoạt
động tín dụng của NHNTVN-CNCT, tìm hiể
u các nguyên nhân dẫn đến rủi ro
tín dụng và đưa ra giải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng.

V. Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài nghiên cứu được tác giả trình bày
gồm bốn chương:


3
- Chương 1: Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM.
- Chương 2: Điều tra khảo sát và các kết quả đạt được.
- Chương 3: Thực trạng về hoạt động quản lý rủi ro tín dụng tại NHNTVN-
CNCT.
- Chương 4: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNTVN-CNCT.

VI. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu dựa trên thực trạng hoạt động tín dụng của hệ thống
NHTM nói chung và NHNTVN-CNCT nói riêng. Tác giả phân tích thực trạng
kết hợp với các nghiên cứu, lý luận, tư duy của nhiều nhà nghiên cứu, chuyên
gia ngân hàng cũng như kinh nghiệm bản thân, đồng nghiệp trong quá trình tham
gia hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng để đưa ra các ý kiến, nhận định, giải
pháp, nhằm
đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực trong hoạt động kinh doanh của
ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng.
Qua việc nghiên cứu các nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt động tín
dụng và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế rủi ro, tác giả mong muốn những suy
nghĩ, đề xuất và những gì mình học hỏi được sẽ giúp ích cho công việc thực tế,
từ đó góp phần nâng cao mức độ hiệu quả và an toàn trong hoạt
động tín dụng
nơi NHTM tác giả đang công tác, và xa hơn nữa, mong muốn đề tài nghiên cứu
sẽ được áp dụng trong hoạt động của các NHTMVN.










1
CHƯƠNG 1: RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

I. Rủi ro trong hoạt động của các NHTM:
1. Khái niệm về rủi ro trong hoạt động ngân hàng:
Định nghĩa truyền thống: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến
cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát, thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân
hàng trong quá trình hoạt động.
Định nghĩa hiện đại: Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là khả năng những
sự kiện chưa chắc chắn trong tương lai sẽ làm cho chủ thể là các NHTM không
thể đạt được những mục tiêu chiến lược và mục tiêu hoạt động, cũng như chi phí
cơ hội của việc làm mất đi những cơ hội thị trường.
2. Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động ngân hàng:
2.1. Rủi ro có tính chất đa dạng và phức tạp:
Đặc điểm này biểu hiện ở sự đa dạng và phức tạp của các nguyên nhân dẫ
n
đến rủi ro, cũng như các hậu quả do rủi ro gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc
điểm này, khi thực hiện phòng ngừa và hạn chế rủi ro cần áp dụng đồng bộ nhiều
biện pháp, không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh đó,
trong quá trình xử lý hậu quả rủi ro cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và
hậu quả của rủ
i ro để đưa ra biện pháp phù hợp.
2.2. Rủi ro có tính tất yếu:
Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, hoạt động kinh doanh ngân
hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức độ phù hợp để đạt được mức lợi nhuận
tương ứng. Trong từng nghiệp vụ ngân hàng có rất nhiều nguyên nhân chủ quan
và khách quan dẫn đến rủi ro. Việc tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với từng hoạt
độ
ng ngân hàng là điều mang tính tất yếu.
3. Phân loại rủi ro trong hoạt động ngân hàng:
Do đặc thù ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung ứng các
dịch vụ ngân hàng theo Luật các TCTD nên tính chất hoạt động và rủi ro có
những khác biệt so với các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác. Có


2
thể nói, hoạt động ngân hàng liên quan đến việc chấp nhận rủi ro chứ không phải
né tránh rủi ro. Các NHTM cần đánh giá các cơ hội kinh doanh dựa trên mối
quan hệ rủi ro - lợi ích nhằm tìm ra những cơ hội đạt được những lợi ích xứng
đáng với mức rủi ro chấp nhận. Các NHTM sẽ hoạt động tốt nếu mức rủi ro mà
ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, đồng thời nằ
m trong phạm vi,
khả năng các nguồn lực tài chính và năng lực tín dụng của mình.
Hoạt động kinh doanh của các NHTM không chỉ bao gồm nghiệp vụ huy
động vốn và cấp tín dụng mà còn rất nhiều lĩnh vực hoạt động khác như bảo
lãnh, kinh doanh ngoại hối, chứng khoán, góp vốn liên doanh, dịch vụ thẻ
Chính vì vậy nên rủi ro trong hoạt động của các NHTM cũng rất đa dạng:
- Rủi ro tín dụng: là rủi ro về
sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc
khách hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trả
nợ đúng hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán. Điều
này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị
trì hoãn, thậm chí là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự luân chuyển tiền tệ
và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị
tổn thương trong hoạt động của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở
hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng
khác như tài trợ thương mại, thấu chi, bao thanh toán…
- Rủi ro lãi suất: là rủi ro làm giảm lợi nhuận ròng khi lãi suất biến động
theo chiều hướng bất lợi. Rủi ro lãi suất xảy ra khi có sự
chênh lệch giữa kỳ hạn
bình quân của các tài sản và các khoản nợ của ngân hàng trong điều kiện lãi suất
thị trường thay đổi ngoài dự kiến của ngân hàng dẫn đến khả năng giảm thu nhập
của ngân hàng so với dự tính.
- Rủi ro thanh khoản: là rủi ro phát sinh chủ yếu từ xu hướng của các
NHTM là huy động ngắn hạn và cho vay dài hạn, hay nói cách khác là rủi ro khi
các NHTM không đáp ứng được cho các khoản phải trả khi
đến hạn thanh toán
do tài sản của ngân hàng không có khả năng thanh khoản hay không thể huy
động vốn. Trường hợp này thường xảy ra nếu như các khoản huy động về mặt
kỹ thuật sẽ phải hoàn trả theo yêu cầu của người gửi tiền. Đặc biệt, như chúng ta
đã thấy trong bất cứ một cuộc khủng hoảng nào thì người gửi tiền sẽ rút tiền của
mình ra nhanh hơn việc ng
ười đi vay sẵn sàng trả nợ.
- Rủi ro ngoại hối: là rủi ro phát sinh khi có sự chênh lệch về kỳ hạn của
các khoản ngoại hối mà các NHTM đang nắm giữ, và vì thế làm cho các NHTM
có thể phải gánh chịu thua lỗ khi tỷ giá ngoại hối biến động.


3
- Rủi ro hoạt động: là rủi ro liên quan đến công nghệ, cơ sở hạ tầng, quy
trình, con người trong quá trình hoạt động kinh doanh ngân hàng, hay nói cách
khác rủi ro hoạt động bao gồm toàn bộ các rủi ro có thể phát sinh từ cách thức
mà một NHTM điều hành các hoạt động của mình.
- Rủi ro luật pháp: là rủi ro ngân hàng có thể bị khởi kiện vì để xảy ra
những sai sót hoặc sự cố trong quá trình hoạt động kinh doanh gây thiệt hại cho
khách hàng và đối tác. Rủ
i ro luật pháp mà các NHTM phải đối mặt có thể tiềm
ẩn trong nhiều lĩnh vực kinh doanh. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro luật pháp có thể
là do con người hoặc do công nghệ máy móc. Thậm chí, NHTM có thể gặp phải
rủi ro luật pháp ngay cả khi ngân hàng không phải là bên gây thiệt hại.
- Rủi ro chiến lược: là rủi ro phát sinh từ những thay đổi trong môi
trường hoạt động của các NHTM trên phạm vi rộng hơn về mặt kinh doanh và
tài chính. Rủi ro chiến lược cũ
ng có thể phát sinh từ các hoạt động của bản thân
các NHTM.
- Rủi ro uy tín: là rủi ro khi các NHTM bị dư luận đánh giá xấu, gây khó
khăn nghiêm trọng cho hoạt động của ngân hàng trong việc tiếp cận nguồn vốn
hoặc khách hàng rời bỏ ngân hàng.
- Rủi ro thị trường: là loại rủi ro tổn thất tài sản, xảy ra khi lãi suất, tỷ giá
hay giá cả thị trường biến động theo chiều hướng xấu. Nói cách khác, rủi ro thị
trường xảy ra khi có sự thay đổi của các điều kiện thị trường hay những biến
động của thị trường.
II. Rủi ro tín dụng trong hoạt động của các NHTM:
1. Khái niệm về rủi ro tín dụng:
Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng:
- Rủi ro tín dụng: là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc
khách hàng đi vay không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩ
a vụ trả
nợ đúng hạn theo cam kết hoặc việc khách hàng mất khả năng thanh toán. Điều
này có nghĩa là các khoản thanh toán bao gồm cả phần gốc và lãi vay có thể bị
trì hoãn, thậm chí là không được hoàn trả, và hậu quả là sẽ ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự luân chuyển tiền tệ và sự bền vững của tính chất trung gian dễ bị
tổn thương trong hoạt động của ngân hàng. Rủ
i ro tín dụng không chỉ giới hạn ở
hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng
khác như tài trợ thương mại, thấu chi, bao thanh toán…


4
- Rủi ro tín dụng: theo Điều 2 “Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử
dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng” ban hành kèm theo Quyết định số
493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN, rủi ro tín dụng là
khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng
không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.

HÌNH 1: MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CẦN THỐNG NHẤT









2. Đặc điểm của rủi ro tín dụng:
2.1. Rủi ro tín dụng có tính chất đa dạng và phức tạp:
Tính chất đa dạng và phức tạp của rủi ro tín dụng biểu hiện ở sự đa dạng
và phức tạp của các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng, cũng như các hậu quả
do rủi ro tín dụ
ng gây ra. Nhận thức và vận dụng đặc điểm này, khi thực hiện
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cần áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp,
không chủ quan với bất cứ một dấu hiệu rủi ro nào. Bên cạnh đó, trong quá trình
xử lý hậu quả rủi ro tín dụng cần xuất phát từ nguyên nhân, bản chất và hậu quả
của rủi ro để đưa ra biện pháp phù hợp.
2.2. Rủi ro tín dụng có tính tất yếu:
Các chuyên gia kinh tế đều cho rằng hoạt động kinh doanh ngân hàng thực
chất là quản lý rủi ro (chủ yếu là rủi ro tín dụng) ở mức độ phù hợp để đạt được
mức lợi nhuận tương ứng. Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn
Không có rủi ro
không có lợi nhuận.
Khả năng vốn và tài chính
của ngân hàng có hạn.
Rủi ro tín dụng thường là
nguyên nhân chính dẫn đến
s
ự đỗ vỡ của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng
xảy ra do nguyên nhân
khác nhau khó lườn
g trước.
Đòi hỏi trình độ chuyên môn
cao của cán bộ tín dụng.
Quản lý rủi ro tín dụng
phải được xem là
vấn đề sốn
g còn.
Ngân hàng chỉ có thể
chấp nhận một mức độ
rủi ro nhất định.
Phải chấp nhận rủi ro.

Ö

Ö

Ö

Ö


5
đến rủi ro, đặc biệt do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng
vốn vay cho hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, nên bất cứ khoản cho
vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động tín dụng của các NHTM.
Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng cho khách hàng, các NHTM cần chủ động có
các biện pháp thích hợp để xác định rủi ro, định lượng rủi ro, quản lý rủi ro và
kiểm soát rủi ro.
2.3. Rủ
i ro tín dụng có thể dự báo trước hoặc không thể dự báo:
Các rủi ro có thể dự báo trước: danh mục cho vay hay đầu tư của một
NHTM luôn luôn có một số khoản thất thoát tiềm tàng chưa được xác định. Tuy
nhiên, nếu giả định rằng các đặc điểm chung của danh mục cho vay nhìn chung
vẫn giống nhau trong một giai đoạn hợp lý thì các NHTM có thể dự báo các
khoản thất thoát này với một mức độ tươ
ng đối chính xác bằng cách nghiên cứu
các đặc điểm diễn biến của danh mục cho vay theo thời gian.
Các rủi ro không thể dự báo trước: có nhiều sự kiện nằm ngoài tầm kiểm
soát của các NHTM, các cú sốc ngoại sinh do các điều kiện chưa phát sinh tại
thời điểm ký kết một thỏa thuận kinh doanh, là những nguyên nhân có thể dẫn
đến rủi ro mà các NHTM không thể dự báo trước.
3. Biểu hiện của rủ
i ro tín dụng:
Vì rủi ro tín dụng là khả năng (xác suất) vỡ nợ của khách hàng nên:
- Những khách hàng phá sản, lừa đảo, chây ỳ trong việc trả nợ là biểu
hiện rõ nhất.
- Bên cạnh đó, các khoản nợ không trả được khi đến hạn ở các cấp độ
khác nhau cũng thể hiện các khả năng vỡ nợ khác nhau.
Từ thước đo rủi ro tín dụng cho thấy rủi ro ở độ r
ộng với những tầng nấc
khác nhau. Vấn đề không phải là ở con số nợ xấu chiếm bao nhiêu % tổng dư
nợ, mà nợ xấu được định lượng ở độ rộng hay hẹp. Dù áp dụng phương pháp
nào, tính chính xác của kết quả phụ thuộc rất nhiều vào việc cán bộ tín dụng các
cấp có thực sự nghiêm túc trong việc nhìn nhận rủi ro tín dụng và chính sách
quản lý rủi ro có nhằm mục tiêu t
ạo nên tính minh bạch trong việc xác định rủi
ro hay không.
Có nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của các NHTM như:


6
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ, trên vốn chủ sở hữu, trên quỹ
dự phòng tổn thất.
- Nợ đáng nghi ngờ (có vấn đề): khả năng chuyển thành nợ xấu cao.
- Nợ không có tài sản bảo đảm.
Hiện tại, nếu áp dụng phân loại nợ theo các chuẩn mực kế toán quốc tế
được thừa nhận (IAS) thì tình hình nợ quá hạn và nợ x
ấu của các NHTMVN
nghiêm trọng hơn nhiều lần so với báo cáo của từng ngân hàng, vì:
- Nhiều khoản nợ các NHTM đang hạch toán ở tài khoản nợ trong hạn
nhưng thực tế đã là nợ xấu vì khách hàng kinh doanh thua lỗ hoặc đã khó khăn
trong việc trả nợ đầy đủ, đúng hạn.
- Không ít khoản vay trong danh mục tín dụng của các NHTM là nợ
trong hạn song đã được ngân hàng gia hạn hoặc đảo nợ do ngườ
i vay không đủ
khả năng thanh toán.
Do phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu chưa nhất quán
với thông lệ quốc tế nên hiện nay, việc đánh giá chất lượng tín dụng thực chất
như thế nào là hết sức khó khăn, thậm chí không thể làm được. Đây là trở ngại
rất lớn đối với các NHTMVN khi bước vào cạnh tranh và hội nhập với các ngân
hàng có yếu tố n
ước ngoài. Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp đánh giá
chất lượng tín dụng, áp dụng dần các chuẩn mực IAS trong phân loại nợ và trích
lập dự phòng rủi ro xử lý nợ xấu là vấn đề hết sức cấp thiết đối với hệ thống các
NHTMVN.
4. Nguyên nhân của rủi ro tín dụng:
4.1. Nguyên nhân khách quan từ phía nền kinh tế và các cơ quan
quản lý Nhà Nước:
4.1.1. Xuất phát từ hệ thống thông tin:
Thông tin tín dụng bao gồ
m thông tin lịch sử, thông tin hiện tại và xu
hướng phát triển của khách hàng trong tương lai (gồm cả thông tin về tài chính
và phi tài chính) và đặc biệt là các thông tin thống kê về các chỉ tiêu trung bình
ngành phục vụ cho việc xếp loại khách hàng vay.
Hiện nay, các NHTM không chỉ quan tâm đến việc hỏi tin về xếp hạng
doanh nghiệp nhằm đánh giá khách hàng có quan hệ tín dụng mà còn sử dụng


7
thông tin vào những mục đích khác như mở rộng đối tượng cho vay, thực hiện
công tác marketing đến khách hàng truyền thống, khách hàng tiềm năng, và mở
rộng thị phần trên thị trường. Tuy nhiên:
- Hệ thống thông tin của Việt Nam hiện nay còn khá nhiều bất cập, Việt
Nam chưa có cơ chế công bố thông tin đầy đủ. Trong thời gian qua, Trung tâm
thông tin tín dụng (CIC) trực thuộc NHNN hoạt động đã đạt được những kết quả

bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin về tình hình hoạt động
tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh nghiệp hoạt
động một cách độc lập và hiệu quả.
- Vai trò nối kết các NHTM của Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) còn
lỏng lẻo, chưa đạt được kết quả như mong muốn.
Đây chính là thách thức cho các NHTMVN trong việc mở rộng và kiểm
soát hoạt động tín dụ
ng. Nếu các NHTM cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng
tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin bất cân xứng thì sẽ gia tăng nguy
cơ nợ xấu.
4.1.2. Xuất phát từ hệ thống văn bản luật:
Về cơ bản, hoạt động tín dụng của các NHTM đã được Luật hóa trong các
văn bản Luật và các văn bản pháp quy của Chính Phủ, NHNN. Tuy nhiên, qua
nghiên cứu, phân tích, đồng thời, đúc kết t
ừ những trường hợp rủi ro trong thực
tế hoạt động của các NHTM cho thấy vẫn còn những “lỗ hỏng” khá nguy hiểm,
đó vừa là những nguyên nhân sâu xa, vừa là những nguyên nhân ảnh hưởng trực
tiếp đến rủi ro tín dụng của các NHTM.
- Hoạt động tín dụng của các NHTM hiện nay chịu sự điều chỉnh, chi
phối của khá nhiều luật, văn bản dưới luật chồng chéo, không rõ ràng, không
h
ợp lý, thiếu tính chặt chẽ và chưa thật sự hoàn chỉnh .
- Chính Phủ thường xuyên ban hành mới các chính sách về thuế, về xuất
nhập khẩu, hoặc các quy định về đất đai, nhà ở…Khi một chính sách bị thay đổi
đột ngột sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng đến kế
hoạch, cũng như khả năng dự báo sức tiêu thụ trên thị tr
ường của các doanh
nghiệp. Việc định hướng chiến lược sản xuất, kinh doanh không phù hợp, không
chính xác sẽ dẫn đến sản xuất cung vượt cầu, hàng hóa khó tiêu thụ, giá bán hạ,
thua lỗ, khách hàng sẽ không đảm bảo nguồn tiền trả nợ cho các NHTM.
4.1.3. Xuất phát từ công tác kiểm tra, thanh tra:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét