Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Nghiệp vụ bảo hiểm vật chất xe cơ giới ở PJICO và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác khiếu nại ở PJICO

Bảng 2:Tỡnh hỡnh tai nạn giao thụng ở Việt Nam: Từ năm 1992-2003:
Năm Số vụ Số người
chết
Số người bị
thương
T/L số người chết
trên 10.000 xe
1992 8.165 2.755 9.04 13,9
1993 11.678 4.35 12.59 15,9
1994 13.118 4.533 13.056 13,6
1995 15.376 5.43 16.92 13,8
1996 19.075 5.581 21.556 12,1
1997 19.159 5.68 21.905 10,8
1998 19.975 6.067 22.723 10,7
1999 20.733 6.67 23.911 10,9
2000 22.486 7.5 25.4 10,7
2001 25.04 10.477 29.188 11,7
2002 27.134 12.8 30.733 11,8
2003 19.852 11.319 20.4 9,4
(Nguồn:” Cục Đường bộ”)
Qua bảng trên ta thấy, tai nạn giao thông Đường bộ ở Việt Nam
liên tục tăng về số vụ, số người bị chết và số người bị thương. Năm 1995, số vụ
tai nạn xảy ra hơn 15.000, năm 1996 số vụ tăng khá cao, lên đến hơn 19.000, từ
năm 1997 đến năm 2000, tai nạn tiếp tục tăng tới hơn 22.000 vụ làm chết bỡnh
quõn 6.500 người, riêng năm 2001 tuy số vụ tăng không cao nhưng số người bị
chết tăng đột biến (10.866 người). Năm 2003, số người chết về tai nạn giao
thông đường bộ đó bước đầu giảm xuống (-9,4%), số người bị thương giảm
xuống (-35,2%). Số lượng xe máy tham gia giao thông tăng cao làm tai nạn giao
thông đường bộ tăng đột biến. Thể hiện: Số vụ tai nạn do xe máy gây ra chiếm
tỷ lệ cao trong tai nạn giao thông đường bộ:
+ Năm 1993: xe máy tăng 42,42% (tăng 722.938 xe, trước đó mỗi năm
chỉ tăng dưới 200.000 xe), số người chết vỡ TNGT tăng 29,9%.
+ Năm 2000: xe máy tăng 11,6% và số người bị chết bắt đầu tăng cao:
12,44%
+ Năm 2001: xe máy tăng 29,61% (1.880.088 xe), số người bị chết vỡ tai
nạn giao thụng đường bộ tăng đột biến: 39.69%.
5
Tai nạn giao thông xảy ra là do nhiều nguyên nhân khác nhau, có cả
những nguyên nhân chủ quan và những nguyên nhân khách quan. Nhưng dù cho
nguyên nhân nào thì một điều chắc chắn là khi tai nạn xảy ra thì cả người bị nạn,
người chủ xe, người thân của họ hay doanh nghiệp đều phải chịu những tổn thất
nhất định. Những tổn thất đó đôi khi rất nhỏ nhưng có những lúc nó để lại hậu
quả rất nặng nề, có thể là khiến cho một gia đình bị lâm vào tình trạng khó khăn
hay thậm chí khiến cho một doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản. Vì thế
tham gia bảo hiểm xe cơ giới là hết sức cần thiết. Để khi tai nạn xảy ra gây thiệt
hại lớn về tài chính, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bồi thường cho những thiệt hại
đó, đảm bảo cho cuộc sống gia đình hay hoạt động sản xuất kinh doanh của chủ
xe.
2.Tác dụng của bảo hiểm xe cơ giới.
Bảo hiểm xe cơ giới đã đem lại những tác dụng to lớn cho mỗi cá nhân,
mỗi tổ chức kinh tế-xã hội.
2.1.Đối với cá nhân và doanh nghiệp.
Chủ phương tiện giao thông vận tải khi tham gia bảo hiểm sẽ nộp cho nhà
bảo hiểm một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm, các khoản phí này sẽ hình thành
quỹ tiền tệ tập trung. Các công ty bảo hiểm sử dụng quỹ này để chi trả cho hoạt
động quản lý kinh doanh và phần lớn là chi bồi thường cho người được bảo
hiểm khi có các tổn thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm. Như vậy, khi có các tổn
thất xảy ra thuộc phạm vi bảo hiểm chủ phương tiện giao thông vận tải sẽ được
bồi thường. Do vậy bảo hiểm xe cơ giới ra đời góp phần ổn định tái chính, khắc
phục những hậu quả khó khăn về vật chất cũng như tinh thần cho người bị nạn,
giúp họ nhanh chóng khôi phục sau rủi ro tai nạn.
2.2.Đối với xã hội.
Bảo hiểm xe cơ giới giúp cho người tham gia nhanh chóng khắc phục
nhưng khó khăn về tài chính, giải quyết nhưng tranh chấp phát sinh giữa người
bị thiệt hại và người có trách nhiệm tring thiệt hại đó Qua đó góp phần đảm
6
bảo trật tự an toàn xã hội. Ngoài ra, các công ty bảo hiểm còn tham gia vào các
hoạt động xã hội giúp nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành luật giao thông,
xây dựng những công trình đảm bảo an toàn giao thông, xây dựng, mua sắm
trang thiết bị an toàn như rải nhựa, làm lan can hai bên đường, xây dựng đường
tránh nạn trên các đèo dốc, tăng thêm các biển báo nguy hiểm … các biện pháp
này cả chủ xe và nhà bảo hiểm đều có lợi.
2.3.Đối với Nhà nước.
Thông qua thuế, các công ty bảo hiểm còn góp phần tăng doanh thu cho
ngân sách Nhà nước. Ngoài ra bảo hiểm là kênh huy động vốn quan trọng đối
với nền kinh tế và góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, góp phần
giảm gánh nặng về việc làm.
II - NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA NGHIỆP VỤ BẢO
HIỂM VẬT CHẤT XE CƠ GIỚI.
1. Đối tượng và phạm vi bảo hiểm.
1.1. Đối tượng bảo hiểm.
Xe cơ giới được hiểu là tất cả các loại xe tham gia giao thông trên đường
bộ và chỉ có thể chuyển động bằng động cơ của chính mình. Các loại xe cơ giới
bao gồm ôtô, môtô và xe máy. Bảo hiểm vật chất xe cơ giới là loại hình bảo
hiểm tài sản và được thực hiện dưới hình thức bảo hiểm tự nguyện. Qua đó, chủ
xe tham gia bảo hiểm vật chất xe sẽ được bồi thường cho những thiệt hại vật
chất xảy ra với xe của mình do những rủi ro được bảo hiểm gây nên. Nhưng xe
cơ giới chỉ được bảo hiểm khi có đủ những điều kiện cơ bản như: xe phải có giá
trị sử dụng; xe phải xác định được về mặt giá trị hay lượng hoá được bằng tiền;
xe phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về mặt kỹ thuật và an toàn giao thông theo
quy định của pháp luật; xe phải là một chỉnh thể hoàn chỉnh. Như vậy, đối tượng
bảo hiểm vật chất xe cơ giới là bản thân những chiếc xe còn giá trị và được phép
lưu hành trên lãnh thổ quốc gia.
7
Trên thực tế, chủ xe có thể tham gia bảo hiểm cho toàn bộ xe, thường là
với môtô, xe máy hoặc chỉ tham gia bảo hiểm cho một số bộ phận của xe,
thường là với xe ôtô. Bộ phận xe hay tổng thành xe, đối với ôtô có các tổng
thành như: thân vỏ, động cơ, hộp số, hệ thống lái,…
1.2. Phạm vi bảo hiểm.
Phạm vi bảo hiểm là phạm vi giới hạn những rủi ro mà theo thoả thuận
nếu những rủi ro đó xảy ra thì nhà bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm bồi thường cho
chủ phương tiện. Cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm vật chất xe
cơ giới cũng chỉ nhận bảo hiểm cho những rủi ro ngẫu nhiên, bất ngờ gây thiệt
hại phần vật chất thân xe. Thông thường, những rủi ro được bảo hiểm bao gồm:
+ Tai nạn do đâm va, lật đổ;
+ Cháy, nổ, bão lụt, sét đánh, động đất, mưa đá;
+ Mất cắp toàn bộ xe;
+ Tai nạn do rủi ro bất ngờ khác gây nên.
Tuy nhiên, bảo hiểm sẽ không chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
những trường hợp sau:
+ Hao mòn tự nhiên, mất giá, giảm dần chất lượng, hỏng hóc do khuyết
tật hoặc hư hỏng thêm do sửa chữa;
+ Hư hỏng về điện hoặc bộ phận máy móc, thiết bị, săm lốp mà không do
tai nạn gây ra;
+ Mất cắp bộ phận xe;
+ Chủ xe, lái xe cố ý gây thiệt hại;
+ Chủ xe lái xe vi phạm các quy định về trật tự an toàn giao thông(xe
không có giấy phép, lái xe không có bằng lái,…);
+ Xe không đủ điều kiện kĩ thuật và thiết bị an toàn để lưu hành theo quy
định của luật an toàn giao thông đường bộ;
+ Những thiệt hại gián tiếp như: giảm giá trị thương mại, làm đình trệ sản
xuất kinh doanh;
8
+ Thiệt hại do chiến tranh.
Ngoài ra, cũng như các nghiệp vụ bảo hiểm khác, bảo hiểm còn chịu trách
nhiệm đối với những chi phí cần thiết và hợp lý nhằm đề phòng và hạn chế tổn
thất xảy ra thêm, các chi phí phát sinh khi đưa xe về nơi sửa chữa, chi phí giám
định nếu thuộc trách nhiệm của bảo hiểm đã được quy định trước trong hợp
đồng.
Trong thời hạn bảo hiểm, nếu chủ xe chuyển quyền sở hữu xe cho chủ xe
mới thì quyền lợi bảo hiểm vẫn còn hiệu lực với chủ xe mới, nếu chủ xe cũ
không chuyển quyền lợi bảo hiểm cho chũ xe mới thì công ty bảo hiểm sẽ hoàn
lại phí cho họ.
2. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm.
Giá trị bảo hiểm của xe cơ giới là giá trị thực tế trên thị trường của xe tại
thời điểm chủ xe tham gia bảo hiểm cho xe. Việc xác định đúng giá trị của xe
tham gia bảo hiểm là rất quan trọng vì đây là cơ sở để bồi thường. Giá trị xe
thường được xác định dựa vào nhữn yếu tố như: loại xe, năm sản xuất, mức độ
sử dụng xe, …
Tuy nhiên, trên thực tế, để đơn giản trong việc xác định giá trị bảo hiểm
của xe, các công ty bảo hiểm thường tính trên cơ sở giá mua mới (nguyên giá)
và khấu hao cho thời gian xe đã sử dụng.
Giá trị bảo hiểm = Giá trị ban đầu(nguyên giá) - Khấu hao
Khi tính khấu hao phải theo những nguyên tắc sau:
+ Chỉ sử dụng nguyên tắc khấu hao đều;
+ Khấu hao tính so với nguyên giá;
+ Khấu hao tính theo tháng, nếu tham gia bảo hiểm từ ngày 15 trở về đầu
tháng, tháng đó không tính khấu hao, còn từ ngày 16 đến cuối tháng thì tháng đó
phải tính khấu hao.
Giá trị bảo hiểm là cơ sở để người tham gia bảo hiểm xác định số tiền bảo
hiểm. Vì đây là loại hình bảo hiểm tài sản nên về nguyên tắc, chủ xe có thể tham
9
gia với số tiền bảo hiểm lớn nhất bằng giá trị bảo hiểm. Tuy nhiên, chủ xe cơ
giới có thể tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm theo điềm
khoản giá trị thay thế mới nếu được công ty bảo hiểm chấp nhận. Nhưng các chủ
xe thường tham gia bảo hiểm dưới giá trị dưới hình thức bảo hiểm cho một số
tổng thành của xe mà không bảo hiểm cho toàn bộ xe.
3. Phí bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là nhân tố đầu tiên quyết định sự lựa chọn của khách hàng.
Vì vậy việc xác định chính xác phí bảo hiểm sẽ bảo đảm cho hoạt động của
Công ty đồng thời làm tăng tính cạnh tranh cho Công ty trên thị trường bảo
hiểm. Khi xác định phí bảo hiểm cho từng đối tượng tham gia bảo hiểm cụ thể,
các công ty bảo hiểm thường căn cứ vào những nhân tố sau:
- Loại xe: Do mỗi loại xe có những đặc điểm kỹ thuật khác nhau, xác suất
rủi ro cũng khác nhau nên phí bảo hiểm vật chất cũng sẽ được tính riêng cho
từng loại xe. Thông thường, các công ty bảo hiểm đưa ra các biểu xác định phí
bảo hiểm phù hợp cho hầu hết các loại xe thông dụng thông qua việc phân các
loại xe thành nhóm. Việc phân loại này dựa trên cơ sở tốc độ tối đa của xe, tỷ lệ
gia tốc, chi phí và mức độ khó khăn khi sửa chữa và sự khan hiếm của phụ tùng
khi thay thế.Đối với những loại xe hoạt động không thông dụng như xe kéo rơ
moóc, xe chở hàng nặng, do có mức độ rủi ro cao nên phí bảo hiểm thường được
công thêm một tỷ lệ nhất định dựa trên mức phí cơ bản.
Phí bảo hiểm phải đóng cho mỗi đầu xe, mỗi loại xe được tính theo công
thức sau:
P = f + d
Trong đó P: Phí bảo hiểm mồi đầu xe
f: Phí thuần
d: Phụ phí
10
Căn cứ vào tình hình tổn thất năm trước. Căn cứ vào số liệu thống kê
công ty bảo hiểm sẽ thực hiện tính toán phí thuần f cho mỗi đầu xe như sau:



=
=
=
n
i
n
i
Ci
TiSi
f
1
1
*
Trong đó : Si : Số vụ tai nạn xảy ra năm thứ i
Ti : Thiệt hại bình quân một vụ tai nạn năm i
Ci : Số xe hoạt động năm i
Phụ phí d bao gồm chi phí quản lý, phí đề phòng hạn chế tổn thất. Phần
phí này thường được tính bằng một tỷ lệ phần trăm nhất định so với phí bồi
thường.
Ngoài ra, khi tính phí bảo hiểm các công ty bảo hiểm còn dựa vào những
nhân tố sau :
- Khu vực giữ và để xe: Thông thường thì các công ty bảo hiểm ít quan
tâm đến nhân tố này nhưng cũng có một số công ty bảo hiểm lại rất coi trọng
nhân tố này. Đây là nhân tố liên quan đến những rủi rjo như cháy nổ, mất cắp,
- Mục đích sử dụng xe: Đây là nhân tố rất quan trọng khi xác định phí
bảo hiểm vì nó giúp công ty bảo hiểm biết được mức độ rủi ro có thể xảy ra. Rõ
ràng là những xe chỉ phục vu cho mục đích đi lại thì có xác suất rủi ro thấp hơn
so với những xe dùng vào mục đích kinh doanh vì xe dùng vào mục đích kinh
doanh thương phải đi nhiều và trên một diện rộng hơn xe dùng cho mục đích đi
lại thông thường.
- Tuổi tác kinh nghiệm lái xe của người yêu cầu bảo hiểm và những người
thường xuyên sử dụng chiếc xe được bảo hiểm. Theo số liệu thống kê cho thấy
các lái xe trẻ tuổi bị tai nạn nhiều hơn so với các lái xe lớn tuổi. Do vậy, thường
các công ty bảo hiểm thường áp dụng giảm phí cho các lái xe trên 50 hoặc 55
tuổi. Tuy nhiên, Với những lái xe quá lớn tuổi thường phải có giấy chứng nhận
sức khoẻ phù hợp để có thể lái xe thì công ty bảo hiểm mới nhận bảo hiểm.
11
- Giảm phí bảo hiểm: Để khuyến khích các chủ xe có số lượng lớn tham
gia bảo hiểm tại công ty mình, các công ty bảo hiểm thường áp dụng mức giảm
phí so với mức phí chung theo số lượng xe tham gia bảo hiểm. Ngoài ra, hầu hết
các công ty bảo hiểm còn áp dụng cơ chế giảm giá cho những người tham gia
bảo hiểm không có khiếu nại và gia tăng tỉ lệ giảm giá này cho một số năm
không có khiếu nại gia tăng. Có thể nói đây là biện pháp phổ biến trong bảo
hiểm xe cơ giới.
Đối với những xe hoạt động mang tính chất mùa vụ, tức là xe chỉ hoạt
động một số ngày trong năm, thì chủ xe chỉ đóng phí cho những ngày hoạt động
theo công thức sau:
Phí bảo hiểm = Mức phí cả năm
*
Số tháng xe hoạt động trong năm
12 tháng
- Biểu phí đặc biệt: Khi khách hàng có số lượng xe tham gia bảo hiểm
nhiều, các công ty bảo hiểm có thể áp dụng biểu phí riêng cho khách hàng đó.
Việc tính toán biểu phí riêng cũng tương tự như cách tính phí được đề cập ở
trên, chỉ khác là chỉ dựa trên các số liệu thống kê về bản thân khách hàng đó, cụ
thể:
+ Số lượng xe của công ty tham gia bảo hiểm;
+ Tình hình bồi thường tổn thất của công ty bảo hiểm cho khách
hàng ở những năm trước đó;
+ Tỷ lệ phí theo quy định của công ty.
Trong trường hợp mức phí đặc biệt thấp hơn mức phí quy định chung,
công ty bảo hiểm sẽ áp dụng theo mức phí đặc biệt, còn nếu cao hơn (hoặc bằng)
thì công ty bảo hiểm sẽ áp dụng méc phí chung.
- Hoàn phí bảo hiểm: Có những trường hợp chủ xe đã đóng phí bảo hiểm
cả năm, nhưng trong năm xe không hoạt động một thời gian vì một lý do nào đó
thì thông thường trong trường hợp này công ty bảo hiểm sẽ hoàn lại phí bảo
12
hiểm của những tháng ngừng hoạt động đó cho chủ xe. Số phí hoàn lại được tính
theo công thức sau:
Phí Phí Số tháng không hoạt động Tỷ lệ
hoàn = cả * * hoàn lại phí
lại năm 12 tháng
Mỗi công ty bảo hiểm có tỷ lệ hoàn phí khác nhau nhưng thông thường tỷ lệ này
là 80%.
Trong trường hợp chủ xe muốn huỷ bỏ hợp đồng vảo hiểm khi chưa hết
thời hạn hợp đồng thì thông thường công ty bảo hiểm cũng hoàn lại phí bảo
hiểm cho thời gian còn lại đó theo công thức trên, nhưng với điều kiện là chủ xe
chưa có lần nào được công ty bảo hiểm trả tiền bảo hiểm.
4.Giám định và bồi thường.
4.1.Tai nạn và giám định.
Theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, khi có các sự kiện bảo hiểm
xảy ra, công ty bảo hiểm phải có trách nhiệm và nghĩa vụ bồi thường hoặc chi
trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi bao hiểm. Nhưng trước khi yều
cầu công ty bảo hiểm bồi thường hay chi trả tiền bảo hiểm thì khi tai nạn xảy ra,
chủ xe hoặc láI xe phải có trách nhiệm tìm mọi cách cứu chữa, hạn chế tổn thất,
mặt khác phải nhanh chóng báo cho công ty bảo hiểm biết. Chủ xe không được
di chuyển, tháo dỡ hay sửa chữa xekhi chưa chó ý kiến của công ty bảo hiểm,
trừ trường hợp phải thi hành chỉ thị của cơ quan có thẩm quyền. Điều này cũng
được thoả thuận giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm trong hợp
đồng bảo hiểm.
Ngay khi có thông báo tai nạn, công ty bảo hiểm sẽ tiến hành giám định
tổn thất với sự có mặt của chủ xe, lái xe hay người đại diện hợp pháp nhằm xác
định nguyên nhân và mức độ thiệt hại. Trong trường hợp hai bên không đạt
được sự thống nhất thì giám định viên chuyên môn sẽ được chỉ định làm trung
gian.
13
4.2.Hồ sơ bồi thường.
Khi yêu cầu công ty bảo hiểm bồi thường thiệt hại vật chất xe, chủ xe phải
cung cấp những tài liệu, chứng từ theo yêu cầu của công ty bảo hiểm, thông
thường gồm có các giấy tờ sau:
- Tờ khai tai nạn của chủ xe;
- Bản sao của giấy chứng nhận bảo hiểm, giấy chứng nhận đăng ký xe,
giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môI trường phương tiện
xe cơ giới đường bộ, giấy phép lái xe;
- Kết luận kiểm tra của công an hoặc bản sao bộ hồ sơ tai nạn gồm: biên
bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm liên quan đến tai nạn,
biên bản giải quyết tai nạn;
- Các biên bản xác định trách nhiệm của người thứ ba;
- Các chứng từ xác định thiệt hại do tai nạn như chi phí sủa chữa xe, chi
phí thuê cẩu kéo, …
4.3.Nguyên tắc bồi thường tổn thất.
Bồi thương tổn thất cũng phải tuân theo một số quy tắc sau:
Thứ nhất: Trong trường hợp xe tham gia bảo hiểm bằng hoặc dưới giá trị thực
tế, số tiền bồi thường được tính như sau:

Số tiền = Thiệt hại * Số tiền bảo hiểm
bồi thường thực tế Giá trị thực tế của xe
Thứ hai: Xe tham gia bảo hiểm trên giá trị thực tế.
Theo nguyên tắc chung của bảo hiểm, công ty bảo hiểm chỉ chấp nhận số
tiền bảo hiểm nhỏ hơn hoặc bằng giá trị bảo hiểm. Nhưng nếu người tham gia
bảo hiểm cố tình hoặc vô tình tham gia với số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét