Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

VỀ LOẠI TỪ TIẾNG VIỆT



4
thể nhận thấy, trong giai đoạn đầu, loại từ thường được các tác giả tiếp cận như
là một phương tiện nghiên cứu tiếng Việt, mà cụ thể là nghiên cứu danh từ và
danh ngữ, chỉ đến khoảng hơn một thập kỷ trở lại đây, nó mới trở thành mục
đích của việc nghiên cứu với một loạt các công trình có quy mô và góc độ xem
xét khác nhau.
2.2. Từ trước tới nay, tập hợp này vẫn chứa đựng nhiều vấn đề chưa thống
nhất, chủ yếu xoay quanh vấn đề thuật ngữ, khái niệm và từ loại của nó. Các
công trình nghiên cứu về loại từ có thể được quy về hai khuynh hướng chủ yếu
được trình bày tiếp sau đây. Không ít nhà ngôn ngữ học trong quá trình nghiên
cứu đã chuyển từ quan điểm này sang quan điểm kia, điều đó phần nào cũng
làm bức tranh nghiên cứu về loại từ phức tạp hơn. Ở mỗi khuynh hướng, do
khuôn khổ của luận văn, người viết xin chỉ dừng lại ở những công trình tiêu
biểu.
2.2.1. Khuynh hướng thứ nhất xem loại từ là một từ loại tồn tại độc
lập bên cạnh những từ loại khác; về bản chất, loại từ là hư từ chuyên đảm
đương chức năng phụ trợ cho danh từ. Theo đó, loại từ không có nghóa từ vựng,
không có khả năng đứng độc lập, và chức năng của chúng là phân loại và cá thể
hóa danh từ. Đây là quan niệm chiếm đại đa số trong giới Việt ngữ học trước
đây như Emeneau [9], Phan Khôi [17], Trần Trọng Kim [18], Bùi Đức Tònh
[36]…
Bùi Đức Tònh cho những tiếng thứ nhất trong các tổ hợp như con (gà), cuốn
(sách), hoa (sen), nỗi (buồn), niềm (hi vọng), lá/ bức (thư), sự (phát triển)… là
tiền tố cho danh từ [36, tr.127-128]. Theo ông các ngữ tố phụ này của tiếng Việt
gần như là các tiếp đầu ngữ, tiếp vó ngữ trong các ngôn ngữ châu Âu. Nó không
thuộc đòa hạt văn phạm. Rõ ràng, tuy tác giả không thừa nhận cả tư cách “từ”
của loại từ, có lẽ do phân tích tiếng Việt dựa trên ngữ pháp tiếng Ấn – Âu nhưng


5
cách gọi tên và phân tích của ông ủng hộ quan điểm cho rằng loại từ rỗng nghóa
và có chức năng phụ trợ cho danh từ.
Tác giả tiêu biểu cho khuyng hướng thứ nhất này là Lê Văn Lý [23]. Ông
chia từ vựng tiếng Việt thành 4 tập hợp chính: A. thể từ (gồm danh từ và đại từ),
B. vò từ (động từ), C. tính từ, và D. các từ còn lại. Bên cạnh đó, có một hệ thống
từ chuyên dụng làm “những chứng tựï của từ loại A”, gồm nhóm từ biệt loại, tức
loại tự “classificatuer” như cái, con, người… và nhóm chỉ chủng loại (mot
générique) như kẻ, sự, việc, đồ, nghề… Bỏ qua bước xác đònh tiêu chí để nhận
diện loại từ, ông liệt kê một danh sách loại từ gồm 171 từ, và miêu tả cụ thể
cách dùng của chúng. Những từ ngữ này là một loại riêng biệt và được phân chia
thành 3 tiểu loại: loại từ cho danh từ chỉ người (gồm ba nhóm: chung; tôn trọng/
khinh bỉ; thân mật); loại từ cho danh từ chỉ loài vật; loại từ cho danh từ chỉ sự
vật. Đáng chú ý, tác giả còn phân biệt loại từ theo từ loại đi sau nó: nhóm có
danh từ theo sau như cây, quả (trái), lá, củ, tấm, bức, chiếc, hòn, đống, bó, cá,
chim…; nhóm có động từ theo sau như sự, việc, cách, phép, tính, đức…; và nhóm
có danh từ, động từ theo sau như đồ, nghề, toà, tờ, ống, bánh, bản, buổi, quân,
tụi, toán, nhà…. Có thể thấy, phần lớn các từ trong danh sách này có đặc tính của
những danh từ chính danh rõ rệt, chẳng hạn củ (khoai), nhà (đá), xe (điện)…, hơn
nữa, tuy chủ trương tách biệt giữa loại từ với yếu tố chỉ chủng loại, ông lại
không vạch ra được ranh giới giữa chúng, nên có một số từ, chẳng hạn như kẻ
lúc thì ở nhóm này, lúc ở nhóm kia. Những nhầm lẫn của Lê Văn Lý có thể nhận
thấy ở hầu hết các tác giả thuộc khuynh hướng này.
Nguyễn Kim Thản [31, tr.99] gọi nhóm từ bài, bản, bông, bức, cái, chiếc,
con, đứa, khẩu, gói, người, pho, quyển, tấm, thanh, thằng, thửa, tờ, vở… là phó
danh từ và khẳng đònh đây là những từ luôn đứng phụ cho danh từ, có tác dụng
chỉ sự vật riêng lẻ, chỉ đơn vò tự nhiên. Đây là những đơn vò ngôn ngữ nằm ở


6
ranh giới giữa hư từ và thực từ. Về sau, ông đã gọi lớp từ này là danh từ phụ
thuộc, một loại nhỏ trong sáu loại danh từ. Chúng có thể được chia thành ba
nhóm: danh từ phụ thuộc con làm bổ ngữ cho danh từ chỉ động vật, nhóm danh từ
phụ thuộc làm bổ ngữ cho danh từ chỉ người (có ý nghóa trung tính: người, viên…/
quan trọng: đồng chí, vò, ông, bà…/ khinh bỉ: gã, tên, mụ, con…) và nhóm danh từ
phụ thuộc làm bổ ngữ cho danh từ chỉ vật thể, hiện tượng thiên nhiên [23b].
2.2.2. Khuynh hướng thứ hai lại không coi những từ kể trên là một từ
loại độc lập, mà là một tiểu loại của danh t và/ hay loại từ thực chất chỉ là sự
thể hiện một chức năng nghóa học
2
. Các tác giả Trương Vónh Ký [41], Trương
Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê [7], Nguyễn Tài Cẩn ([3], [4]), Cao Xuân Hạo
([11], [12], [13], [14], [15]), Phan Ngọc [24], Diệp Quang Ban ([1], [2]), Hồ Lê
([20], [21]), Lý Toàn Thắng ([34], [35])… đều thừa nhận tư cách danh từ của loại
từ. Tuy vậy, giữa họ vẫn có những bất đồng về vai trò trung tâm của nó trong
cấu trúc danh ngữ.
Trương Vónh Ký đưa ra một danh sách 221 danh từ số (noms numériques)
và 14 danh từ khái quát và loại biệt dùng với động từ để tạo DT trừu tượng [41,
tr.30-62]. Danh sách của ông bao gồm hầu hết các từ mà những tác giả khác đều
công nhận là loại từ. Có thể nói ông là người đầu tiên cho những từ như cái, con,
chiếc, bức, tấm, viên… là danh từ chỉ đơn vò, khi đặt chúng bên cạnh những từ chỉ
đơn vò khác trong danh sách này. Ông có lẽ cũng đã cảm nhận được chức năng
của một tác tử danh hoá (nominalizer) ở loại từ, nên đã thao tác tách riêng
những danh từ “dùng để cấu tạo những khái niệm trừu tượng”.

2
Trương Văn Chình và Nguyễn Hiến Lê xem loại từ là một “từ vụ”, nghóa là một chức năng ngữ pháp
hay ngữ nghóa, chứ không phải là một từ loại [7, tr.281-306]. Chúng ta sẽ có dòp tìm hiểu sâu về vấn đề
này ở phần nội dung của luận văn.


7
Trong công trình Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại năm 1960 (xuất
bản bằng tiếng Việt năm 1975), Nguyễn Tài Cẩn phân chia từ loại danh từ tiếng
Việt thành sáu tiểu từ loại [3, tr.79]. Trong tiểu loại danh từ đơn vò, tác giả quan
niệm loại từ là nhóm dùng để nêu đơn vò tự nhiên bên cạnh nhóm chuyên dùng
để nêu đơn vò quy ước: loại từ “không có ý nghóa tư vựng rõ ràng và chuyên
dùng để phục vụ việc đếm từng cá thể, từng đơn vò tự nhiên của sự vật cũng như
việc phân chia sự vật vào các loại” [3, tr.123]. Về khả năng kết hợp với danh từ,
loại từ chủ yếu đi với 3 tiểu loại: danh từ chỉ người, danh từ chỉ động, thực vật và
danh từ chỉ đồ đạc. Về vai trò của nó trong danh ngữ, tác giả viết: loại từ “xuất
hiện trước một danh từ trung tâm (như vậy loại từ không phải là trung tâm danh
ngữ – NV) với tư cách là một công cụ
(tức hư từ – NV) để diễn đạt phạm trù cá
thể và dùng để chỉ loại (chúng tôi gạch dưới) cho danh từ”. Như vậy, tác giả có
phần mâu thuẫn với chính mình khi coi loại từ vừa là một loại danh từ đơn vò
(thực từ) vừa là một từ công cụ. Mặt khác, có phần giống với các tác giả ở
khuynh hướng thứ nhất, ông bàn về chức năng phân chia sự vật vào các loại của
loại từ và coi tổ hợp “loại từ + danh từ” là kết cấu “hư + thực”. Tuy nhiên, trong
phần Phụ lục của công trình này, tác giả đã đặt lại vấn đề cấu trúc danh ngữ,
qua đó khẳng đònh loại từ là những “danh từ trống nghóa” và công nhận vai trò
trung tâm của loại từ trong tổ hợp “loại từ+ danh từ” – một tổ hợp không khác gì
với tổ hợp “từ chỉ đơn vò + danh từ” mà trong đó vai trò trung tâm của từ đơn vò
đã được tác giả công nhận [3, tr.292-293].
Phan Ngọc cũng khẳng đònh loại từ là một loại danh từ. Sự khác biệt duy
nhất giữa hai tiểu loại này là loại từ có thể trực tiếp đi sau từ chỉ số lượng, còn
“các danh từ khác có quan hệ gián tiếp với từ chỉ số lượng thông qua môi giới
của loại từ” [24, tr.56]. Việc một danh từ như xe thực hiện được bốn chức năng
của những từ chỉ sự vật là chủ ngữ, tân ngữ, vò ngữ, đònh ngữ, trong khi loại từ,


8
chẳng hạn như chiếc, không làm được, không phải là vì vò trí mà là do khác biệt
ngữ nghóa: loại từ là từ “rỗng ruột” (nom vide) [24, tr.58].
Phát triển ý tưởng của Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo qua nhiều bài viết
của mình đã chứng minh một số điểm đáng chú ý như sau:
(1) Dùng thuật ngữ “loại từ” (classifier/ classificateur) để chỉ nhóm từ mà
chúng ta đang quan tâm là hoàn toàn không chính xác và loại từ cũng không hề
có chức năng phân loại;
(2) Dùng tiêu chí không độc lập để cho loại từ là hư từ là không hợp lí vì
danh từ (thực từ) cũng có trường hợp không có tính độc lập;
(3) Qua vấn đề nghóa của danh từ, tác giả khẳng đònh loại từ thuộc loại
danh từ có nghóa hình thức và không có ý nghóa chất liệu (tức là danh từ đơn vò)
và mọi ngôn ngữ đều có “loại từ”, chỉ có biểu hiện là khác nhau.
(4) Với tư cách danh từ đơn vò, loại từ đóng vai trò trung tâm trong danh
ngữ (Cao Xuân Hạo [11], [12], [13], [14], [15]).
Nhìn chung, ngày càng có nhiều người thừa nhận tư cách danh từ của loại
từ. Luận văn của chúng tôi cũng đi theo hướng này. Tuy đồng ý với quan điểm
của Cao Xuân Hạo và những tác giả theo ông về những ngộ nhận mà thuật ngữ
“loại từ” có thể gây ra, nhưng do sự phổ biến của tên gọi này, trong luận văn,
chúng tôi vẫn tạm sử dụng nó để chỉ những từ chỉ hình thức tự nhiên (nằm trong
nhóm danh từ đơn vò hình thức thuần tuý), nhằm giúp người đọc hình dung được
ngay đối tượng mà luận văn đang khảo sát.
2.3. Tính phức tạp của việc nghiên cứu loại từ còn được thể hiện qua việc
chính trong bản thân một số tác giả, khi trong những nghiên cứu khác nhau, hay
thậm chí cùng một công trình, họ bộc lộ nhiều mâu thuẫn trong việc đánh giá
bản chất và xếp loại loại từ. Mặt khác, tồn tại những kiến giải về loại từ không
thuộc về khuynh hướng nào nói trên, chẳng hạn như quan điểm của Nguyễn Phú


9
Phong. Cho rằng các tác giả đi trước đã xem xét loại từ trong sự trói buộc của
thế đối lập thực/ hư, ông cho rằng loại từ là “một tác tử dùng để đònh đơn vò”, do
đó “những từ nào biểu đạt một khái niệm phân lập (notion discrète) có thể đếm
được (comptable) đều có thể sử dụng làm loại từ” và đònh nghóa này dẫn đến hai
hệ quả như sau:
(1) Cùng một loại từ có khi là thực từ, có khi là hư từ, tuỳ theo danh từ
theo sau, chẳng hạn: loại từ cây trong cây cam là thực từ chỉ đơn vò một loại thực
vật, còn trong cây cam đã bò hư hoá chỉ đơn vò một công cụ.
(2) Không phải chỉ có danh từ, mà bất kì động từ hay tính từ thoả mãn
điều kiện nói trên đều có thể là loại từ. Với ví dụ nước giọt/ giọt nước, gió
thoảng/ (một) thoảng gió, bóng chiếc/ chiếc bóng, ông cho rằng, giọt, thoảng và
chiếc có thể thuộc hai loại từ khác nhau: động từ/ tính từ và loại từ [26, tr.13-14].
Trên cơ sở đó, ông cũng đã giới thiệu danh sách 195 loại từ, chia thành 4
nhóm: đơn vò thể hiện/ cá thể, đơn vò đo lường, đơn vò không gian/ thời gian và
LT danh/động [26, tr.95-100]. Tuy vậy, các nhận đònh của Nguyễn Phú Phong về
loại từ phần nào bắt nguồn từ những sai lầm mang tính chất cơ bản về kiến thức
ngôn ngữ học đại cương cũng như về tiếng Việt liên quan đến khái niệm hư từ
và thực từ, vấn đề từ loại, hiện tượng đồng âm và sự chuyển từ loại trong tiếng
Việt, nên danh sách này cũng không chính xác.
Quan điểm của Diệp Quang Ban cũng nằm ở trung gian giữa hai khuynh
hướng. Ông phân loại DT dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau: DT riêng/ DT
chung; DT tổng hợp/ DT không tổng hợp; DT vật thể, DT chất thể, DT trừu
tượng, DT tập thể, DT chỉ hiện tượng thời tiết; DT đơn vò; DT đếm được/ DT
không đếm được và bàn đến LT như là một lớp từ hữu quan [2, tr.475]. Ông cũng
nhận thấy tính chất đơn vò rời của LT nhưng lại cho rằng cùng với DT tập thể
như đàn, đám, bó…, LT không phải là DT đơn vò đích thực, bởi “LT có chức năng


10
chủ yếu là quy loại khái quát cho DT chỉ vật đứng sau nó và kiêm chức năng
đơn vò rời khi cần thiết, như cái, cây, con, người, kể rộng ra còn có cục, hòn,
viên, tấm, bức, sợi, quyển, pho, cơn, trận, v.v.” [2, tr.481]. Ông cũng coi LT là
thành tố phụ cho DT theo sau [2, tr.412-421]. Do tác giả có phần nhập nhằng
trong việc xác đònh từ loại cho LT nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong phân tích.
2.4. Trong những năm trở lại đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu về
loại từ vượt ra ngoài phạm vi của lónh vực nghiên cứu ngữ pháp. Đó là hướng
khảo sát loại từ về mặt phong cách của loại từ như Hoàng Tất Thắng [33], để
ứng dụng làm từ điển kết hợp như Đinh Kiều Châu [6], hay xem xét loại từ từ
góc độ của ngôn ngữ học tri nhận như Lý Toàn Thắng [34]… Hầu như những
công trình này tránh bàn đến những vấn đề phức tạp của loại từ về mặt ngữ
pháp, mà chỉ đi vào những khía cạnh ngữ nghóa, ngữ dụng phục vụ cho mục đích
nghiên cứu của các tác giả.
3. NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI CỦA LUẬN VĂN
Luận văn đi sâu tìm hiểu loại từ, cụ thể là tập trung trả lời các câu hỏi sau:
(1) Bản chất từ loại của loại từ là gì? (2) Làm thế nào để nhận diện loại từ trong
tiếng Việt, mà cụ thể là trong tiểu loại danh từ đơn vò? (3) Loại từ có những
nhóm nào và đặc trưng ngữ nghóa của từng (nhóm) loại từ? Như vậy, khi nhắc
đến danh từ và danh ngữ trong luận văn, chúng tôi chỉ bàn tới những điểm giúp
làm sáng tỏ vấn đề loại từ, chứ không phải ngược lại, dù chắc chắn rằng những
phát hiện về loại từ sẽ góp phần đem tới sự hiểu biết đầy đủ về danh từ và danh
ngữ.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN NGỮ LIỆU
4.1. Với quan điểm cho rằng ngữ pháp phản ánh và bắt nguồn từ ngữ nghóa,
người viết nghiên cứu đối tượng theo hướng đi từ nội dung đến hình thức, từ ý
nghóa đến cấu trúc ngữ pháp. Từ đònh hướng có tính chất phương pháp luận đó,


11
luận văn sử dụng đồng thời nhiều phương pháp sau đây:
4.1.1. Phương pháp phân tích phân bố
Đây là một phương pháp có tầm quan trọng đặc biệt đối với một thứ tiếng
không có đặc trưng hình thái học như tiếng Việt, vì ở tiếng Việt (và những ngôn
ngữ đơn lập khác) cách phân bố gần như là biểu hiện duy nhất cho tính chất của
từ. Qua việc tìm hiểu khả năng kết hợp của loại từ, mà chủ yếu là trong danh
ngữ, chúng tôi phân tích các đặc điểm ngữ nghóa – ngữ pháp của loại từ, để thấy
được chức năng của nó.
4.1.2. Phương pháp so sánh đối chiếu
Ở một số ví dụ, luận văn có so sánh giữa tiếng Việt với một số ngôn ngữ
khác để thấy những dò đồng và khác biệt giữa các thứ tiếng, cũng như nhằm làm
rõ hơn đặc điểm ngữ nghóa, ngữ pháp của loại từ. Mặt khác, để miêu tả đặc
điểm của từng loại từ, chúng tôi so sánh và thay thế chúng, tức là nhìn loại từ
trong trục đối vò của nó.
4.1.3. Phương pháp thống kê ngôn ngữ
Để phục vụ cho việc phân nhóm và miêu tả chính xác các loại từ tiếng
Việt, chúng tôi thống kê những tổ hợp “loại từ + danh từ” trong thực tế. Phương
pháp này tạo ra hiệu quả cao, đặc biệt đối với những loại từ mà trước nay mọi
người vẫn cho là có thể thay thế nhau hoàn toàn như quyển và cuốn. Kết quả
thống kê thực tế cũng đã giúp người nghiên cứu kiểm nghiệm, điều chỉnh và bổ
sung những giả thuyết đã nêu.
4.2. Trong quá trình thống kê các kết hợp “loại từ + danh từ”, để tránh
những áp đặt khiên cưỡng có thể có do tính chủ quan, người viết tiến hành kết
hợp điều tra thực tế theo cảm nhận của người bản ngữ về những khả năng dùng
được và không dùng được của những kết hợp này.
4.3. Khi thống kê (có phân loại) danh từ khối để kết hợp với loại từ, người


12
viết dựa chủ yếu vào cuốn Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê [25] trên cơ sở
tham khảo Từ điển tiếng Việt của Văn Tân [30] và danh sách danh từ khối của
tác giả Nguyễn Thò Ly Kha [16].
5. ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN
5.1. Về phương diện lí luận, luận văn góp phần làm sáng tỏ những tranh
luận xung quanh loại từ, xem xét nó với tư cách là một bộ phận của danh từ đơn
vò, đồng thời thử xác lập đường ranh giới ngữ pháp – ngữ nghóa và chức năng
giữa loại từ với các nhóm còn lại và đưa ra một danh sách (mang tính chất gợi ý)
các loại từ tiếng Việt.
5.2. Đồng thời, luận văn cũng sẽ có một ý nghóa thực tiễn thiết thực khi
miêu tả được ý nghóa của từng loại từ, nhờ đó người bản ngữ hiểu hơn về tiếng
mẹ đẻ và người giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài cũng giải thích chính
xác và dễ dàng hơn vấn đề loại từ trong tiếng Việt. Xa hơn, chúng tôi mong sẽ
có những thay đổi trong các sách giáo khoa, giáo trình để tránh những hiểu lầm
không đáng có về loại từ.
6. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Vấn đề loại từ không thể được giải quyết một cách thoả đáng nếu không
chỉ ra những ngộ nhận về nó và/ hoặc tìm hiểu nó một cách cô lập, tách rời các
bộ phận từ vựng khác của tiếng Việt. Vì vậy, ngoài phần Mở đầu và Kết luận,
luận văn sẽ gồm ba chương: chương một, dành xem xét vấn đề từ loại của loại
từ tiếng Việt, trên cơ sở giải quyết những ngộ nhận vốn có về loại từ, và chứng
minh tư cách danh từ đơn vò của loại từ; chương hai, phân loại danh từ đơn vò và
xác đònh các đặc điểm của loại từ về mặt chức năng, ngữ nghóa và ngữ pháp
nhằm phân biệt nó với các danh từ đơn vò khác; và chương ba, dựa vào những
luận điểm được trình bày ở phần Mở đầu và ở hai chương nội dung, đưa ra một


13
danh sách loại từ trong tiếng Việt và tiến hành khảo sát khả năng kết hợp của
loại từ với các nhóm danh từ, từ đó phân loại và mô tả các loại từ tiếng Việt.
Ngoài 180 trang chính, luận văn dành 168 trang cho năm phụ lục: 1) Danh sách
các danh từ hình thức thuần tuý; 2) Danh sách loại từ tiếng Việt; 3) Danh sách
các danh từ khối được khảo sát trong luận văn; 4) Các kết hợp “loại từ + danh
từ” trong tiếng Việt và 5) Một số danh sách liên quan đến loại từ của những tác
giả khác. Cuối cùng là danh mục 41 tài liệu tham khảo.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét