Mục lục:
A. Phần mở đầu 1
B. Phần nội dung: 1
1.Khái niệm nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà nước: 1
2. Nguyên tắc tập trung – dân chủ: 1
2.1.Cơ sở pháp lý: 2
2. 2. Biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính
nhà nước 2
3. Thực trạng việc vận dụng nguyên tắc tập trung – dân chủ trong quản
lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay: 5
3.1. Về mặt tích cực: 5
3.2. Về mặt hạn chế 5
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng nguyên
tắc tập trung – dân chủ vào hoạt động quản lý hành chính ở nướ ta: 8
4. Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung – dân chủ trong quản lý hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay: 9
C. Phần kết luận 10
PHẦN MỞ ĐẦU
Cũng giống như bất kì hoạt động có mục đích nào, quản lý hành chính
nhà nước được tiến hành trên cơ sở những nguyên tắc nhất định. Đây chính là
tư tưởng chủ đạo rất quan trọng trong tổ chức và hoạt động giúp cho các chủ
thể quản lý hành chính nhà nước thực hiện có hiệu quả công việc của mình
trên các lĩnh vực đã được phân công. Nguyên tắc tập trung – dân chủ cũng là
một trong những nguyên tắc quan trọng được dùng để áp dụng trong hoạt
động quản lý hành chính nhà nước. Do vậy em xin chọn đề tài “Phân tích
nguyên tắc tập trung- dân chủ và chỉ ra ý nghĩa của nguyên tắc này trong
quản lý hành chính nhà nước ở Việt Nam hiện nay” để đi sâu tìm hiểu.
PHẦN NỘI DUNG
1. Khái niệm nguyên tắc trong quản lí hành chính nhà nước.
Trước hết ta phải hiểu nguyên tắc là gì?. Nguyên tắc trước hết được hiểu là
điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm
(1)
.
Trong
quản lý hành chính nhà nước, các nguyên tắc cơ bản là những tư tưởng chủ
đạo bắt nguồn từ cơ sở khoa học của hoạt động quản lý, từ bản chất của chế
độ, được quy định trong pháp luật làm nền tảng cho hoạt động quản lý hành
chính nhà nước.
Dưới góc độ của luật hành chính, nguyên tắc trong quản lý hành chính nhà
nước là tổng thể những quy phạm pháp luật hành chính có nội dung đề cập tới
những tư tưởng chủ đạo làm cơ sở để tổ chức thực hiện hoạt động quản lý
hành chính nhà nước.
Các nguyên tắc quản lý nhà nước nói chung và những nguyên tắc quản lý
hành chính nhà nước nói riêng đã được quy định trong pháp luật như quy định
trong hiến pháp, luật, văn bản dưới luật. Tuy nhiên, những nguyên tắc được
quy định trong hiến pháp được xem là nguyên tắc cơ bản nhất.
Hệ thống các nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước bao gồm nhóm
nguyên tắc chính trị xã hội và nhóm nguyên tắc tổ chức kĩ thuật. Nguyên tắc
chính trị xã hội là hệ thống các nguyên tắc điều chỉnh về phương diện định
hướng có tính chất chính trị, tạo tiền đề cho việc ban hành, thực hiện các văn
bản quy phạm pháp luật trong quản lý nhà nước. Hệ thống các nguyên tắc này
gắn bó chặt chẽ với bản chất nhà nước, bản chất chế độ và tồn tại ổn định lâu
dài trong một nhà nước.
Nguyên tắc tập trung – dân chủ sau đây chúng ta đi tìm hiểu thuộc nhóm
nguyên tắc chính trị xã hội.
2. Nguyên tắc tập trung – dân chủ.
(1): xem Viện ngôn ngữ học, từ điển tiếng Việt, Nxb. Khoa học-xã hội-Trung tâm từ điển học, H.1994,
tr.672
2.1. Cơ sở pháp lí.
Đây là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của nhà nước ta nên
việc thực hiện quản lý hành chính nhà nước phải tuân theo nguyên tắc này.
Điều 6 - Hiến pháp 1992 quy định: “Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ
quan khác của nhà nước đều tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung
dân chủ”. Nguyên tắc này bao hàm sự kết hợp giữa hai yếu tố tập trung và
dân chủ, nghĩa là vừa đảm bảo sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ; vừa
đảm bảo mở rộng dân chủ dưới sự lãnh đạp tập trung.
2.2. Biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính
nhà nước.
Trong điều kiện hiện nay sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân chủ là một
yêu cầu khách quan đối với công tác quản lý hành chính nhà nước. Nguyên
tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở những
điểm sau:
- Sự phụ thuộc của cơ quan hành chính nhà nước vào cơ quan quyền lực nhà
nước cùng cấp.
Hiến pháp của nhà nước ta đã xác định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà
nước thuộc về nhân dân. Người dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua hệ
thống các cơ quan quyền lực nhà nước do chính họ bầu ra để thay mặt họ trực
tiếp thực hiện những quyền lực đó. Điều 6, Hiến pháp 1992 đã quy định:
“Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân
dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, do
nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân”.
Để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước của nhân dân trên các
lĩnh vực đời sống của xã hội, hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ trung
ương tới địa phương được thành lập. Trong tổ chức và hoạt động của cơ quan
hành chính nhà nước luôn có sự phụ thuộc vào cơ quan quyền lực nhà nước
cùng cấp.
Trước hết, cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định
trong việc thành lập, sáp nhập hay giải thể các cơ quan hành chính nhà nước ở
cùng cấp. Ở trung ương, Quốc hội thành lập ra Chính phủ và trao cho nó
quyền hành pháp. Ở địa phương, các Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân
cùng cấp bầu ra và thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở địa
phương. Các cơ quan khác trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước (như
Bộ, cơ quan ngang Bộ …) đều do các cơ quan quyền lực nhà nước ở cùng cấp
trực tiếp hay gián tiếp quyết định việc thành lập, thay đổi hay bãi bỏ. Trong
hoạt động các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo, giám sát
của hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt
động của mình trước cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp. Tất cả sự phụ
thuộc nêu trên đều nhằm mục đích đảm bảo cho hoạt động của hệ thống cơ
quan hành chính nhà nước phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi ích của
nhân dân lao động. Đồng thời, đó chính việc đảm bảo cho sự tập trung quyền
lực vào hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước – cơ quan do dân bầu ra và chịu
trách nhiệm trước nhân dân.
Dân chủ được thể hiện rõ nét trong việc cơ quan quyền lực Nhà nước trao
quyền chủ động, sáng tạo cho cơ quan hành chính Nhà nước trong quá trình
cơ quan này chỉ đạo thực hiện pháp luật và các văn bản khác của cơ quan
quyền lực. Các cơ quan quyền lực nhà nước có những quyền hạn nhất định
trong việc thành lập, thay đổi, bãi bỏ các cơ quan hành chính nhà nước cùng
cấp. Trong hoạt động, các cơ quan hành chính nhà nước luôn chịu sự chỉ đạo,
giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước và chịu trách nhiệm báo cáo hoạt
động của mình với cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp.
Tất cả sự phụ thuộc này nhằm mục đích bảo đảm cho hoạt động của hệ
thống cơ quan hành chính nhà nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng và lợi
ích của nhân dân lao động, bảo đảm sự tập trung quyền lực vào cơ quan
quyền lực – cơ quan do dân bầu và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
- Sự phục tùng của cấp dưới đối với cấp trên, của địa phương đối với trung
ương.
Trước hết cần khẳng định sự phục tùng ở đây là sự phục tùng mệnh lệnh
hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật. Sự phục tùng này đảm bảo cho
cấp trên và trung ương tập trung quyền lực để chỉ đạo, giám sát hoạt động của
cấp dưới và địa phương. Nếu thiếu nó sẽ dẫn đến buông lỏng sự lãnh đạo, làm
nảy sinh tình trạng tuỳ tiện, vô chính phủ, cục bộ địa phương. Sự phục tùng
này trong quản lý hành chính nhà nước biểu hiện ở cả hai phương diện tổ
chức và hoạt động.
Trên cơ sở qui định của pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn của mình và căn
cứ vào đặc điểm, tình hình, lợi ích hợp lý của địa phương (hoặc cấp dưới), các
cơ quan nhà nước trung ương (hoặc cấp trên) có quyền quyết định đối với địa
phương (hoặc cấp dưới). Tất cả các yêu cầu, mệnh lệnh do cấp trên và trung
ương đưa ra cấp dưới và địa phương có nghĩa vụ phải thực hiện. Tuy nhiên
đây không phải là sự phục tùng vô điều kiện mà là sự phục tùng những mệnh
lệnh hợp pháp trên cơ sở quy định của pháp luật. Các cơ quan nhà nước địa
phương (hoặc cấp dưới) có quyền chủ động, sáng tạo trong việc thực hiện
quyết định của cơ quan nhà nước trung ương (hoặc cấp trên) hoặc những vấn
đề thuộc thẩm quyền của mình, phù hợp với đặc điểm cụ thể của địa phương
hoặc đơn vị mình, nhưng không được trái với các qui định của trung ương
(hoặc cấp trên).
Trong hoạt động của các cơ quan nhà nước, phải phân định những vấn đề
thuộc thẩm quyền tập thể, những nhiệm vụ, quyền hạn thuộc thẩm quyền của
người đứng đầu. Những vấn đề thuộc thẩm quyền tập thể thì thiểu số phục
tùng đa số nhưng thiểu số có quyền bảo lưu ý kiến, đa số cũng cần xem xét,
tham khảo ý kiến của thiểu số để kiểm tra tính đúng đắn trong quyết định của
mình. Những vấn đề cá nhân có quyền quyết định thì cá nhân phải chịu trách
nhiệm về quyết định của mình.
- Sự phân cấp quản lý.
Phân cấp quản lý là sự phân định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong bộ
máy quản lý hành chính nhà nước. Mỗi cấp quản lý có những mục tiêu, nhiệm
vụ, thẩm quyền và những phương thức cần thiết để thực hiện một cách tốt
nhất những mục tiêu, nhiệm vụ của cấp mình. Trong phạm vi thẩm quyền
được giao mỗi cấp quản lý được phép tiến hành những hoạt động nhất định
nhằm phát huy tính năng động sáng tạo của mình.
Phân cấp quản lý là một biểu hiện của nguyên tắc tập trung dân chủ. Tuy
nhiên, việc phân cấp phải đảm bảo những yêu cầu sau:
+ Việc phân cấp quản lý phải đảm bảo cho trung ương có quyền quyết định
trong những lĩnh vực then chốt, những vấn đề có ý nghĩa chiến lược nhằm
đảm bảo sự phát triển cân đối và hài hòa của toàn xã hội, bảo đảm sự quản lý
tập trung và thống nhất của Nhà nước trong phạm vi toàn quốc.
+ Phải mạnh dạn phân quyền cho địa phương, các đơn vị cơ sở để phát huy
tính chủ động sáng tạo trong quản lý, tích cực phát huy sức người, sức của,
đẩy mạnh sản xuất và phục vụ đời sống nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà cấp
trên giao phó.
+ Phải phân cấp quản lý cụ thể, hợp lý trên cơ sở quy định của pháp luật.
Hạn chế tình trạng cấp trên gom quá nhiều việc, khi không làm xuể công việc
ấy thì giao lại cho cấp dưới đồng thời tránh cho cơ quan nhà nước ở trung
ương phải ôm đồm các công việc mang tính sự vụ, thuộc về chức trách của
các đơn vị ở địa phương cơ sở
+ Phân cấp quản lý phải xác định chức năng cơ quan. Mỗi loại việc chỉ
được thực hiện bởi một cấp cơ quan, hoặc một vài cấp cơ quan. Cấp trên
không phải lúc nào cũng thực hiện được một số chức năng một cách có hiệu
quả như cấp dưới.
Phân cấp quản lý giữa các cấp trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước
là công việc hết sức phức tạp đòi hỏi phải xem xét từ nhiều yếu tố và góc độ
khác nhau như: cơ sở kinh tế, xã hội, trình độ phát triển đồng đều về kinh tế,
kết cấu hạ tầng, giao thông, thông tin, liên lạc, các yếu tố về dân tộc, trình độ
dân trí, trình độ đội ngũ cán bộ quản lý ở địa phương và cơ sở…Do đó, việc
ban hành các quyết định về phân cấp quản lí cần phải có sự cân nhắc, tính
toán kĩ lưỡng, hợp lí, tránh đưa ra những quyết định mang tính chung chung,
tùy tiện. Tất cả các nội dung của việc phân cấp quản lý bao giờ cũng phải
được thể hiện trong các văn bản pháp luật của các cấp có thẩm quyền.
- Hướng về cơ sở.
Các đơn vị cơ sở của bộ máy hành chính nhà nước là nơi trực tiếp tạo ra
của cải vật chất, trực tiếp phục vụ đời sống vật chất và tinh thần của người
dân lao động. Do vậy trách nhiệm của mọi cơ quan nhà nước là phải tạo điều
kiện thuận lợi cho các đơn vị kinh tế, văn hóa – xã hội hoàn thành tốt công
việc của mình.
Hướng về cơ sở chính là việc các cơ quan hành chính nhà nước mở rộng
dân chủ trên cơ sở quản lý tập trung đối với hoạt động của toàn bộ hệ thống
các đơn vị kinh tế, văn hóa – xã hội trực thuộc. Các đơn vị đó, trước hết là
những tế bào của nền kinh tế quốc dân, nơi trực tiếp sản xuất ra của cải vật
chất, được Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu các tài sản hợp pháp, có quyền tự
chủ trong sản xuất kinh doanh, đồng thời cũng được Nhà nước hướng dẫn,
giúp đỡ về vật chất tinh thần. Các đơn vị văn hóa – xã hội của hệ thống các
đơn vị cơ sở luôn được Nhà nước quan tâm, cung cấp những trang thiết bị cần
thiết để hoạt động, giúp đỡ về vật chất, tinh thần nhằm tạo ra những điều kiện
tốt nhất để các đơn vị này hoạt động hiệu quả. Song song với những việc làm
nêu trên, Nhà nước cũng có các chính sách và biện pháp quản lý một cách
thống nhất và chặt chẽ tổ chức và hoạt động của hệ thống các đơn vị cơ sở.
Có như vậy mới thúc đẩy mọi hoạt động của các đơn vị kinh tế, văn hóa – xã
hội này phát triển một cách mạnh mẽ theo đúng định hướng của Nhà nước.
- Sự phụ thuộc hai chiều của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương đều được tổ chức và hoạt
động theo nguyên tắc phụ thuộc hai chiều hay còn gọi là nguyên tắc song
trùng trực thuộc. Sự phụ thuộc này thể hiện ở cả hai mặt tổ chức và hoạt động
của cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương và được pháp luật quy định cụ
thể.
Ở địa phương, Ủy ban nhân dân các cấp trước hết có sự phụ thuộc vào Hội
đồng nhân dân cùng cấp (mối phụ thuộc ngang). Đồng thời, chúng còn có sự
phụ thuộc vào cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền chung ở cấp trên
trực tiếp (mối phụ thuộc dọc). Ví dụ: Ủy ban nhân dân Tỉnh Cần Thơ một mặt
chịu sự chỉ đạo của Hội đồng nhân dân Tỉnh Cần Thơ theo chiều ngang, một
mặt chịu sự chỉ đạo của Chính phủ theo chiều dọc.
Cơ quan quản lý hành chính có thẩm quyền chuyên môn ở địa phương (sở,
phòng, ban) phụ thuộc cơ quan quản lý hành chính Nhà nước có thẩm quyền
chung cùng cấp (Uỷ ban nhân dân) – quan hệ ngang, và phụ thuộc vào cơ
quan quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền chuyên môn cấp trên ở cấp
trực tiếp - quan hệ dọc. Ví dụ: Sở Tư pháp Tỉnh Phú Thọ, một mặt phụ thuộc
vào Ủy ban nhân dân Tỉnh Phú Thọ, mặt khác phụ thuộc vào Bộ Tư pháp.
Nguyên tắc song trùng trực thuộc của cơ quan hành chính nhà nước ở địa
phương bảo đảm sự thống nhất giữa lợi ích chung của nhà nước với lợi ích
của địa phương, giữa lợi ích ngành với lợi ích của lãnh thổ.
3. Thực trạng việc vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản
lý hành chính nhà nước ở nước ta hiện nay.
Quản lý hành chính nhà nước là một hình thức hoạt động của Nhà nước
được thực hiện trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, có
nội dung là bảo đảm sự chấp hành luật, pháp lệnh, nghị quyết của các cơ quan
quyền lực nhà nước, nhằm tổ chức và chỉ đạo một cách trực tiếp và thường
xuyên công cuộc xây dựng kinh tế, văn hóa – xã hội và hành chính – chính trị.
Nói cách khác, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động chấp hành – điều
hành của nhà nước.
3.1. Về mặt tích cực.
- Hệ thống thể chế pháp luật từng bước được đổi mới và hoàn thiện, góp
phần xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo
đảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Về cơ bản, các chủ trương, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chuyển
nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hoá, thông qua gần 100 văn bản luật,
pháp lệnh ban hành 5 năm qua đã tạo dựng và hoàn thiện khung pháp lý cho
các thành phần kinh tế, cho người dân làm ăn và sinh sống. Các chính sách về
giá, về thuế, áp dụng chế độ hợp đồng lao động, cải cách chế độ tiền lương
có tác dụng to lớn đối với việc khai thác mọi tiềm năng sản xuất, giải quyết
mọi việc làm cho người lao động và từng bước cải thiện mức sống dân cư.
Cùng với các thể chế kinh tế, việc xây dựng và hoàn thiện thể chế về bảo
đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ hoá đời sống xã hội đã
có bước tiến dài, góp phần quan trọng vào ổn định xã hội, khai thác và phát
huy các nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội.
- Chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà
nước được điều chỉnh từng bước phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong
nền kinh tế thị trường.
Trên cơ sở luật tổ chức Chính phủ được Quốc hội thông qua, Chính Phủ đã
xác định rõ thêm vị trí, chức năng, trách nhiệm và quyền hạn của mình với tư
cách là cơ quan hành pháp, là cơ quan hành chính cao nhất của tổ chức hệ
thống quyền lực Nhà nước. Tổ chức hoạt động điều hành của Chính phủ đã
đổi mới từng bước, tập trung vào việc quản lý vĩ mô trong phạm vi cả nước,
trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội; tập trung thời gian và nguồn
lực vào việc thực hiện chức năng đích thực của mình là xây dựng chiến lược,
quy hoạch, kế hoạch, xây dựng và ban hành cơ chế, chính sách, thanh tra,
kiểm tra việc tổ chức thực hiện.
Đã thực hiện điều chỉnh chức năng quản lý nhà nước giữa các cấp hành
chính cho phù hợp với tình hình thực tiễn, trên nguyên tắc mỗi việc chỉ do
một cơ quan phụ trách, khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo về chức năng,
nhiệm vụ. Chính quyền địa phương được phân cấp nhiều hơn, nhất là trong
các lĩnh vực ngân sách, tài chính, biên chế, đầu tư, đất đai, y tế, giáo dục
v.v… Trên cơ sở điều chỉnh lại phạm vi, đối tượng quản lý của các cơ quan
hành chính nhà nước, phân biệt và tách chức năng quản lý nhà nước của các
bộ, ngành và chính quyền địa phương với quản lý sản xuất kinh doanh và
quản lý hoạt động sự nghiệp dịch vụ công, từng bước xoá bỏ chế độ chủ quản
đối với doanh nghiệp.
- Phương thức hoạt động của Chính phủ, các bộ ngành trung ương và Uỷ
ban nhân dân các cấp có bước đổi mới:
Tinh thần xuyên suốt quá trình đổi mới phương thức hoạt động của các cơ
quan hành chính nhà nước là giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt
động của thị trường và doanh nghiệp. Các cơ quan nhà nước tập trung làm tốt
chức năng định hướng phát triển, tạo lập môi trường pháp lý, cơ chế, chính
sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực, tăng cường quản lý nhà nước bằng
pháp luật.
Những nỗ lực cải cách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, áp dụng phương
thức quản lý theo cơ chế “một cửa” cả ở ba cấp chính quyền địa phương (kết
quả ở cấp tỉnh 100%, cấp huyện 98%, cấp xã 92% tính tới tháng 5/2007), từ
năm 2007 tiếp tục thí điểm tổ chức “một cửa” ở 8 bộ, ngành trung ương,
nhằm tạo ra sự thống nhất trong hệ thống hành chính. Việc triển khai quy chế
công khai tài chính, quy chế dân chủ ở cơ sở và trong cơ quan hành chính nhà
nước v.v… đã có tác dụng tích cực góp phần đổi mới mối quan hệ giữa cơ
quan hành chính nhà nước với dân, quan hệ giữa cơ quan hành chính nhà
nước với nhau trong quá trình tổ chức thực hiện công việc và thực thi công
vụ.
3.2. Về mặt hạn chế.
- Hệ thống thể chế pháp luật chưa hoàn chỉnh, đồng bộ, thiếu nhất quán và
nhất là việc thi hành pháp luật chưa nghiêm.
Sự chưa đồng bộ của hệ thống thể chế một mặt thể hiện ở chỗ một số luật,
pháp lệnh đã ban hành nhưng các nghị định và thông tư hướng dẫn triển khai
chậm, chưa được ban hành. Sự thiếu nhất quán trong hệ thống thể chế biểu
hiện rõ trong việc chậm chuẩn bị và ban hành các văn bản dưới luật, pháp
lệnh để hướng dẫn thi hành. Đáng lo ngại là có sự vi phạm pháp luật kỉ
cương, thậm chí nghiêm trọng ngay trong các cơ quan hành chính nhà nước.
Sự tùy tiện ban hành những quyết định vượt quá thẩm quyền và trái với tinh
thần của pháp luật Nhà nước ở địa phương, các ngành, các cấp là không ít. Từ
đó dẫn đến tình trạng, trong nhân dân, trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội,
tính dân chủ bị hạn chế. Nhiều quyền của công dân được pháp luật khẳng
định nhưng không được tôn trọng.
Thủ tục hành chính tuy đã có những tiến bộ nhất định nhưng nhìn chung
vẫn còn nhiều phức tạp, rườm rà, gây không ít phiền toái cho doanh nghiệp và
người dân, chủ yếu vẫn theo cơ chế “xin – cho”. Cơ chế một cửa tuy được
triển khai rất rộng rãi nhưng nhiều nơi, nhiều chỗ còn mang tình hình thức.
- Phân định trách nhiệm và quyền hạn, quan hệ phân công và phối hợp giữa
các cơ quan hành chính Nhà nước có những trường hợp chưa thật rõ ràng.
Chậm xác định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước vĩ mô
của các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, nhất là ở cấp Chính phủ
và các bộ. Chính phủ làm gì và làm đến đâu trong cơ chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, tương tự như vậy là các bộ và chính quyền các
cấp, đây vẫn là vấn đề còn chưa hoàn toàn được làm sáng tỏ. Hơn nữa, việc
triển khai đẩy mạnh phân cấp trung ương – địa phương vẫn đang còn nhiều
hạn chế, chậm chạp. Hiện Chính phủ, các bộ ngành vẫn đang nắm giữ nhiều
việc cụ thể của chính quyền địa phương, trong khi chính quyền địa phương
các cấp chưa đủ các điều kiện cần thiết để phát huy tính chủ động, sáng tạo
của họ. Việc phân cấp về tài chính – ngân sách và tổ chức – cán bộ công chức
còn nhiều hạn chế, đang là nhân tố trực tiếp, chủ yếu làm hạn chế quyền tự
chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương.
- Tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vẫn cồng kềnh, đồ sộ, nhiều tầng
cấp trung gian với 26 bộ, cơ quan ngang bộ và 13 cơ quan thuộc Chính phủ.
Bộ máy hành chính ở cấp Trung ương còn quá lớn, số lượng tổ chức bên
trong các bộ, ngành còn nhiều và có xu hướng phình ra. Việc thực hiện phân
cấp về ngành và lĩnh vực giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính
quyền địa phương còn chậm, vẫn chưa có sự phân biệt rõ về chức năng,
nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của chính quyền đô thị với chính quyền nông
thôn.
- Đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước tuy có tiến bộ, trưởng thành trong cơ
chế quản lý mới nhưng vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ.
Chế độ công vụ mới chậm hình thành đầy đủ, chất lượng cán bộ, công chức
chưa đáp ứng với yêu cầu đổi mới, phát triển kinh tế – xã hội. Đội ngũ cán bộ,
công chức còn bất cập về kỹ năng quản lý mới, thiếu tính nhạy bén thị trường,
trách nhiệm thực thi công vụ chưa cao. Quy trình làm việc của cán bộ, công
chức nhìn chung còn thủ công, thiếu tính chuyên nghiệp. Dấu ấn của cơ chế
tập trung quan liêu còn khá đậm nét trong điều hành và tổ chức công việc của
các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức ở tất cả các cấp. Họp hành nhiều,
giấy tờ hành chính gia tăng, thẩm quyền và trách nhiệm giải quyết công việc
của từng cán bộ, công chức không rõ; đặc biệt khâu phối hợp giữa các cơ
quan hành chính nhà nước trong quá trình giải quyết công việc còn yếu.
3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng nguyên tắc
tập trung – dân chủ vào hoạt động quản lí hành chính ở nước ta.
Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý hành chính nhà nước theo nguyên
tắc tập trung dân chủ ở nước ta hiện nay cần thực hiện những biện pháp cấp
bách, trước hết là pháp luật ở cấp vĩ mô. Có một số biện pháp như sau:
- Xác lập mô hình tổ chức nền hành chính mới cho phù hợp với yêu cầu xây
dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân, phục vụ phát triển và hội nhập
của đất nước.
- Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ – pháp quyền, có sự tham gia tích
cực của người dân vào quá trình quản lý nền hành chính hiệu lực – hiệu quả
của đất nước.
- Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp và chuyên
môn hóa, thành thạo nghiệp vụ, có thái độ tận tụy và khả năng sáng tạo trong
những nhiệm vụ được giao phó, giữ nghiêm kỉ luật và quy chế công chức
trong khi thi hành công vụ, gương mẫu trong quan hệ và trong ứng xử với
nhân dân theo những chuẩn mực của văn hóa dân chủ.
- Xây dựng nền hành chính thống nhất thông xuốt, trên cơ sở của phân cấp
phân quyền triệt để trong bộ máy quản lý hành chímh nhà nước. Đề cao tính
tự chủ, tự chịu trách nhiệm của tổ chức chính quyền các cấp trong thực hiện
chính sách, pháp luật, thiết lập một trật tự hành chính phù hợp với việc tăng
cường kỷ luật, kỷ cương của nền hành chính.
- Nâng cao dân trí trong xã hội. Kết hợp các hình thức và biện pháp giáo
dục và tuyên truyền, thuyết phục tổ chức quản lý. Kiểm tra và quy định chế
độ trách nhiệm, gắn liền với quyền hạn và nghĩa vụ, dân chủ với kỉ luật và
pháp luật. Giáo dục ý thức, nhận thức và giáo dục hành vi, hình thành nhu cầu
và tập quán lối sống dân chủ, kỉ luật – pháp luật đối với các tầng lớp nhân
dân, trước hết là trong đội ngũ cán bộ, công chức.
4. Ý nghĩa của nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lí hành chính
nhà nước ở Việt Nam hiện nay.
Mặc dù nguyên tắc tập trung – dân chủ là một nguyên tắc quản lý hành
chính nhà nước mang tính chất chỉ đạo hoạt động nhận thức và cải tạo xã hội
nhưng khi vận dụng vào thực tế, nguyên tắc này đã giúp cho công tác quản lý
hành chính nhà nước đạt được những hiệu quả rất tốt trong việc tăng hiêu quả
hoạt động của công tác quản lý hành chính nhà nước.
Trong quản lý hành chính nhà nước, ta không thể tách rời nguyên tắc “tập
trung dân chủ” ra làm hai khái niệm.
Nguyên tắc “tập trung” nhằm đảm bảo thâu tóm quyền lực nhà nước và
chủ thể quản lý để điều hành, chỉ đạo việc thực hiện chính sách, pháp luật một
cách thống nhất. Trong khi đó, nguyên tắc “dân chủ” hướng tới việc mở rộng
quyền cho đối tượng quản lý nhằm phát huy trí tuệ tập thể trong hoạt động
quản lý, phát huy khả năng tiềm tàng của đối tượng quản lý trong quá trình
thực hiện các chính sách, pháp luật. Cấn phải có sự phối hợp một cách đồng
bộ chặt chẽ việc đảm bảo cả hai yếu tố này trong quản lý hành chính nhà
nước. Nếu chỉ có sự lãnh đạo tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo
điều kiện cho các hành vi lạm quyền, tệ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham
nhũng phát triển. Đây là một hiểm họa, một nguy cơ làm tha hóa bộ máy và
cán bộ công chức hành chính nhà nước, làm mất lòng tin quần chúng, gây nên
sự phản ứng, bất bình của cả xã hội. Tổng bí thư Đỗ Mười đã nói: “Đó là một
tội ác đối với dân, với chế độ dân chủ của nhân dân.” Ngược lại, không có sự
lãnh đạo tập trung thống nhất sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, vô chính phủ, cục
bộ địa phương. Trong điều kiện hiện nay sự lãnh đạo tập trung trên cơ sở dân
chủ là yêu cầu khách quan của việc “thực hiện nhất quán chính sách phát
triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” (Điều 15, Hiến pháp
năm 1992)
Việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý hành chính nhà
nước đã giúp cho việc thực hiện quyền lực làm chủ của nhân dân (thông qua
các cơ quan quyền lực nhà nước ở trung ương và địa phương) hoàn thiện hơn,
người dân có thể thực hiện quyền giám sát của mình một cách hữu hiệu, tạo
nên một cơ chế đảm bảo cho quần chúng tích cực tham gia vào công tác quản
lý hành chính nhà nước, điều đó có ý nghĩa to lớn trong việc nhân dân phát
huy vai trò làm chủ của mình. Tuy nhiên, cần lưu ý là việc áp dụng yếu tố dân
chủ nhưng không thể loại trừ trách nhiệm cá nhân, nghĩa là, dân chủ nhưng
phải gắn với trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể, trong công việc nhất định,
ở thời gian xác định.
Không chỉ có vậy, việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý
hành chính nhà nước cũng tạo nên một sự thống nhất về ý chí trong việc quản
lý hành chính nhà nước, tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp giữa các cơ quan,
ngành khối trong toàn xã hội. Tuy nhiên, đây không phải là sự tập trung toàn
diện và tuyệt đối, mà chỉ đối với những vấn đề cơ bản, chính yếu nhất, bản
chất nhất. Sự tập trung đó bảo đảm cho cơ quan cấp dưới, cơ quan địa phương
có cơ sở và khả năng thực hiện quyết định của trung ương; đồng thời, căn cứ
trên điều kiện thực tế của mình, có thể chủ động sáng tạo trong việc giải quyết
các vấn đề của địa phương và cơ sở. Cả hai yếu tố này vì thế phải có sự phối
hợp chặt chẽ, đồng bộ. Chúng có mối quan hệ qua lại, phụ thuộc và thúc đẩy
nhau cùng phát triển trong quản lý hành chính nhà nước. Tạo nên một sức
mạnh tổng thể cho đất nước.
PHẦN KẾT LUẬN
Tập trung – dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động
của Nhà nước và hoạt động quản lý hành chính nhà nước cũng được tổ chức
thực hiện trên cơ sở tuân thủ nội dung của nguyên tắc này. Việc vận dụng hiệu
quả, hợp lí nguyên tắc tập trung – dân chủ trong hoạt động quản lý hành chính
nhà nước sẽ tạo lập được một nền hành chính dân chủ, hiện đại, một nền hành
chính năng động trong một thế giới luôn biến đổi, đáp ứng yêu cầu phát triển
kinh tế – xã hội của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở
cửa hội nhập quốc tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét