Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Sự khác nhau cơ bản giữa Tố tụng lao động & tố tụng dân sự

Từ các đặc điểm nêu trên của tranh chấp lao động, Toà án chính là cơ quan
đáp ứng những yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động trong đời sống kinh tế xã
hội.
1.2. Cơ sở quy định giải quyết các tranh chấp lao động tại Toà án
1.2.1. Cơ sở kinh tế - xã hội
Đờng lối phát triển kinh tế của Đảng cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Bên
cạnh việc xây dựng các thị trờng tài chính tiền tệ cần phải xây dựng một thị tr-
ờng lao động ở Việt Nam. Việc xác lập một thị trờng lao động đòi hỏi phải xúc
tiến các điều kiện cơ bản cho hoạt động cung cầu lao động và ổn định các mối
quan hệ trong thị trờng đó.
Trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, quan hệ lao động xã hội càng thể hiện
tầm quan trọng của mình đối với sự phát triển kinh tế, bởi nó chính là một mặt của
quan hệ sản xuất xã hội. Vì thế, cần có một cơ chế đảm bảo cho quan hệ lao động
tồn tại trong sự ổn định và phát triển. Tuy nhiên, cũng do sự phát triển kinh tế thị
trờng, quan hệ lao động trở nên phức tạp và tranh chấp lao động có chiều hớng gia
tăng.
Theo thống kê cha đầy đủ, hàng năm ở nớc ta có hàng nghìn vụ tranh chấp
lao động và đình công lớn nhỏ. Nhng số vụ tranh chấp đợc giải quyết tại toà chiếm
tỷ lệ rất nhỏ. Do trình độ am hiểu pháp luật còn hạn chế nên các bên thờng tìm
cách giải quyết các vụ tranh chấp đó bằng những con đờng khác mà chủ yếu là
thông qua nỗ lực của các cơ quan thuộc ngành lao động- thơng binh xã hội.
Hiện nay, khi các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ lao động nói riêng
diễn ra ngày càng phức tạp, tự các bên trong quan hệ lao động có nhu cầu giải
quyết tranh chấp lao động tại toà án thì việc quy định thủ tục giải quyết các tranh
chấp lao động là cần thiết.
5
Tố tụng lao động và tài phán lao động nói chung là biểu hiện của sự phát triển
và công bằng xã hội. Vì vậy, nó phải đợc đa thành luật pháp để thực hiện.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
Hiến pháp Nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đợc Quốc hội thông qua
ngày 15/4/1992) đã quy định: Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân
địa phơng, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ
quan xét xử của Nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Đoạn 1- Điều 127-
Hiến pháp 1992). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xác lập các cơ chế khác
nhau nhằm xét xử và giải quyết tốt các vi phạm pháp luật, các tranh chấp trong
đó có các tranh chấp lao động.
Luật tổ chức Toà án nhân dân tại điều 1 quy định: Toà án xét xử những
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và
giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật
Bộ luật Lao động của nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (đợc Quốc hội
thông qua 23/6/1994) đã quy định trong các điều 162, 164, 168, 172, 174 về
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động của Toà án nhân dân.
Để hoạt động giải quyết các tranh chấp lao động có cơ sở pháp lý, nhằm đảm
bảo tính chất khách quan, kịp thời, đúng pháp luật quy định tại điều158 bộ luật
Lao động, Quốc hội giao cho Uỷ ban Thờng vụ quốc hội quy định về Việc giải
quyết các cuộc đình công và các vụ án lao động (Điều 178 Bộ luật Lao động).
Việc uỷ quyền cho Uỷ ban Thờng vụ quốc hội quy định về việc giải quyết các
vụ án lao động và các cuộc đình công là cơ sở pháp lý trực tiếp chỉ đạo hành vi của
Uỷ ban Thờng vụ quốc hội trong công tác xây dựng các cơ chế pháp lý cho việc
giải quyết các vụ án lao động và các cuộc đình công.
1.2.3. Kinh nghiệm của Việt Nam và các nớc trên thế giới
6
Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ theo chức năng của mình Toà án nhân
dân đã trực tiếp giải quyết các vụ án lao động, các vụ tranh chấp về xử lý theo hình
thức buộc thôi việc đối với công nhân, viên chức nhà nớc, học sinh học nghề trong
nớc, học sinh học nghề, giáo viên dạy nghề và thực tập sinh sản xuất ở nớc ngoài
bị buộc phải bồi thờng phí tổn đào tạo cho nhà nớc vì vi phạm hợp đồng, bị kỷ luật
phải về nớc trớc thời hạn; những tranh chấp giữa ngời làm công với chủ t nhân
(Quyết định số 10/ HĐBT ngày 14/01/1985 của Hội đồng bộ trởng, nay là Chính
phủ về việc chuyển Toà án nhân dân xét xử những việc tranh chấp trong lao động).
Trớc đây, mọi thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động đều áp dụng theo
các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự. Số vụ án đợc thụ
lý và xét xử tuy không nhiều song ngành Toà án cũng đã có những kinh nghiệm
thực tiễn trong việc giải quyết các vụ án lao động.
Những kinh nghiệm của các nớc trong khu vực và trên thế giới cũng nh của
chế độ ngụy quyền trớc đây ở miền Nam cũng rất hữu ích. Trong các bộ luật và
đạo luật của mình, Thái Lan, Inđônêxia, Malaixia, Philippin, Singapo đã sớm đ a
ra các cơ chế giải quyết các tranh chấp lao động và các cuộc đình công tại Toà án
công nghiệp hoặc Toà án trọng tài.
Bộ Luật lao động của Việt Nam cộng hoà quy định về thẩm quyền của toà án
lao động trong quá trình giải quyết các vụ án cá nhân phân tranh (tranh chấp cá
nhân). Một số nớc nh Pháp, Thuỵ Điển, Cộng hoà liên bang Đức có riêng một hệ
thống Toà án lao động để giải quyết các tranh chấp lao động. Chúng ta có thể tham
khảo kinh nghiệm của các nớc để xây xựng hệ thống các quy định và cơ cấu giải
quyết các tranh chấp lao động ở nớc ta.
Ngày 11/4/1996, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội đã chính thức thông qua Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động(*) tạo cơ sở pháp lý cho việc giải
quyết các tranh chấp lao động đợc nhanh gọn và kịp thời.
7
1.3. Ưu điểm của toà án trong giải quyết các tranh chấp lao động
Cũng nh việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự, kinh
tế, giải quyết tranh chấp lao động là sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền theo
một trình tự thủ tục nhất định nhằm khôi phục, bảo vệ các quyền và các lợi ích hợp
pháp của các bên tranh chấp.
Có nhiều biện pháp giải quyết tranh chấp lao động, tuỳ thuộc vào phạm vi,
quy mô tranh chấp và thời điểm phát sinh tranh chấp mà pháp luật qui định sử
dụng biện pháp nào để giải quyết tranh chấp đó. Biện pháp giải quyết tranh chấp
lao động đợc pháp luật lựa chọn là hoà giải, trọng tài và xét xử tại toà án.
Thẩm quyền hoà giải tranh chấp lao động trớc hết thuộc Hội đồng hoà giải cơ
sở hoặc hoà giải viên do cơ quan lao động cấp huyện cử. Trong đó, Hội đồng hoà
giải cơ sở ở các doanh nghiệp có nhiệm vụ giải quyết tất cả các vụ tranh chấp lao
động tập thể và tranh chấp lao động cá nhân (kể cả tranh chấp về sa thải, đơn ph-
ơng chấm dứt hợp đồng lao động, bồi thờng thiệt hại khi đơng sự yêu cầu) xảy ra
tại doanh nghiệp đó.
Nơi sử dụng dới 10 lao động, không có Hội đồng hoà giải thì các tranh chấp
do hoà giải viên hoà giải.
Khi giải quyết tranh chấp, Hội đồng hoà giải hoặc hoà giải viên có quyền:
- Tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ các bên tranh chấp, những ngời có liên quan,
những ngời làm chứng.
- Thu thập tài liệu, chứng cứ, yêu cầu đơng sự cung cấp đầy đủ các tài liệu có
liên quan tới vụ việc phải hoà giải, yêu cầu đơng sự tới phiên họp hoà giải của hội
đồng.
- Đa ra phơng án hoà giải để hai bên tranh chấp cùng xem xét, thơng lợng và
lập biên bản hoà giải.
8
(*) Từ nay đợc viết là PLTTGQCVALĐ.
Nh vậy, các cá nhân, tổ chức hoà giải nói trên chỉ có thẩm quyền hoà giải
(giúp đỡ, hớng dẫn các bên, gợi ý phơng án hoà giải ) mà không ra quyết định.
Đây là cách giải quyết tranh chấp nhanh chóng, linh hoạt, phù hợp với điều kiện
các bên, có thể giúp các bên duy trì quan hệ lao động sau tranh chấp. Song, giải
quyết tranh chấp lao động tại Hội đồng hoà giải vẫn còn nhiều hạn chế do hoạt
động của Hội đồng hoà giải còn phụ thuộc nhiều vào ngời sử dụng lao động nên
không có tính độc lập của bên thứ ba, việc giải quyết các tranh chấp không đợc
khách quan. Hội đồng hoà giải cũng bị hạn chế về điều kiện hoạt động, khả năng
giải quyết các tranh chấp lao động và làm việc kiêm nhiệm nên ít đầu t , ít kinh
nghiệm thực tế ch a đợc các bên tin tởng.
Hình thức thứ hai là giải quyết tranh chấp lao động tại Hội đồng trọng tài lao
động. Hội đồng trọng tài lao động đợc thành lập theo Quyết định số 774/ TTg ngày
08/10/1996 của Thủ tớng Chính phủ và đợc hớng dẫn thực hiện bởi Thông t
02/LĐTBXH-TT ngày 08/01/1997 của Bộ lao động thơng binh xã hội.
Hội đồng trọng tài lao động có nhiệm vụ hoà giải và giải quyết các vụ tranh
chấp lao động tập thể giữa tập thể lao động và ngời sử dụng lao động trên địa bàn
cấp tỉnh theo yêu cầu của các bên đơng sự và sau khi hội đồng hoà giải lao động cơ
sở hoặc hoà giải viên của cơ quan lao động cấp huyện hoà giải không thành.
Hội đồng trọng tài lao động có chủ tịch là giám đốc hoặc phó giám đốc Sở lao
động thơng binh- xã hội. Các thành viên gồm một thành viên là đại diện liên đoàn
cấp tỉnh, một thành viên là đại diện của những ngời sử dụng lao động; một thành
viên chuyên trách làm th kí của hội đồng là công chức Sở lao động thơng binh- xã
hội; một hoặc một số thành viên là luật gia, nhà quản lý, nhà hoạt động xã hội có
hiểu biết về lĩnh vực lao động- xã hội và có uy tín ở địa phơng do Mặt trận Tổ quốc
tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng đề cử.
9
Nhiệm kì của Hội đồng trọng tài lao động là ba năm, làm việc theo nguyên
tắc tập thể. Khi Hội đồng trọng tài lao động họp để hoà giải và giải quyết tranh
chấp lao động tập thể thì số thành viên có mặt của hội đồng phải quá bán lẻ và nhất
thiết phải có các thành viên của Sở lao động thơng binh- xã hội, liên đoàn lao động
tỉnh và đại diện của những ngời sử dụng lao động.
Hội đồng trọng tài lao động có quyền:
- Tìm hiểu vụ việc, gặp gỡ các bên tranh chấp, những ngời có liên quan, những
ngời làm chứng.
- Thu thập tài liệu chứng cứ, yêu cầu đơng sự cung cấp đầy đủ các tài liệu có liên
quan đến vụ tranh chấp.
- Yêu cầu các bên đơng sự tới phiên họp hoà giải và giải quyết các tranh chấp
của hội đồng.
- Đa ra phơng án hoà giải để hai bên tranh chấp cùng xem xét, thơng lợng.
- Ra quyết định giải quyết vụ tranh chấp nếu hoà giải không thành.
Nh vậy, ở Việt Nam tuy mới chỉ thừa nhận hình thức trọng tài bắt buộc nhng
các quy định về thành phần, thẩm quyền, trình tự giải quyết các tranh chấp tại
hội đồng trọng tài đã tỏ ra khá hợp lý. Tuy nhiên, cũng nh Hội đồng hoà giải thành
viên Hội đồng trọng tài hầu hết làm công tác trọng tài kiêm nhiệm nên ít đầu t và
không nhiều kinh nghiệm ảnh h ởng đến khả năng giải quyết tranh chấp. Quyết
định của trọng tài cũng không mang tính cỡng chế Đó là những nguyên nhân
làm cho các bên tranh chấp cha tin tởng và giảm tác dụng của hoạt động trọng tài.
Hình thức giải quyết tranh chấp lao động thứ ba là xét xử tại Toà án. Đây
cũng là một hình thức không thể thiếu trong quá trình giải quyết tranh chấp lao
động. Hoạt động tố tụng tại toà là hoạt động của cơ quan công quyền, thể hiện
quyền lực của nhà nớc. Nhà nớc tạo cho nó những điều kiện để hoạt động và đảm
bảo cho hệ thống Toà án vận hành nhịp nhàng.
10
Theo quy định của PLTTGQCVALĐ thì quá trình tố tụng lao động tại toà
diễn ra qua các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.
Thời hạn xét xử tại toà đợc rút ngắn hơn so với các hình thức tố tụng khác
(Tối đa 55 ngày đối với giai đoạn sơ thẩm - tính tuyệt đối từ khi thụ lý đến trớc khi
mở phiên toà; 30 ngày đối với giai đoạn phúc thẩm tính từ khi nhận đủ hồ sơ đến
khi mở phiên toà) Việc quy định một thời hạn ngắn nh vậy cần đảm bảo giải
quyết nhanh chóng, dứt điểm các tranh chấp lao động, đảm bảo quyền lợi của các
bên trong mối quan hệ lao động.
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm, phúc phẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm
cũng thể hiện u điểm hơn so với hai hình thức trên. Nếu nh Hội đồng hoà giải cơ
sở, hoà giải viên lao động hay Hội đồng trọng tài lao động còn thể hiện tính chất
nghiệp d, kiêm nhiệm không đợc đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu thì các thẩm
phán tham gia xét xử tại toà là những ngời có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao,
đợc đào tạo cơ bản về kiến thức pháp lý, hoạt động chuyên trách. Từ đó, chất lợng
xét xử đợc đảm bảo.
Bên cạnh đó, điều 11 PLTTGQCVALĐ quy định thẩm quyền chung của Toà
án là giải quyết các tranh chấp lao động hầu hết đã đợc Hội đồng hoà giải cơ sở,
hoà giải viên lao động hay Hội đồng trọng tài lao động giải quyết nhng không
thành. Điều đó càng khẳng định rằng, giải quyết tranh chấp lao động tại toà là một
cơ chế cuối cùng đảm bảo thoả mãn yêu cầu của các bên. Trong quá trình xét xử,
Toà án có quyền ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật và đợc cỡng chế thi
hành, đảm bảo tính khách quan triệt để. Trong khi đó, hình thức hoà giải tại hội
đồng hoà giải cơ sở hoặc tại hội đồng trọng tài lao động chỉ hoàn toàn dựa trên sự
thoả thuận, thơng lợng của các bên. Cán bộ tham gia hoà giải là ngời trong doanh
nghiệp hoặc là cán bộ thuộc ngành lao động thơng binh- xã hội nên không thể
tránh khỏi sự cục bộ, thiếu khách quan, kém triệt để và không cơng quyết. Hội
11
đồng hoà giải cơ sở có nhiệm kì ngắn (2 năm), thành viên là ngời trong doanh
nghiệp nên việc giải quyết rất có thể thiếu khách quan và dễ bị nhợng bộ.
Hiện nay cha có quy định tính chất chung thẩm của các phán quyết trọng tài
nên quyền lực của trọng tài còn hạn chế.
Một khuyết điểm nữa của hai hình thức trên là hiện nay thiếu văn bản quy
định về việc đảm bảo thi hành thoả thuận của các bên. Trong trờng hợp hoà giải
thành nhng các bên không thực hiện thì cũng không có cơ quan nào giải quyết. Ng-
ợc lại, các quyết định, bản án của toà đợc đảm bảo thi hành, cỡng chế thi hành, từ
đó, có khả năng giải quyết dứt điểm các tranh chấp lao động.
Nh vậy, hoạt động tố tụng tại toà là một cơ chế khoa học và đáp ứng đợc yêu
cầu, mong muốn của các bên. Tính hiệu lực pháp lý cao và đảm bảo quyền lợi của
các chủ thể mà vẫn đảm bảo đợc tính chất mềm dẻo, dân chủ (hoà giải tại tòa) phù
hợp với đặc trng của quan hệ pháp luật lao động.
2. Khái niệm và quá trình phát triển luật tố tụng lao
động ở Việt Nam
2.1. Khái niệm luật tố tụng lao động
Khoa học pháp lý đã chỉ ra rằng nhóm quan hệ xã hội có đặc điểm riêng biệt
đợc pháp luật điều chỉnh là căn cứ cơ bản để phân định các ngành luật. Mỗi ngành
luật điều chỉnh một nhóm quan hệ tơng đối độc lập, nhóm quan hệ ấy là đối tợng
điều chỉnh của ngành luật. Về mặt từ ngữ, Tố tụng là quá trình giải quyết một số
12
sự việc, còn Tố tụng lao động là quá trình giải quyết một vụ án lao động. Những
quy định của pháp luật về quá trình giải quyết đó tạo thành Luật tố tụng lao động.
Thực tế, khi các bên tranh chấp thực hiện quyền khởi kiện hoặc Viện kiểm sát
nhân dân khởi tố vụ án lao động theo đúng vụ án của pháp luật thì Toà án có nghĩa
vụ thụ lý, giải quyết và mối quan hệ giữa Toà án với Viện kiểm sát và các đơng sự
phát sinh. Để giải quyết đúng đắn, chính xác vụ án còn phải có sự tham gia của các
cơ quan, tổ chức và các cá nhân hữu quan khác nữa. Ví dụ: ngời bảo vệ quyền lợi
cho các bên tranh chấp, tổ chức công đoàn cấp trên, ngời làm chứng Sự tham gia
của các chủ thể này phải trong phạm vi, theo một trình tự nhất định và mối quan
hên giữa họ cũng đợc pháp luật quy định phù hợp về quyền và nghĩa vụ của mỗi
bên. Nh vậy, các quy phạm pháp luật đã tác động đến hoạt động của Toà án, đơng
sự và những ngời tham gia vụ án lao động nói chung, cho phép hoặc buộc các chủ
thể này phải thực hiện các quyền và nghĩa vụ nhất định. Hoạt động góp phần giải
quyết vụ án lao động của các chủ thể trên theo quy định của pháp luật gọi là tố
tụng lao động và các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ giữa họ
trong quá trình giải quyết vụ án đợc gọi là Luật tố tụng lao động.
Vậy, Luật tố tụng lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội phát sinh giữa Toà án và những ngời tham gia tố tụng trong
quá trình Toà án giải quyết các vụ án lao động để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của ngời lao động, tập thể lao động, ngời sử dụng lao động.
Đối tợng điều chỉnh của luật tố tụng lao động là mối quan hệ phát sinh giữa
Toà án với Viện kiểm sát, giữa Toà án, Viện kiểm sát với các đơng sự cũng nh
những ngời tham gia tố tụng khác trong quá trình toà án giải quyết các vụ án lao
động. Nh vậy, nếu các chủ thể trên thiết lập những mối quan hệ ngoài mục đích
góp phần giải quyết các vụ án lao động thì không phải là quan hệ tố tụng lao động
và không đợc Luật tố tụng lao động điều chỉnh.
13
Tố tụng tại toà phải đảm bảo tuân thủ theo các nguyên tắc pháp lý cơ bản của
ngành luật, bao gồm những nguyên tắc của thủ tục tố tụng nói chung và những
nguyên tắc riêng của tố tụng lao động theo các quy định trong Hiến pháp, trong Bộ
luật lao động, trong PLTTGQCVALĐ.
Trong quá trình điều chỉnh các quan hệ tố tụng lao động, Luật tố tụng cũng
sử dụng kết hợp phơng pháp thoả thuận (để các bên có quyền tự định đoạt về vấn
đề đang tranh chấp giữa họ) với phơng pháp mệnh lệnh (để toà án có thể nhân danh
quyền lực nhà nớc giải quyết vụ án, ra các bản án, quyết định có hiệu lực bắt buộc
thực hiện ). Đây là quá trình giải quyết một vụ việc có sự khống chế về thời gian
mà luật quy định là thời hạn tố tụng. Quá trình này phải đợc toà án - một cơ quan
đại diện cho công lý chủ động tiến hành và chịu sự giám sát của Viện kiểm sát.
Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng kiểm sát, giám sát việc xét xử và thực hành
quyền công tố.
Trong quá trình tố tụng, Toà án phải tìm hiểu và vận dụng đúng đắn pháp luật
tố tụng. Bên cạnh đó, Toà án còn phải hiểu một cách thấu đáo hệ thống các quy
định về nội dung trong Bộ luật lao động và các văn bản hớng dẫn giải thích bộ luật,
từ đó tiến hành hoà giải xét xử vụ án đúng đắn, khách quan.
2.2. Quá trình phát triển Luật tố tụng lao động ở Việt Nam
Khái niệm Tố tụng lao động còn là khái niệm rất mới ở Việt Nam. Nó chỉ
xuất hiện từ năm 1995 khi PLTTGQCVALĐ đợc ra đời.
Từ năm 1985 trở về trớc, tranh chấp lao động ít xảy ra và việc giải quyết các
tranh chấp lao động không đợc chú trọng, thậm chí bị coi là một lĩnh vực cấm vì
cơ chế tập trung và quan điểm sức lao động không phải là hàng hóa chính là một
nguyên nhân khiến ngời lao động (các công nhân- viên chức nhà nớc) và ngời sử
dụng lao động (các có quan- xí nghiệp nhà nớc) không sử dụng quyền yêu cầu cần
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét