trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương.
Định nghĩa này đang được nhiều quốc gia sử dụng trong đó có Việt Nam.
Phải công nhận rằng không có một định nghĩa duy nhất nào về nghèo đói, theo
báo cáo phát triển Việt Nam thì các khía cạnh của nghèo đó là tình trạng thiếu
thốn ở nhiều phương diện như: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập,
thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương
trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và khó khăn tới
những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết
định, cảm giác bị xỉ nhục, không được tham người khác tôn trọng v v
Nghèo khổ tuyệt đối biểu thị một mức thu nhập (chi tiêu) tối thiểu cần thiết
để đảm bảo những “nhu cầu vật chất cơ bản” như lương thực, quần áo, nhà ở dể
cho mỗi người có thể “ tiếp tục tồn tại”.
Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển,
Robert McNamara, khi làm giám đốc của ngân hàng thế giới, đã đưa ra khái
niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới
ngoài cùng của sự tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu
tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất
phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của
giới trí thức chúng ta.”
Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương
đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thoả mãn nhu cầu sống như là
chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh
giới tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2
đô la cho châu Mỹ La Tinh và Carribean đến 4 đô la cho các nước Đông Âu cho
đến 14,40 đô la cho các nước công nghiệp (Chương trình phát triển Liên Hiệp
Quốc 1997).
Đối với Việt Nam, Chính Phủ Việt Nam đã 4 lần nâng mức chuẩn nghèo
trong giai đoạn từ 1993 đến cuối năm 2005. Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-
TTg của thủ tướng chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt
5
“chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005”,
thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn
miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng /người/ tháng (960.000 đồng /người/ năm)
trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu
nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/
năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình
quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm trở
xuống là hộ nghèo. Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính
phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai
đoạn 2006-2010 thì ở khu vực nông thôn những hộ có thu nhập bình quân từ
200.000 đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo,
ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000
đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) là hộ nghèo.
Trong những xã hội thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn
cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như việc cung cấp
không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về
một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác
định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc
thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo
đi về văn hoá, thiếu sự tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một
phần được các nhà xã hội xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
Nghèo diễn ra ở khắp mọi nơi, cả những nước giàu nhất thế giới.
Ở Mỹ cũng không tránh khỏi nghèo! Theo số liệu từ báo cáo của Cục điều tra
dân số tháng 8 năm 2005 thì ở Mỹ con số những người có thu nhập dưới ranh
giới nghèo đã liên tiếp tăng đến lần thứ tư. Có 12,7% dân số hay 37 triệu người
nghèo và đã tăng 0,2% so với năm trước đó. Một gia đình 4 người được coi là
6
nghèo khi chỉ có thể chi tiêu ít hơn 19.310 đô la Mỹ trong một năm. Đối với
những người độc thân thì con số này ở vào khoảng 9650 đô la.
Ở Đức, theo số liệu từ “Báo cáo giàu và nghèo lần thứ hai” do chính phủ liên
bang đưa ra trong tháng 3 năm 2005 thì trong năm 2003 có 13,5% dân số nghèo.
Năm 2002 cũng theo số liệu này thì con số đó là 12,7%, năm 1998 là 12,1%.
Hơn 1/3 những người nghèo này là những người nuôi con một mình và con của
họ. Vợ chồng có nhiều hơn 3 con chiếm 19%. Trẻ em và thanh niên ở Đức có
nguy cơ nghèo cao. 15% trẻ em dưới 15 tuổi và 19,1% thanh niên từ 16 đến 24
tuổi thuộc vào diện này. Số trẻ em sống nhờ vào trợ cấp xã hội ở Đức tăng thêm
64.000, lên đến 1,08 triệu trong năm 2003 và đạt đến 1,45 triệu trong thời gian
2004-2005. Theo UNICEF, trẻ em ở Đức tăng nhanh hơn so với phần lớn các
nước công nghiệp. Thêm vào đó nghèo có ảnh hưởng tới cơ hội giáo dục theo
nghiên cứu của Tệp hội Từ thiện Công nhân (Arbeiterwohlfahrt). Ngược lại thì
người già ở Đức lại giảm từ 13,3% năm 1998 xuống còn 11,4% năm 2003. Thế
nhưng nạn nghèo ở đây lại được dự đoán là sẽ tăng vì những người thất nghiệp,
làm việc nửa ngày và những người về hưu trong tương lai (tức là tất cả những
người làm việc hiện nay) sẽ bị giảm đi theo các cải tổ. Theo một nghiên cứu của
Deutsches Institut Altersvsorge thì 1/3 công dân liên bang có nguy cơ bị nghèo
đi trong tuổi già. Nguyên nhân bên cạnh việc tăng tuổi thọ là các cải tổ về chế
độ hưu của năm 2001 và năm 2004 giảm mức độ tiền hưu theo luật pháp xuống
khoảng 18% và việc nhiều công dân liên bang không sẵn sàng tự lo trước cho
tuổi già vì không muốn hay không có khả năng (khoảng 16%).
Ở Áo, theo số liệu thống kê của Bộ Xã Hội thì trong năm 2003 có hơn 1 triệu
người Áo (13,2% dân cư) có nguy cơ nghèo. Trong năm 2002 thì 900.000 hay
12%, năm 1999 là 11%. Ranh giới nguy cơ nghèo là 60% của thu nhập trung
bình. theo đó thì cứ mỗi 8 người thì có một người là có thu nhập ít hơn 785
Euro/tháng. Phụ nữ có tỷ lệ nguy cơ nghèo cao hơn (14%). Bên cạnh nghèo về
thu nhập như là chỉ số cho tình trạng tài chính của một gia đình, ở Áo còn có
“nghèo nguy kịch” khi ngoài thiệt thòi về tài chính còn có thiếu thốn nhất định
7
trong những lãnh vực sống cơ bản. Trong năm 2003 có 467.000 người (5,9%
dân số) nghèo nguy kịch. trong năm trước còn là 300.000 người hay 4%. theo
một bản báo cáo của hội nghị về nạn nghèo, lần đầu tiên có số liệu về cái gọi là
“Working poor”: Tại Áo có 57.000 người nghèo mặc dù là có việc làm. Ngoài ra
mức độ nguy cơ nghèo phụ thuộc vào công việc làm: Những người làm việc cho
đến 20 tiếng hằng tuần có nguy cơ nghèo gấp 3 lần, những người làm việc từ 21
đến 30 tiếng có nguy cơ nghèo gấp đôi những người làm việc 31 đến 40 tiếng.
Các thước do nghèo khổ về thu nhập: Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo.
Các thước đo về nghèo khổ đa chiều:
Về giáo dục: tỷ lệ biết chữ, tỷ lệ nhập học ở các cấp học, chi chính phủ cho
giáo dục.
Về y tế: Tuổi thọ bình quân, tỷ lệ tử vong ở trẻ, tỷ lệ suy dịnh dưỡng ở trẻ,
tình trạng nức sạch, tỷ lệ người không được tiếp cận với các dịch vụ y tế.
Thu nhập: Ngưỡng nghèo lương thực, thu nhập, việc làm.
1.4. công bằng và bất bình đẳng.
Như bất cứ một khái niệm chuẩn nào, từ “công bằng”đối với nhiều người
khác nhau mang ý nghĩa không giống nhau. Đây là một khái niệm khó, từ trước
đến nay đã có nhiều cách giải thích khác nhau tuỳ theo từng quốc gia và từng
chuyên ngành học thuật. Theo báo cáo của NHTG thi Công bằng được đinh
nghĩa theo 2 cách cơ bản là: Cơ hội công bằng và tránh sự cùng khổ tuyệt đối.
Cơ hội công bằng: Kết cục trong một đời người, xét theo nhiều khía cạnh
khác nhau, phải phản ánh phần lớn các nỗ lực và tài năng của họ chứ không phải
là hoàn cảnh cá nhân. Những hoàn cảnh đã định trước như giới, màu da, nơi
sinh, nguồn gốc gia đình và nhóm người xã hội mà cá nhân đó sinh ra không nên
góp phần quyết định xem liệu con người đó có thành công về kinh tế, xã hội hay
chính trị hay không.
Tránh sự cùng khổ tuyệt đối: Một quan điểm không chấp nhận một sự cùng
khổ hay chính xác là một dạng ác cảm với sự bất bình đẳng về các kết cục theo
kiểu Raoxow cho rằng, các xã hội có thể quyết định nên hay không nên có sự
8
can thiệp để bảo vệ sinh kế cho những người có nhu cầu bức thiết nhất (sống
dưới ngưỡng tuyệt đối nào đó về nhu cầu), ngay cả khi nguyên tắc về cơ hội
bình đẳng đã được đảm bảo. Con đường từ cơ hội đến kết cục có lắm trông gai,
kết cục có thể thấp kém do không may, hoặc thậm chí do sự thất bại của bản
thân từng người. Vì mục đích bảo hiểm hoặc vì lòng chắc ẩn mà xã hội có thể
khổng để các thành viên của mình không phải chịu cảnh đói, ngay cả khi họ đã
được hưởng đúng phần của mình trong “chiếc bánh” cơ hội, nhưng vì lý do nào
đó mà mọi việc trở nên quá tồi tệ với họ.
Các thước đo bất bình đẳng thu nhập:
Đường cong Lorenz (do nhà kinh tế học Mỹ Coral Lorenz 1950).
Đường cong Lorenz được biểu thị trong một hình vuông mà cạnh bên là tỷ lệ %
thu nhập cộng dồn, còn cạnh đáy là tỷ lệ % cộng dồn của các nhóm dân cư được
sắp xếp theo thứ tự mức thu nhập tăng dần.
Đường cong Lorenz phản ánh tỷ lệ % của tổng thu nhập quốc dân cộng dồn
được phân phối tương ứng cới tỷ lệ % cộng dồn của các nhóm dân số đã biết.
Tất cả các đường cong Lorenz đều bắt đầu từ gốc của hình vuông và kết thúc ở
điểm A đối diện mình. Điều đó cho biết, % dân số được nhận tương ứng bao
nhiêu % thu nhập và 100% dân số sẽ có 100% thu nhập.
Trong trường hợp thu nhập được phân phối tuyệt đối bình đẳng thì bao
nhiêu % dân số sẽ được hưởng tương ứng với bấy nhiêu % thu nhập. Khi đó
đường cong Lorenz sẽ trùng vào đường chéo OA của hình vuông và đường này
được gọi là đường bình đẳng tuyệt đối.
Nếu một người nhận được toàn bộ thu nhập và những người khác thì không
có chút thu nhập nào, đường cong Lorenz sẽ chạy theo cạnh đáy và cạnh bên của
hình vuông, đó là trường hợp phân phối hoàn toàn bất bình đẳng.
Nhìn chung đường cong Lorenz thường nằm ở khoảng giữa đường chéo và
đường bất bình đẳng tuyệt đối. Đường cong Lorenz càng gần đường chéo thì
mức độ công bằng càng cao (bất bình đẳng càng thấp). và càng xa đường chéo
thì mức độ công bằng càng thấp (bất bình đẳng càng cao).
9
Hệ số GINI.(mang tên nhà thống kê học người Italia C.GiNi.): là thước đo bất
bình đẳng được sử dụng phổ biến nhất.
G=
BA +
A
=2A. Trên thực tế hệ số G được tính theo công thức:
G=
∑∑
= =
−∗
∗∗
n
i
n
j
yjyi
yn
1 1
2^2
1
.
0
.1≤≤ G
Hệ số GINI (G): nhận giá trị từ 0 đến 1. nếu G=0 thì là bình đẳng tuyệt đối
thì diện tích A bằng 0 và đường cong Lorenz trùng đường chéo. Nếu G=1 thì
đường cong Lorenz xa đường chéo nhất. Nhưng trên thực tế thì G=0 hay G=1
chỉ có ỹ nghĩa lý thuyết.
Tỷ lệ giữa bách phân vị thứ 90 với 10. Được xây dựng bằn cách chia thu nhập
(hoặc tiêu dùng) của bách phân vị thứ 90 cho thu nhập (tiêu dùng) của bách
phân vị thứ 10. Tỷ lệ giữa bách phân vị thứ 90 và thứ 10 bằng 5 có nghĩa là hộ
gia đình trong bách phân vị thứ 90 chiếm được thu nhập (hoặc chi tiêu) gấp 5
lần so với hộ gia đình đứng ở bách phân vị thứ 10.
Tiêu chuẩn 40% của NHTG. Tính xem 40% dân số có thu nhập (chi tiêu) thấp
nhất chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong tổng thu nhập (chi tiêu). Nếu <12% thì bất
bình đẳng cao. Nếu từ 12% đến 17% thì bất bình đẳng vừa còn nếu >17% thì là
tương đối bình đẳng.
2.Các mối quan hệ.
2.1. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và XĐGN.
Xoá đói giảm nghèo (XĐGN) là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội
và tăng trưởng bền vững. Xoá đói giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt
mà còn là nhiệm vụ lâu dài. Trước mắt là xoá hộ đói, giảm hộ nghèo: lâu dài là
xoá sự nghèo, giảm khoảng cách nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu
mạnh , công bằng, dân chủ văn minh.
XĐGN không đơn giản là việc phân phối lại thu nhập một cách thụ động
mà phải tạo ra một lực tăng trưởng tại chỗ, chủ động tự vươn lên thoát nghèo.
10
Xoá đói giảm nghèo không đơn thuần là sự trợ giúp một chiều của tăng trưởng
kinh tế đối với các đối tượng có nhiều khó khăn mà còn là nhân tố quan trọng
tạo ra một mặt bằng tương đối đồng đều cho phát triển triển, tạo thêm một lực
lượng sản xuất dồi dào và đảm bảo cho giai đoạn “cất cánh”.
Do đó XĐGN là một trong những mục tiêu của tăng trưởng (cả trên góc dộ
tăng trưởng và kinh tế), đồng thời cũng là một diều kiện tiền đề cho tăng trưởng
nhanh và bền vững. Trên phương diện nào đó, xét về ngắn hạn, khi phân phối
một phần đáng kể trong thu nhập xã hội cho chương trình xoá đói giảm nghèo
thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế có thể bị ảnh hưởng, song xét một
cách toàn diện về dài hạn thì kết quả XĐGN sẽ tạo tiền đề cho tăng trưởng
nhanh và bền vững.
2.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng.
Một là có quan điểm cho rằng tăng trưởng và công bằng có mâu thuẫn. Hai
là cũng co quan điểm cho rằng tăng trưởng và công bằng không có mâu thuẫn.
Trong dài hạn công bằng và tăng trưởng có thể hỗ trợ cho nhau chứ không phải
thay thế nhau. Xuất phát điểm của các nghiên cứu nhằm liên hệ phát triển kinh
tế với bất bình đẳng thu nhập gắn với các công trình nghiên cứu nổi tiếng của
hai tác giả được nhận giải thưởng Nobel, đó là W. Arthur Lewis (1954) và
Simon Kuznets (1955). Trong bài báo cáo kinh điển của mình năm 1954 nhan đề
“phát triển kinh tế với cung lao động vô hạn”, Lewis đã xây dựng một mô hình
lý thuyết trong đó tăng trưởng và tích luỹ trong một nền kinh tế hai khu vực sẽ
bắt đầu từ khu vực công nghiệp hiện đại, nơi các nhà tư bản sẽ thuê công nhân ở
mức lương cho trước và tái đầu tư phần lời nhuận của họ. Số công nhân nông
nghiệp truyền thống sẵn sàng chuyển sang làm việc trong khu vực lương cao và
năng suất cao này là vô hạn. Trong quá trình phát triển, chừng nào giả định này
còn có giá trị thì chừng đó sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập còn làm
tăng mức thu nhập trung bình. Nhưng có một bước ngoặt mà sau điểm đó, sự
bất bình đẳng sẽ giảm khi kết thúc giai đoạn dư thừa lao động và nền kinh tế
công nghiệp hoá hoàn toàn.
11
Tuy Kuznets không công khai xây dựng mô hình cho sự chuyển dịch dân
số từ ngành này sang ngành khác trong quá trình phát triển, nhưng ông đã lựa
dựa vào đó để trình bày ý tưởng cơ bản của ông về mối quan hệ giữa tăng
trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập (“Đường kuznets”). Trong bài phát
biểu ở cương vị chủ tịch tại cuộc họp thường niên Hiệp hội Kinh tế Hoa Kỳ
năm 1954, ông đã giả thuyết rằng trong quá trình tăng trưởng và công nghiệp
hoá, bất bình đẳng lúc nào đầu sẽ tăng lên do sự chuyển dịch từ nông nghiệp và
nông thôn sang công nghiệp và thành phố, rồi sau đó sẽ giảm xuống khi lợi
nhuận giữa tất cả được bình quân hoá. Số liệu mà Kuznets sử dụng để đưa ra
nhận đinh đó lấy ra từ chuỗi chỉ số bất bình đẳng dài hạn của Anh, Đức và Mỹ,
và từ một quan sát thời điểm của ba nước đang phát triển-Ấn Độ, Xây
Lan(Srilanca ngày nay) và Puéctô Rico. Đó là những số liệu sẵn có vào thời
điểm đó, và Kuznets hoàn toàn nhận thức được sự hạn chế của những hậu thuẫn
thực nghiệm đối với lập luận của ông, mà theo ngôn ngữ của ông, “có 5% là
thông tin thực nghiệm và 95% là sự suy đoán, trong đó có thể có một số thông
tin đã bị sai lệch do sự mơ tưởng.
Suy đoán của Kuznets được dựa chủ yếu trên các số liệu đơn tuyến và cần có
những tình huống nghiên cứu sâu về tăng trưởng kinh tế của các quốc gia.
Nhưng nhiều nghiên cứu sau đó lại đơn thuần sử dụng các số liệu tổng hợp giữa
các nước (thường không có chất lượng cao lắm) và các mô hình giản tiện hoá để
tìm hiểu và ủng hộ cho giả thuyết về một sự đánh đổi khó tránh giữa phát triển
kinh tế và bẩt bình đẳng. Đường cong Kuznets trở thành một trong những sự
kiện điển hình hoá và được nhiều người trích dẫn nhất trong nghiên cứu về phân
phối thu nhập trong suốt gần bốn thập kỷ.
Với việc xây dựng các số liệu lớn hơn nhiều, chẳng hạn như cơ sở dữ liệu
về bất bình đẳng quốc tế của Deininger and Squire (1996) (kế tiếp công trình
của Fields (1989)), các cuộc “kiểm định” thực nghiệm về đường cong Kuznets
đã được đông đảo các học giả thực hiện. Nhưng người ta dần hiểu ra rằng, sử
dụng số liệu quốc gia để phân tích cái về bản chất là những quá trình độngcó thể
12
dẫn đến sự sai đường khủng khiếp. Hơn nữa, rất nhiều nghiên cứu đã chứng tỏ
các bằng chứng hậu thuẫn cho đường Kuznets không phải lúc nào cũng vững
chắc theo các tiêu chuẩn kinh tế lượng, cơ cấu mẫu hay thời gian quan sát. Tại
sao đường Kuznets không đúng trong thực tế có lẽ còn phải viện đến một điều là
các nước đang phát triển nói chung không thoả mãn giả định về quá trình di cư
và phát triển ngành như trong giả thuyết của Kuznets. Để giải thích sự khác khác
biệt quốc tế trong bất bình đẳng về thu nhập, điều quan trọng là mối liên hệ giữa
bất bình đẳng kinh tế và các yếu tố khác, chẳng hạn như tính chất hai khu vực
kinh tếm đất đai,giáo dục, sự khác biệt vùng…cần được phân tích kỹ lưỡng hơn.
Kết luận lại, ngày nay đã có sự đồng thuận nhất định rằng không thể xác
lập được một mối quan hệ đơn giản giữa thu nhập và bất bình đẳng. Như Kanbur
(2000) đã lập luận trong công trình đánh giá thấu đáo các nghiên cứu về đường
cong Kuznets được viết trong cuốn sổ tay về phân phối thu nhập: “có lẽ tốt hơn
hết là chúng ta nên tập trung trực tiếp vào các chính sách hoặc sự kết hợp các
chính sách điều đó sẽ tạo ra tăng trưởng mà không gây những hiệu ứng phân
phối bất lợi, chứ không nên dựa vào sự tồn tại hay không một mối quan hệ tổng
hợp, giản đơn hoá giữa thu nhập bình quân đầu người và bất bình đẳng.”
2.3. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và các chính sách giảm nghèo.
Một nền kinh tế nếu chỉ co sự thị trường hoạt động riêng lẻ thì sẽ chỉ
như “vỗ tay trên một bàn tay” do vậy tính hiệu quả của nó sẽ giảm đi, nhiều khi
có thể dẫn dến phi hiệu quả và khủng hoảng kinh tế bởi vì chính thị trường cũng
có những khuyết tật của nó. Vì vậy mà cần phải có sự điều tiết của chính phủ.
Các chính sách vĩ mô điều tiết của chính phủ là một công cụ quan trọng và cơ
bản để nhà nước có thể thực hiện vai trò điều tiết của mình. Nhưng bản thân nhà
nước cũng có những hạn chế của mình vì vậy cần phải có sự kết hợp một cách
linh hoạt giữa nhà nước và thị trường. Các chính sách phải làm những việc mà
thị trường thất bại như chính sách công cộng, chính sách pháp luật điều tiết vĩ
mô. Và những chính sách XĐGN cũng không nằm ngoài mục đích nhằm làm
tăng tính hiệu quả và khắc phục những thất bại của thị trường.
13
Như trên đã nêu thì tăng trưởng và giảm nghèo có thể hỗ trợ tích cực cho
nhau nên khi hoạch định các chính sách thì cần có sự cân nhắc chính sách để có
thể kết hợp tăng trưởng và giảm nghèo một cách hiệu quả và bền vững.
Một chính sách hoặc một tập hợp các chính sách nhằm sửa chữa những sai
lệch trong giá cả. Có được mức giá hợp lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản
xuất , tạo công ăn việc làm và xoá đói giảm nghèo.
Một chính sách hoặc một tập hợp các chính sách nhằm đem lại những thay
đổi về cơ cấu trong phân phối tài sản nguồn lực và khả năng được giáo dục cùng
các cơ hội có liên quan và tạo ra thu nhập. Những chính sách như vậy vượt ra
ngoài phạm vi hạn hẹp của kinh tế học và động chạm tới toàn bộ cơ cấu xã hội,
thể chế, văn hoá, chính trị của các nước đang phát triển khác nhau. Nhưng nếu
không có những thay đổi triệt để về cơ cấu và phân phối lại tài sản như vậy dù là
đặt hiệu quả ngay tức thời ( chẳng hạn như thông qua các trình diễn chính trị) thì
những thay đổi nhằm cải thiện đáng kể điều kiện sống của người nghèo ở nông
thôn và thành thị , thậm chí không thể thực hiên được.
Chính sách hoặc tập hợp các chính sách nhằm điều chỉnh phân phối thu nhập
theo quy mô ở các tầng lớp trên bằng cách áp dụng chế độ thuế luỹ tiến theo luật
định đánh vào thu nhập tài sản, còn đối với các tầng lớp dưới thì mở rộng cung
cấp hàng tiêu dùng và dịch vụ công cộng.
Một chính sách hoặc một tập hợp các chính sách nhằm thúc đẩy nghiên cứu
và triển khai công nghệ trong nước phù hợp với các vấn đề thế giới thứ 3, trong
đó chú trọng vào việc tìm kiếm các phương pháp hiệu quả (mà hầu hết là sử
dụng nhiều lao động) để cung cấp các dịch vụ y tế, nhà ở và đào tạo với chi phí
thấp , cải thiện nông nghiệp ở quy mô nhỏ và mở rộng các cơ hội tìm kiếm công
ăn việc làm ở nông thôn và thành thị.
3. Kinh nghiệm của một số nước Nics châu Á trong việc thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế và XĐGN.
Sự cất cánh của nền kinh tế Xinggapo, Hồng Công, Hàn Quốc và Đài Loan
ở châu Á đã làm chấn động thế giới. Mọi người cố tìm ra bí quyết cất cánh của
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét