Thứ Tư, 26 tháng 2, 2014

Định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế nước ta

Website : http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel ( : 0918.775.368
Lời nói đầu
Chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở của hai hình thức: sở
hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở công hữu lúc đầu
đã phát huy tơng đối tốt việc thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao đời sống của
nhân dân góp phần to lớn vào công cuộc bảo vệ an ninh, chủ quyền của đất nớc.
Tuy nhiên cùng với sự thay đổi của thời đại, tình hình trong nớc và thế giới, chế độ
công hữu cùng với mô hình cũ đã tỏ ra bất lực, gây khủng hoảng kinh tế- xã hội.
Điều đó buộc ta phải tiến hành công cuộc đổi mới. Tiến hành chuyển đổi từ mô
hình kinh tế tập chung bao cấp sang mô hình kinh tế thị trờng theo định hớng xã
hội chủ nghĩa.
Việc xây dựng nền kinh tế thị trờng đòi hỏi ta phải thực hiện chế độ đa dạng
hoá các loại hình sở hữu. Đứng trớc tình hình đó Đảng và nhà nớc ta đã có chủ tr-
ơng tổ chức lại cơ cấu nền kinh tế, đa dạng hoá các hình thức sở hữu mà trong đó
chủ yếu là cổ phần hoá một bộ phận các doanh nghiệp nhà nớc (DNNN) để đảm
bảo tính cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng, tạo thêm động lực mới trong công
tác quản lý doanh nghiệp vừa và nhỏ, tăng cờng vai trò tự chủ cho ngời lao động,
huy động thêm vốn cho DNNN. Chủ trơng của Đảng và nhà nớc ta là có cơ sở
khoa học và dựa trên cơ sở thực tế. Do đó vấn đề cổ phần hoá DNNN là đúng đắn,
là một tất yếu khách quan, phù hợp với quy luật phát triển kinh tế và hiện thực nền
kinh tế quốc dân của nớc ta trong giai đoạn hiện nay.
Chơng trình thực hiện cổ phần hoá DNNN đợc bắt đầu từ năm 1992 theo
quyết định số 202/ CT-HĐBT về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp thành
công ty cổ phần (ngày 8/6/1992). Đến nay vẫn còn những vớng mắc cha khắc
phục đợc, làm chậm tiến trình cổ phần hoá DNNN nhng quá trình cổ phần hoá bộ
phận DNNN ở Việt Nam vẫn diễn ra mạnh mẽ là một trong những điều kiện cơ
bản để nớc ta thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Hiểu đợc tầm quan trọng của việc cổ phần hoá các DNNN trong giai đoạn
hiện nay tôi chọn đề tài cổ phần hoá này nhằm làm rõ hơn mục tiêu,các chính sách
hiện nay và một số ý kiến về cổ phần hoá. Đề tài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào
thực trạng tình hình cổ phần hoá các DNNN và giải pháp để đẩy mạnh quá trình
này. Do trình độ và hiểu biết có hạn, bài viết không tránh khỏi những sai sót nhất
định, rất mong nhận đợc ý kiến đóng góp của thầy cô để tiếp tục hoàn thiện môn
học và vận dụng tốt hơn những kiến thức kinh tế chính trị vào những môn học
khác.
- 1 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
Chơng I
Một số vấn đề lí luận chung về cổ phần hoá dnnn
I. bản chất của quá trình cổ phần hoá
1.Khái quát lịch sử ra đời của công ty cổ phần
Sự phát triển của loại hình công ty cổ phần đánh dấu sự chuyển hớng nền
kinh tế từ trạng thái vay mợn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy
động vốn trên thị trờng tài chính. Các công ty cổ phần là nguồn cung cấp sản
phẩm cho sự phồn vinh của thị trờng này. Đổi lại sự thịnh vợng của thị trờng tài
chính tạo điều kiện cho các công ty cổ phần sinh sôi nảy nở.
Nếu sự phát triển của chủ nghĩa t bản đợc hình dung là quá trình tích luỹ
vốn và mở rộng bắt đầu từ thơng nghiệp, sau đó là công nghiệp nhẹ và nông
nghiệp rồi vơn sang các ngành công nghiệp nặng thì có thể nói rằng hình thái công
ty cổ phần là "Bà đỡ" cho sự ra đời các ngành công nghiệp nặng.
Trải qua thời gian, hình thái công ty cổ phần ngày càng hoàn thiện và phát
triển đa dạng. Có thể nói hình thức công ty cổ phần là một phát minh quan trọng
nhất trong lịch sử phát triển các hình thái tổ chức doanh nghiệp kể từ cuộc cách
mạng trong công nghiệp của chủ nghĩa t bản chứ không chỉ là sản phẩm thụ động
của sự phát triển nền kinh tế thị trờng. Trong nền kinh tế thị trờng công ty cổ phần
là một sản phẩm tự nhiên quá trình phát triển kinh tế theo những nấc thang nhất
định từ hình thái kinh doanh một chủ đến hình thái kinh doanh chung vốn.
2. Bản chất của cổ phần hoá
Cổ phần hoá đã đợc diễn ra từ rất sớm.Từ nửa cuối thế kỉ XIX, trong lòng
chủ nghĩa t bản với chế độ sở hữu t nhân về t liệu sản xuất đang thống trị đã bắt
đầu xuất hiện một loại xí nghiệp mới-xí nghiệp cổ phần hay công ty cổ phần mà
sở hữu trong đó là các cổ đông. Đây là một hình thức tốt để tập trung vốn và phát
huy hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
ở bình diện chung trên thế giới hiện có nhiều cách đánh giá khác nhau về
loại hình kinh tế của các doanh nghiệp đợc cổ phần hoá. Chúng ta có thể chú ý tới
một số quan điểm về cổ phần hoá sau:
- Cổ phẩn hoá là một hình thức kinh tế theo chế độ sở hữu công cộng
- 2 -
hình thái kinh doanh
một chủ
hình thái kinh doanh một chủ
hình thái chung vốn
hình thái Công ty cổ phần
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
- Cổ phần hoá là một hình thức kinh tế theo chế độ sở hữu tập thể
- Cổ phần hoá là t nhân hoá.
- Cổ phần hoá xác định lại chủ sở hữu thực, cụ thể của doanh nghiệp
- Cổ phần hoá thực chất là quá trình xã hội hoá các doanh nghiệp.
Nếu cổ phần hoá chủ yếu đợc thực hiện ở các doanh nghiệp nhà nớc, cổ
phần đợc bán tự do cho t nhân thì quá trình cổ phần hoá thực chất là quá trình t
nhân hoá. Điều này chủ yếu xảy ra ở các nớc t bản chủ nghĩa. Nếu cổ phần hoá
các doanh nghiệp nhà nớc mà cổ phần của nhà nớc chiếm vị trí chủ đạo và do nhà
nớc điều tiết thì cổ phần hoá thuộc về chế độ công hữu. Nếu cổ phần hoá đợc bán
cho cán bộ, công nhân viên và các cá nhân ngoài xã hội thì doanh nghiệp ấy đợc
cổ phần hoá theo hình thức tập thể.
ở Việt Nam cổ phần hoá chủ yếu đợc thực hiện theo 3 hình thức sau:
- Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp chủ đạo, có khả năng điều tiết nền kinh
tế quốc dân, chúng ta thờng tiến hành hình thức cổ phần hoá mà trên 50% cổ phần
thuộc sở hữu nhà nớc. Do cổ phần nhà nớc chiếm tỷ trọng lớn, nến nó đóng vai trò
chi phối và định hớng sự phát triển của doanh nghiệp. Các danh nghiệp này dới sự
quản lý, điều tiết chặt chẽ của nhà nớc. Với vị trị chủ dạo của mình, cổ phần của
nhà nớc lại chi phối một khối lợng lớn tài sản xã hội và sử dụng nó vào mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội do nhà nớc xã hội chủ nghĩa quản lý điều tiết. Chính vì
vậy, có thể xem các doanh nghiệp loại này thành các doanh nghiệp dựa trên cơ sở
công hữu và chúng nằm trong thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, các doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp không giữ vai trò chủ
đạo trong nền kinh tế quốc dân) mà nhà nớc có tham gia cổ phần nhng không
chiếm tỷ trọng lớn, không giữ vị trí chi phối. Với doanh nghiệp loại này nhà nớc
chỉ tham gia quản lý, điều tiết ở mức độ nhất định. Về mặt sở hữu, cũng có thể
xem nó nh một loại doanh nghiệp dựa trên cơ sở công hữu, nhng thuộc thành phần
kinh tế t bản nhà nớc, chúng sẽ phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Thứ ba, các doanh nghiệp cổ phần không có sự tham gia của cổ phần nhà nớc.
Với những doanh nghiệp loại này, ngoài việc quản lý theo pháp luật, nhà nớc khó
điều tiết đợc khuynh hớng phát triển của nó. Về mặt sở hữu, có thể xem các doanh
nghiệp này dựa trên cơ sở sở hữu tập thể và thuộc thành phần kinh tế tập thể. Các
doanh nghiệp loại này có thể phát triển theo hai khuynh hớng tuỳ thuộc vào sự
điều tiết của nhà nớc. Nếu để việc mua bán cổ phần diễn ra một cách tự do, chúng
có thể biến thành các doanh nghiệp t nhân, đi chệch định hớng xã hội chủ nghĩa.
Để đảm bảo cho sự phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, chúng ta cần có
chính sách quản lý, điều tiết có hiệu quả đối với các doanh nghiệp cổ phần, đặc
biệt là các doanh nghiệp thuộc dạnh thứ ba.
- 3 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
Cũng từ phân tích trên, có thể khẳng định rằng, nhìn chung cổ phần hoá
không hề đồng nghĩa với t nhân hoá(nh một số ngời nghĩ). Cổ phần hoá càng
không có nghĩa là hớng tới sự phát triển không theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Cổ phần hoá sẽ đi tới đâu chủ yếu phụ thuộc vào việc thực hiện quá trình cổ phần
hoá nh thế nào, vào sự quản lý, điều tiết của nhà nớc ra sao. Việt Nam và Trung
Quốc là những nớc đã lựa chọn con đờng phát triển theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Dới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nớc xã hội chủ
nghĩa, chúng ta có đủ khả năng để hớng quá trình cổ phần hoá phát triển một cách
lành mạnh, giữ vững đợc sự phát triển của đất nớc theo định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Thực chất cổ phần hóa ở nớc ta hiện nay là sự hình thành các doanh nghiệp
đa sở hữu cho mọi thành phần kinh tế có thể tham gia, hợp tác chia sẻ trách nhiệm,
san sẻ rủi ro thị trờng và cùng hởng lợi trong điều kiện có Đảng Cộng Sản lãnh
đạo, nhà nớc xã hội chủ nghĩa quản lý. Sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của nhà
nớc đảm bảo cho DNNN sau khi cổ phần hóa sẽ đi đúng định hớng XHCN, khác t
nhân hoá ở các nớc khác quản lý doanh nghiệp cổ phần theo kiểu t bản chủ nghĩa.
Một điểm khác biệt nữa là DNNN sau khi cổ phần hoá sẽ thành công ty cổ phần,
điều lệ và thể thức hoạt động theo luật công ty. Còn DNNN sau khi t nhân hoá trở
thành doanh nghiệp t nhân và thể thức hoạt động theo luật doanh nghiệp t nhân.
II. sự cần thiết phải đẩy mạnh cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc ở việt nam
1 Lợi ích công ty cổ phần trong sự phát triển kinh tế thị tr ờng
- Công ty cổ phần cho phép đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập chung t bản,
mở rộng quy mô sản xuất nhanh chóng tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xã hội
hoá sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi cho di chuyển t bản, phân tán bớt rủi ro cho
những ngời đầu t trong môi trờng cạnh tranh
- Cổ phần hoá DNNN tạo động lực mạnh mẽ cho nhà đầu t, cho nền kinh tế bằng
cách đa dạng hoá sở hữu không riêng gì cho DNNN đợc cổ phần hoá mà
còn góp phần đa dạng hoá cả nền kinh tế. Cổ phần hoá DNNN mở ra triển
vọng xây dựng thị trờng vốn lành mạnh phong phú, đỡ gánh nặng cho ngân
sách nhà nớc . Cổ phần hoá góp phần tích cực cho việc hình thành thì trờng
vốn lành mạnh tiến đến hình thành thị trờng chứng khoán, một yêu cầu cấp
thiết cho việc vận hành của nền kinh tế thị trờng.
- Cổ phần hoá sẽ mở rộng đa dạng sở hữu, do đó có điều kiện thuận lợi cho việc
mạnh dạn cơ cấu lại nền kinh tế phân bổ theo nhiều thành phần kinh tế.
Đồng thời cải tiến công tác quản lý kinh tế có hiệu quả hơn, bởi nó khẳng
định vai trò của hội đồng quản trị là tổ chức thay mặt tất cả các cổ đông,
quản lý với t cách ngời chủ thật sự với động cơ tất cả vì hiệu qủa của đồng
vốn vì quyền lợi của các cổ đông.
- 4 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
- Cổ phần hoá DNNN sẽ giúp cho ngời lao động thực hiện quyền làm chủ tốt hơn.
2. Doanh nghiệp nhà n ớc ở Viẹt Nam
Do đặc điểm của nớc ta vừa thoát khỏi cơ chế bao cấp nên những ảnh h-
ởng của nó vẫn còn tồn tại ở trong đại bộ phận các doanh nghiệp. Vì thế khi
chuyển sang cơ chế mới các DNNN thờng làm ăn kém hiệu quả, không có lãi. Lúc
đó nhà nớc buộc phải có chính sách tài trợ, bao cấp. Trong điều kiện ngân sách
đang thiếu hụt thì đây thực sự là một gánh nặng.
Quy mô doanh nghiệp phần lớn nhỏ bé và dàn trải về ngành nghề đã gây
chi phối xẻ lẻ các nguồn lực không tập chung đợc những nghành then chốt
Trình độ kĩ thuật, công nghệ lạc hậu. Phần lớn các DNNN đã đợc thành
lập khá lâu, có trình độ kĩ thuật thấp. Theo báo cáo điều tra của bộ khoa học công
nghệ và môi trờng thì trình độ công nghệ trong các DNNN Việt Nam hiện nay
kém các nớc từ 3-4 thế hệ. Có doanh nghiệp còn sử dụng trang bị kĩ thuật từ năm
1939 và trớc đó. Mặt khác, đại bộ phận DNNN đợc xây dựng bởi kĩ thuật của
nhiều nớc khác nhau nên thiếu tính đồng bộ.
Bên cạnh những khó khăn chủ quan xuất phát từ nội bộ nền kinh tế thì các
tác động tiêu cực do hội nhập kinh tế mang lại nh cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ khu vực gần đây đã ảnh hởng xấu đến nền kinh tế nớc ta điều này cho thấy tính
cấp bách phải khẩn trơng nâng cao tính hiêu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế
để đảm bảo sự phát triển đất nớc một cách ổn định vững chắc không những trớc
mắt mà cả trong tơng lai.
Chính từ những lợi ích ta thu đợc từ các công ty cổ phần và tình hình doanh
nghiệp trong nớc đảng và nhà nớc ta đã nhận thấy đợc vai trò quan trọng của việc
nên cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc. Tuy vậy không có nghĩa là nớc ta sẽ
cổ phần hoá toàn bộ DNNN thuộc mọi ngành nghề. Mục tiêu của Đảng và nhà nớc
ta là cân bằng giữa khu vực kinh tế nhà nớc và kinh tế t nhân, không thể phủ nhận
những thành tựu của DNNN trong một số ngành then chốt nh luyện kim ,điện
Vậy nên quan điểm của Đảng ta khi thực hiện cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp.
III. Mục tiêu của cổ phần hoá
Theo đề án thí điểm chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc sang công ty cổ
phần ban hành kèm theo quyết định 202-HĐBT của chủ tịch hội đồng bộ trởng
mục tiêu của cổ phần hóa bao gồm:
- Một là: chuyển một thành phần sở hữu về tài sản của nhà nớc thành sở hữu
của cổ đông nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất- kinh doanh.
- 5 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
- Hai là: phải huy động đợc một khối lợng vốn nhất định ở trong và ngoài nớc
để đầu t sản xuất kinh doanh
- Ba là: tạo điều kiện để ngời lao động thc hiện sự làm chủ doanh nghiệp
Với 3 mục tiêu trên chơng trình thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
của chính phủ có thể thấy vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh
nghịêp nhà nớc cần phải giải quyết một cách cơ bản. Sự lựa chọn giải pháp cổ
phần hoá là con đờng giải quyết đợc những vấn đề cơ bản này, đồng thời tạo ra
một mô hình doanh nghiệp hữu hiệu trong nền kinh tế thị trờng và đáp ứng đợc
yếu cầu kinh doanh hiện đại - đó là công ty cổ phần
Các mục tiêu của cổ phần hoá về thực chất là nhằm chuyển hình thái kinh
doanh một chủ với sở hữu nhà nớc toàn phần trong doanh nghiệp thành công ty cổ
phần hỗn hợp nhà nớc- t nhân hoặc công ty t nhân tạo điều kiện xác lập thị trờng
tài chính, mà cốt lõi là thị trờng chúng khoán để chuyển phơng thức vay mợn từ
ngân hàng sang huy động vốn từ thị trờng tài chính

Chơng II
Thực trạng của cổ phần hoá một bộ phận doanh
nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay.
I TIếN TRìNH Cổ PHầN HOá
Quá trình cổ phần hoá diễn ra trong hai giai đoạn:
1 Giai đoạn thí điểm(1992-1995)
Hội nghị lần thứ 2 ban chấp hành TW Đảng lần thứ 2 khoá VII (11-1991), Đảng
chủ trơng: chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty
cổ phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm,
chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiệm chu đáo trớc khi mở rộng trong phạm vi thích
hợp. Cũng trong thời gian đó, quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 10 (12-1991) đã đa
cổ phần hoá và nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội 1991-1995: thí điểm việc cổ
phần hoá một số cơ sở kinh tế quốc doanh để rút kinh nghiệm và có thêm nguồn
vốn phát triển.
Sau 4 năm triển khai đã chuyển đợc 5 DNNN thành công ty cổ phần :
1. Công ty đại lý liên hiệp vận chuyển thuộc bộ giao thông vận tải (1993)
2.Công ty cơ điện lạnh thuộc UBND TP HCM.(1993)
3.Xí nghiệp giầy Hiệp An thuộc bộ công nghiệp(1994)
4. Xí nghiệp chế biến hàng xuất khẩu thuộc UBND tỉnh Long An(1995)
5.Xí nghiệp chế biến thức ăn gia súc thuộc bộ nông nghiệp và phát triển
nông thôn(1995).
- 6 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
Nói chung tốc độ cổ phần hoá giai đoạn này rất chậm chạp và cả 5 doanh
nghiệp nhà nớc đuợc cổ phần hoá đều ở miền nam (4 doanh nghiệp thuộc địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh,1 doanh nghiệp thuộc địa bàn Long An)
2.Giai đoạn mở rộng thêm từ 1996 đến nay.
Trên cơ sở đánh giá các u điểm và tồn tại trong giai đoạn triển khai thí điểm
cổ phần hoá DNNN,nớc ta đã đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá. Từ sau nghị định
28/CP 7/5/1996về việc tiếp tục một số DNNN thành công ty cổ phần đến tháng 9-
1998 đã có thêm 25 doanh nghiệp chuyển thành công ty cổ phần , riêng 6 tháng
đầu năm 1998 tới 12 DNNN hoàn thành công tác cổ phần hoá. Cho tới thời điểm
tháng 12-2004 nớc ta đã có 2240 DNNN đã đợc cổ phần hoá trên địa bàn nhiều
tỉnh thành phố. Đó là 1 tín hiệu đáng mừng cho công việc cổ phần hoá doanh
nghiệp ở nớc ta.
* Các doanh nghiệp muốn cổ phần hoá thì phải tiến hành qua các bớc sau:
- Xin phép chính phủ về việc cổ phần hoá
- Thẩm định giá trị cổ phần
- Đại hội thành lập công ty cổ phần
II. Thực trạng cổ phần hoá DNNN ở nớc ta
1 Tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp giai đoạn 2001-2005
Cùng với tiến trình đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới , phát triển và nâng cao hiệu
quả doanh nghiệp nhà nớc theo tinh thần nghị quyết trung ơng 3 khóa IX, công tác
cổ phần hoá đã đạt đợc những kết quả khả quan. Năm 2005 có 650 DNNN và bộ
phận DNNN hoàn thành cổ phần hoá, đa tổng số DNNN và bộ phận DNNN đợc cổ
phần từ trớc tới nay lên 2955 đơn vị , trong đó riêng trong 5 năm 2001-2005 cổ
phần hoá đợc 2378 đơn vị
Trong giai đoạn này, số lợng DNNN đợc cổ phần hoá đã bằng 80,4% tổng
số doanh nghiệp nhà nớc cổ phần hoá từ trớc tới nay. Nếu chỉ tính trong 2 năm
2004-2005 đã có 1480 đơn vị, bằng 58% tổng số đơn vị cổ phần hoá. Qua đó ta
thấy kể từ khi có nghị quyết trung ơng 3, khoá IX(năm 2001) đến nay đã có những
bớc chuyển biến rõ rệt.
Trong số các doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần, doanh nghiệp có vốn nhà nớc dới
5 tỷ chiếm 56%, tập trung chủ yếu vào các ngành xây lắp, công nghiệp sản xuất,
gia công hàng hóa tiêu dùng, thơng mại dịch vụ, chế biến nông thuỷ sản thực
phẩm do các địa phơng quan lý. Doanh nghiệp có vốn từ 5-10 tỷ chiếm 24%.
Những đơn vị có kết quả cao so với kế hoạch cổ phần DNNN là: Bộ công
nghiệp(143%), bộ xây dựng(125%), tổng công ty dệt may Việt Nam(133%)
Từ năm 2004 đã có những doanh nghiệp có vốn nhà nớc khá lớn, hoạt động
có hiệu quả cũng đợc cổ phần hoá nh: công ty sữa Việt Nam có vốn 1500 tỷ đồng,
công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh có vốn nhà nớc 650 tỷ đồng bên cạnh
những DNNN độc lập quy mô lớn cổ phần hoá lần đầu tiên, 4 tổng công ty nhà nớc đã
đợc thí điểm cổ phân fhoá đó là tổng công ty xuất nhập khẩu kĩ thuật và xây dựng-
VINACONEX (bộ xây dựng), tổng công ty điện tử và tin học Việt Nam (bộ công
- 7 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
nghiệp), tổng công ty thơng mại và xây dựng (bộ giao thông vận tải), tổng công ty bảo
hiểm Việt Nam và 2 ngân hàng thơng mại quốc doanh : ngân hàng thơng mại Việt
Nam, ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long.Nhiều doanh nghiệp trớc
đây rất ít đụng chạm đến vấn đề cổ phần hoá : dầu khí, bu chính viễn thông, điện lực
bảo hiểm cũng đã cổ phần hoá. Nhìn chung việc cổ phần hoá trong thời gian qua đạt
một số nội dung sau:
1. Đã tạo ra loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu: bao gồm nhà nớc ngời lao
động trong doanh nghiệp trong đó ngời lao động trở thành ngời chủ thực sự của doanh
nghiệp. Theo số liệu hết quý 1 năm 2005 ở 2242 doanh nghiệp đã cổ phần hoá, nhà n-
ớc nắm giữ 46,5 % vốn điều lệ, ngời lao động nắm giữ 38,1%vốn điều lệ. Cổ đông
ngoài nắm giữ 15,4% vốn điều lệ. Ngời lao động trong doanh nghiệp trở thành chủ
doanh nghiệp đã đợc tham gia quản lý doanh nghiệp thông qua đại hội cổ đông, quyết
định những vấn đề quan trong của doanh nghiệp nhờ đó mà nâng cao đợc tính chủ
động ý thức kỉ luật tinh thần tự giác, tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh góp
phần nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp tạo ra cơ chế công khai
minh bạch về tài chính của công ty, mang lại lợi ích thiết thực cho bản thân, cho doanh
nghiệp và xã hội.
2 Đem lại cơ cấu sản xuất kinh doanh hợp lý cho doanh nghiệp, tập chung
vào những ngành những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế và quy mô lớn hơn để
khăng định vai trò chủ đạo của mình. Việc hoàn thành cổ phần hoá 2955 DNNN
không chỉ đơn thuần làm giảm số lợng doanh nghiệp nhà nớc nắm giữ 100% vốn
điều lệ nà còn làm cho DNNN từ chỗ phân tán dàn trải ở hầu hết các ngành, lĩnh
vực này tập chung hơn vào khoảng 39 ngành, lĩnh vực khá then chốt. Qua đó quy
mô vốn của doanh nghiệp tăng lên đáng kể nếu năm 2001 vốn trung bình của
doanh nghiệp khoảng 24 tỷ nay tăng 63,6 tỷ( gấp 2,65 lần), hầu nh không còn
doanh nghiệp có số có vốn nhà nớc dới 1 tỷ .
3 Tạo cơ hội để DNNN lành mạnh hoá một bớc tài chính doanh nghiệp và cơ
cấu lại lao động
4 Mang lại cho doanh nghiệp cơ chế quản lý năng động hiệu quả, thích nghi
và linh hoạt hơn trong cơ chế thị trờng: chuyển sang cơ chế thị trờng các doanh
nghiệp hoạt động hoàn toàn theo cơ chế thị trờng, tự chủ tự chịu trách nhiệm một
cách toàn diện về kết quả sản xuất kinh doanh trớc các cổ đông.các công ty cổ
phần đã thực hiện nhiều biên pháp để tiết kiệm chi phí đồng thời tiến hành ra soát
lại và xây dựng mới quy chế tài chính, lao động, tuyển dụng, đề bạt cán bộ xác
định rõ quyền hạn, nghĩa vụ và quyền lợi của cán bộ lãnh đạo, ngời lao động và
các cổ đông
5 Tuyệt đại đa số các doanh nghiệp nhà nớc Sau khi cổ phần hoá đã nâng cao
năng lực hiệu quả hoạt động.
- Ngay trong năm đầu tiên của cổ phần hoá, doanh thu bình quân của các
doanh nghiệp tăng 13%, lợi nhuận sau thuế tăng 48,8%. Điều này cho thấy việc
chuyển đổi đã có tác động mạnh đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp.
- Đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá nhiều năm đã đi vào hoạt động ổn
địnd, tốc độ tăng trởng đợc duy trì, doanh thu bình quân tăng 23,6%, lợi nhuận tr-
ớc thuế tăng 9,4%, lợi nhuận sau thuế tăng tới 54,4%. Một số doanh nghiệp có
doanh thu tăng cao nh công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận chuyển: 30 lần, công ty
cổ phần cơ điện lạnh: 13 lần, công ty cổ phần Kymdan:11,2 lần
- Một số chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp sau cổ phần hoá đều tăng: năng suất lao động tăng bình quân 18,3%; mức
- 8 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
lộp ngân sách bình quân của các doanh nghiệp tăng 24,9%;đầu t tài sản cố định
tăng 11,5%; lơng bình quân doanh nghiệp tăng 11,4%.điều đó khẳng định hiệu
quả của việc chuyển dổi các DNNN thành các công ty cổ phần
- Sau cổ phần hoá các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh, tạo thêm
công ăn việc làm, thu hút thêm lao động. Số lao động trong các ngành cổ phần hoá
tăng bình quân 6,6%. Cổ tức bình quân của các doanh nghiệp đạt 17,11%. Hầu hết
các doanh nghiệp đều có mức tổ chức cao hơn lãi xuất tiền gửi ngân hàng
2. Những mặt đ ợc của quá trình cổphần hoá DNNN
- Sản xuất phát triển, đời sống cán bộ, công nhân đợc nâng lên
- Công tác quản lý đợc đổi mới, bộ máy quản lý tinh giản, gọn nhẹ, có hiệu quả hơn
- Mọi ngời trong doanh nghiệp đều quan tâm đến kết quả sản xuất kinh doanh của
công ty bởi lợi ích của họ gắn với lợi ích của công ty, đây là bớc chuyển đổi trong
t duy
- Nhà nớc thu ngân sách tăng, kể cả thuế và lợi tức cổ phần
- Tập dợt cho đội ngũ cán bộ kinh doanh tổ chức quản lý theo cơ chế thị trờng,
không dựa vào nhà nớc nh trớc.
- Số lợng vốn huy động trong dân tuy cha nhiều nhng cũng đã tập dần cho họ
thành thói quen đầu t vào sản xuất
3. Những tồn tại chủ yếu trong tiến trình cổ phần hoá DNNN
Hiện nay còn trên 6000 Doanh nghiệp trong đó cần phải đa dạng hoá sở hữu
cổ phần hoá chiếm một tỷ lệ quan trọng. Vì vậy để tìm ra nguyên nhân chủ
quan, khách quan làm công tác này '' dẫm chân tại chỗ'' (Báo cáo của chính phủ tr-
ớc Quốc Hội) là điều cần thiết. Những nguyên nhân chủ yếu có thể là:
1. Về nhận thức và hành động từ các cơ quan quản lý đến doanh nghiệp cha
đầy đủ, hành động cha thờng xuyên, liên tục biểu hiện:
Đối với các cơ quan quản lý nhà nớc có ba trở ngại là trở ngại đi chệch h-
ớng đờng lối phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa; sự tụt hậu so với phát triển chung,
nạn tham nhũng của một số cán bộ.
Đối với các doanh nghiệp ngời lãnh đạo (giám đốc phó giám đốc) hầu hết là
chế độ bổ nhiệm nên họ.
Do đó từ trên xuống dới cả trong nhận thức và hành động đều thiếu tin tởng
và run sợ mất quyền lợi của mình.
2. Khung pháp lý cha đầy đủ và thiếu đồng bộ nh chủ trơng lớn của Đảng
và Nhà nớc mới dừng lại ở quyết định, chỉ thị của thủ tớng chính phủ, các ngành
các cấp mới chỉ hành động về hành chính. Trong khi đóởcor phần hoá cần đến sự
quy định rõ ràng bằng luật, tài chính, lao động các điều kiện của cơ chế thị trờng
giành cho hoạt động này còn thiếu.
3. Hình thức cổ phần hoá DNNN là còn quá sơ sài giản đơn cha mang tính
đa dạng trong khi đó các loại hình doanh nghiệp ở các vùng, các ngành có đặc thù
riêng. Nên ở đây thiếu sự chỉ đạo thích ứng. Sự nhận thức về DNNN và doanh
nghiệp ngoài quốc doanh công ty cổ phần còn nặng nề, ấu trĩ ở cả giác độ lý luận
và thực tiễn.
4. Thói quen luân vốn vào công ty cổ phần để kinh doanh cha có.
- 9 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
5. Các chính sách khuyến khích công nhân viên chức trong các DNNN
chuyển sang công ty cổ phần cha nhiều, cha có sự hấp dẫn cần thiết để họ hăng hái
trong hoạt động này.
6. Thủ tục hành chính quá rờm rà và tốn kém biết bao cửa ải mà doanh
nghiệp phải chịu đựng. Do đó trong kỳ họp thứ 5 quốc hội khoá X sửa đổi luật
doanh nghiệp nhà nớc, luật doanh nghiệp t nhân để tạo hành lang pháp lý cơ động,
đảm bảo quyền lợi, tiến độ thời gian cho việc xúc tiến ra đổi công ty cổ phần
7. Tổ chức chỉ đạo cha tập trung thiếu đồng bộ giữa các Bộ, ngành, Trung -
ơng, địa phơng. Có ngành, có địa phơng chỉ muốn thực hiện cổ phần hoá đối với
các doanh nghiệp lâu nay thua lỗ.
8.Các cán bộ quản lý và công nhân các doanh nghiệp nhà nớc cha mặn mà
với chủ trơng cổ phần hoá do ngại lợi ích cá nhân bị thiệt hại.
9. Cha có đủ một tổ chức, đội ngũ cán bộ nghiệp vụ đủ kiến thức lý luận và
kinh nghiệm thực tiễn có thể làm tham mu cho việc triển khai chủ trơng cổ phần
hoá một cách đồng bộ và xuyên suốt.
10. Còn nhiều tồn tại về tài chính, hành phần kinh tế nớc ta còn nhỏ bé, tỷ
suất lợi nhuận của doanh nghiệp nhà nớc còn thấp, cha đủ sức hấp dẫn để thu hút
vốn cổ phần.
11. Nền kinh tế nớc nhà cha ổn định, cha thật tin tởng, yên tâm bỏ vốn làm
ăn. Cha có thị trờng chứng khoán. Do đó cha tạo lập ra môi trờng thuận lợi phục
vụ cho quá trình mua bán cổ phần, tín dụng
Chơng iii
định hớng và giải pháp nhằm thúc cổ phần hoá
một bộ phận doanh Nghiệp Nhà NƯớC trong
NềN KINH Tế NƯớc ta
1. Hoàn thành khuôn khổ pháp lý
Một trong những vấn đề cấp thiết nhất hiện nay của nhà nớc ta là hoàn thành
khuôn khổ pháp lí cho quá trình cổ phần hoá. Chính sách cổ phần hoá cần đợc
hoàn thiện để phù hợp với luật doanh nghiệp theo hớng sau:
- Bỏ quy định về hạn chế mức mua cổ phần hoá lần đầu và mức mua cổ phần
hoá u đãi của cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp, theo đó họ không đợc mua quá mức
cổ đông trong và ngoài doanh nghiệp.
- Thay đổi phơng pháp định giá doanh nghiệp theo hội đồng hay theo kiểu
hành chính chứa đựng nhiều yếu tố chủ quan hiện nay sang hình thức đấu giá
thịnh hành trong nền kinh tế thị trờng.
- Ban hành những hớng dẫn về việc sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần
hoá DNNN cũng nh việc sử dụng tiền bán cổ phần đối với doanh nghiệp cổ phần
- 10 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
hoá và lợi tức cổ phần của phần vốn nhà nớc tại DNNN đã cổ phần hoá để có thể
huy động nhanh chóng có thể huy động nhanh chóng, có hiệu quả nhất khoản tiền
này và khắc phục tình trạng tồn đọng hiện nay tại kho bạc nhà nớc.
- Ban hành các chính sách để chấm dứt tình trạng mất bình đẳng trong quan
hệ với các tổ chức tín dụng giữa các DNNN và các doanh nghiệp đã cổ phần hoá.
Đồng thời ban hành quy chế hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và các tổ chức
đoàn thể khác trong các công ty cổ phần hoá.
- Tăng cờng công tác quản lý nhà nớc đối với các DNNN đã cổ phần hoá, đặc
biệt trên các mặt nh định hớng , chiến lợc, quy hoạch
II. Một số kiến nghị về cổ phần hoá
Để cổ phần hoá trở thành động lực của sự phát triển kinh tế xã hội của đất
nớc và không đi chệch hớng, chúng tôi xin nêu một số kiến nghị sau đây:
1. Cổ phần hoá là một phơng tiện có hiệu quả để thực hiện đa dạng hoá các
hình thức sở hữu trong điều kiện nớc ta hiện nay. Chính vì vậy phải đẩy mạnh việc
cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp Nhà nớc, đặc biệt là các doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ. Tuy đã có chủ trơng cổ phần hoá, song trong thời gian qua, việc thực
hiện cổ phần hoá còn khá chậm chạp. Có nhiều nguyên nhân, cả khách quan và
chủ quan. Song, theo tôi, không thể vì các nguyên nhân này mà làm chậm tiến độ
cổ phần hoá. Đây phải đợc xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách trong quá
trình đổi mới nền kinh tế- từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trờng.
Trong điều kiện mở cửa, chủ động hội nhập, chúng ta không thể chậm trễ hơn
trong việc phát triển nền kinh tế thị trờng. Cổ phần hoá là khâu đột phá trong quá
trình xây dựng nền kinh tế thị trờng theo hớng xã hội chủ nghĩa.
2. Việc thực hiện cổ phần hoá phải đảm bảo sự phát triển của nhà nớc theo
định hớng xã hội chủ nghĩa. Từ việc phân tích các loại hình cổ phần hoá trên đây,
có thể nói, cổ phần hoá không đồng nhất với t nhân hoá. Tuy nhiên, không có
nghĩa là nó sẽ không dẫn đến t nhân hoá, sẽ không tự phát đi chệch định hớng xã
hội chủ nghĩa.
Tính chất và xu hớng vận động của doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá phụ
thuộc vào quá trình thực hiện cổ phần hoá và sự quản lý, điều tiết của nhà nớc đối
với doanh nghiệp. Ba loại hình thực hiện cổ phần hoá đã trình bày bớc đầu tạo điều
kiện cần thiết để giữ vững sự phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Tuy
nhiên, sự vận động của các doanh nghiệp cổ phần là khá phức tạp, đặc biệt là ở
loại hình thứ ba- không có cổ phần của nhà nớc trong doanh nghiệp. Không loại
trừ khả năng ở loại hình này (và xa hơn, cả hai loại hình còn lại) vận động tự phát
theo hớng t nhân hoá. Chúng ta cần thông qua các biện pháp quản lý, điều tiết để
chống việc biến quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc. Cho nên, sự
- 11 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
quản lý, điều tiết của nhà nớc không chỉ dừng lại ở khâu thc hiện cổ phần hoá, mà
ở cả sự vận động, phát triển tiêp theo của các doanh nghiệp đã cổ phần hoá.
3. Phải tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng , sự quản lý của nhà nớc đối với sự
phát triển kinh tế- xã hội của đất nớc nói chung đối với quá trình cổ phần hoá các
doanh nghiệp nhà nớc nói riêng.
Quá trình cổ phần hoá không thể tách rời bối cảnh chung của sự phát triển kinh
tế xã hội. ở nớc ta các doanh nghiệp t nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc
ngoài đợc khuyến khích phát triển. Sự lớn mạnh của doanh nghiệp này, một mặt sẽ
là động lực cho sự phát triển đất nớc, song mặt khác cũng là một nhân tố dẫn đến
sự phát triển tự phát sang chủ nghĩa t bản, chính vì vậy cùng với sự quản lý, điều
tiết các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá, việc quản lý điều tiết các doanh nghiệp
này cũng hết sức quan trọng. Song sự quản lý, điều tiết các doanh nghiệp này
không đơn giản, mà điều quan trọng bậc nhất là phải đảm bảo lợi ích của các
chủ doanh nghiệp. Chúng ta cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo
hớng vừa làm chỗ dựa cho các doanh nghiệp phát triển, vừa đảm bảo cho sự phát
triển của các doanh nghiệp này không đi lệch con đờng mà ta đã chọn.
Quản lý theo pháp luật là yêu cầu và cũng là tiền đề để hớng sự phát triển của
các doanh nghiệp với các hình thức sở hữu khác nhau vào mục đích chung- phát
triển đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy Đảng và nhà nớc cần đặc
biệt tăng cờng sự lãnh đạo quản lý của mình thông qua hệ thống pháp luật.
Cùng với việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, phải tăng cờng sự
lãnh đạo của đảng, sự quản lý của nhà nớc trên các mặt trận văn hoá, t tởng chính
trị chính những việc làm này sẽ góp phần quan trọng vào việc xây dựng ý thức hệ
trong cộng đồng và đó cũng là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự phát triển theo
định hớng đã lựa chọn.
Thực tiễn cho thấy rằng, đa dạng hoá các hình thức sở hữu là yêu cầu khách
quan trong sự nghiệp đổi mới , phát triển nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã
hội chủ nghĩa. Cổ phần hoá trong đó có cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc, là
phơng tiện quan trọng để thực hiện quá trình đa dạng hoá các hình thức sở hữu ở
nớc ta. Việc đẩy mạnh quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nớc với sự
quản lý, điều tiết có hiệu quả của nhà nớc là một trong những động lực cho sự phát
triển đất nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.

III Một số giải pháp
Để tiếp tục hoàn thành mục tiêu cổ phần hoá DNNN một cách vững chắc
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá hoạt động có hiệu quả
một cách bền vững hơn cần thiết phải hoàn thiện môi trờng hoạt động kinh doanh
của các doanh nghịêp cổ phần hoá. Tôi đề xuất một số giải pháp sau:
- 12 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
Một là: xoá bỏ sự phân biệt giữa DNNN và các doanh nghiệp sau CPH trong
các chính sách và thực hiện thống nhất các chính sách về đất đai, tài sản, tín dụng, đầu
t, xuất nhập cảnh tạo lập môi trờng bình đẳng trong hoạt động cho mọi loại hình
doanh nghiệp trong các doanh nghiệp cổ phần. Điều này cần thiết phải đợc thể hiện
ngay trong luật doanh nghiệp(mới) sắp đợc quốc hội thông qua.
Hai là: chuyển chức năng quản cổ phần nhà nớc trong các doanh nghiệp cổ
phần hoá từ các bộ, ngành, địa phơng sang tổng công ty đầu t và kinh doanh vốn
nhà nớc. Đơn vị này là chủ thực sự của phần vốn nhà nớc trong các công ty cổ
phần, thực hiện quản lý kinh doanh đầu t các doanh nghiệp cổ phần. Nh vậy sẽ
tránh đợc sự bị động , lúng túng nh hiện nay, đồng thời tạo cơ sở cho việc đổi mới
công tác cán bộ trong các doanh nghiệp cổ phần hoá.
Ba là: cần có chính sách u đãi nhằm tạo điều kiện chó các doanh nghiệp sau
cổ phần hoá hoạt động đợc ổn định và phát triển. Đặc biệt là chính sách liên quan
đến tài chính doanh nghiệp nh tín dụng, thuế, xuất nhập khẩu.
Bốn là: tập chung giải quyết dứt điểm về quyền sử dụng đất đai, tài sản cho
các doanh nghiệp sau cổ phần. Đây là yếu tố tạo điều kiện cho các doanh nghiệp
cổ phần hoá về tài sản đất đai cũng nh có điều kiện để thế chấp vay vốn của các tổ
chức tín dụng, xoá bỏ hiện tợng vay tạm bợ, rủi ro cao.
Năm là: quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan nhà nớc, các ngành, các
cấp trong việc cung cấp thông tin, phổ biến chính sách và đặc biệt là giải quyết
nhanh, dứt điểm các vớng mắc của doanh nghiệp sau cổ phần hoá. Thờng xuyên
có liên hệ với các doanh nghiệp sau cổ phần hoá nhằm hỗ trợ giúp đỡ các doanh
nghiệp phát triển ổn định
Sáu là, đẩy mạnh hoạt động t vấn đối với công tác cổ phần hoá DNNN cũng nh
đối với hoạt động của các doanh nghiệp sau cổ phần hoá, những nội dung nghiệp vụ
cần t vấn bao gồm: xây dựng phơng án cổ phần hoá, đầu t cổ phần, lựa chọn cán bộ
lãnh đạo doanh nghiệp cổ phần; các dịch vụ, phát hành và chuyển nhợng cố phiếu trên
thị trờng chứng khoán, quyền lợi và trách nhiệm của các cổ đông trong doanh nghiệp
cổ phần hoá
Bẩy là, có biện pháp tuyên truyền, giải thích cho ngời lao động nhận thức đợc
đúng đắn, đầy đủ về quyền lợi, trách nhiệm của họ đối với doanh nghiệp sau cổ phần
hoá
Tám là, có biện pháp nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ quản lý doanh
nghiệp cổ phần hoá về mọi mặt cho phù hợp với môi trờng kinh doanh mới
Kết luận.
Cổ phần hoá DNNN là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả
hoạt động của các doanh nghiệp nhà nớc. Đấy là một trong những giải pháp nhằm
đa dạng hoá hình thức sở hữu đích thực của doanh nghiệp. Nguồn vốn nhàn rỗi
trong mọi tầng lớp nhân dân và xã hội đợc huy động nhiều hơn để đầu t đổi mới
công nghệ, phát triển doanh nghiệp, tạo thêm động lực thúc đẩydoanh nghiệp kinh
doanh có hiệu quả, tăng sức cạnh tranh để hội nhập quốc tế . Qua đó góp phần
- 13 -
đề án kinh tế chính trị SV: L NG THị THU HằNGƠƯ
quan trọng vào thực hiện thắng lợi công cuộc hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân
trong tình hình mới
Biết đợc sự quan trọng của quá trình cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp
nhà nớc chúng ta cũng nh tát cả mọi ngời cùng với nhà nớc cần phải tạo điều
kiện , thực hiện tốt những giải pháp để thức đảy quá trình cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc, kết hợp với nhiều biện pháp khác nhằm thu đợc nhiều thành tựu
góp phần vào xây dựng đất nớc
- 14 -

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét