Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

nâng cao công tác quản lí chất lượng và dịch vụ vận chuyển hành khách của công ty cổ phần hoàng hà tại thành phố thái bình

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
 Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt
1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe buýt theo tuyến cố định có các
điểm dừng, đón trả khách và xe chạy theo biểu đồ vận hành trong phạm vi nội
thành, nội thị, phạm vi tỉnh hoặc trong phạm vi giữa 2 tỉnh liền kề; trường hợp
điểm đầu hoặc điểm cuối của tuyến xe buýt liền kề thuộc đô thị đặc biệt thì không
vượt quá 3 tỉnh, thành phố. Cự ly tuyến xe buýt không quá 60 km.
a) Biểu đồ vận hành: tần suất tối đa là 30 phút/lượt đối với các tuyến trong
nội thành, nội thị; 45 phút/lượt đối với các tuyến khác;
b) Khoảng cách tối đa giữa 2 điểm dừng đón, trả khách liền kề trong nội
thành, nội thị là 700 m, ngoài nội thành, nội thị là 3.000 m;
2. Nội dung quản lý vận tải hành khách bằng xe buýt
a) Theo dõi, tổng hợp lưu lượng và nhu cầu đi lại của hành khách trên tuyến,
tình hình hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã trên tuyến;
b) Xây dựng quy hoạch mạng lưới tuyến;
a) Công bố tuyến: số hiệu tuyến, điểm đầu, điểm cuối, điểm dừng đỗ, lộ trình
tuyến, tần suất chạy xe;
b) Điều chỉnh lộ trình, ngừng hoạt động tuyến;
c) Quyết định các tuyến xe buýt theo hình thức đặt hàng, đấu thầu hoặc chỉ
định thầu;
d) Xây dựng và quản lý kết cấu hạ tầng (kể cả đáp ứng nhu cầu giao thông
tiếp cận) phục vụ xe buýt;
e) Ban hành các chính sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển
vận tải hành khách bằng xe buýt trên địa bàn;
g) Quyết định và quản lý giá cước.
3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quy hoạch mạng lưới tuyến, xây dựng
và quản lý kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xe buýt, công bố tuyến, giá vé, các
chính sách ưu đãi của nhà nước về khuyến khích phát triển vận tải hành khách
bằng xe buýt trên địa bàn.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
 Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi
1. Kinh doanh vận tải hành khách bằng xe taxi có hành trình và lịch trình theo
yêu cầu của hành khách; cước tính theo đồng hồ tính tiền căn cứ vào kilômét ;
2. Có hộp đèn với chữ "TAXI" gắn trên nóc xe; hộp đèn phải được bật sáng
khi xe không có khách và tắt khi trên xe có khách.
3. Lái xe phải đủ 21 tuổi trở lên.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức và quản lý điểm đỗ xe taxi công cộng.
 Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng
1. Kinh doanh vận tải hành khách theo hợp đồng là kinh doanh vận tải hành
khách có lộ trình và thời gian theo yêu cầu của hành khách, có hợp đồng vận tải
bằng văn bản.
2. Xe hoạt động phải có hợp đồng vận tải ghi rõ số lượng hành khách; trường
hợp xe vận chuyển hành khách với cự ly từ 100 ki lô mét trở lên phải kèm theo
danh sách hành khách; không được đón thêm khách ngoài số lượng, danh sách theo
hợp đồng; không được bán vé cho hành khách đi xe.
 Kinh doanh vận tải khách du lịch bằng xe ô tô
1. Kinh doanh vận tải khách du lịch là kinh doanh vận chuyển khách theo
tuyến, chương trình và địa điểm du lịch.
2. Khi vận chuyển hành khách, lái xe phải mang theo chương trình du lịch và
danh sách hành khách, không được đón thêm khách ngoài danh sách, không được
bán vé cho hành khách đi xe.
 Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe ô tô
1. Xe vận chuyển hàng hóa thông thường (trừ taxi chở hàng) khi chở hàng
hóa trên đường, lái xe phải mang theo hợp đồng vận tải hoặc giấy vận chuyển.
2. Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải.
a) Kinh doanh vận tải hàng hóa bằng xe taxi tải là việc sử dụng xe ô tô có
trọng tải dưới 1.500 kg để vận chuyển hàng hóa, cước tính theo kilômét xe lăn
bánh.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
b) Mặt ngoài hai bên thành xe hoặc cánh cửa xe sơn chữ “TAXI TẢI”, số điện
thoại liên lạc, tên đơn vị kinh doanh.
3. Kinh doanh vận tải hàng hóa siêu trường, siêu trọng.
a) Kinh doanh vận tải hàng siêu trường, siêu trọng là việc sử dụng xe ô tô phù
hợp để kinh doanh vận chuyển các loại hàng siêu trường, siêu trọng;
b) Khi vận chuyển, lái xe phải mang theo giấy phép sử dụng đường bộ;
c) Đơn vị kinh doanh chịu trách nhiệm gia cố cầu đường bộ theo yêu cầu của
cơ quan quản lý đường bộ.
4. Vận chuyển hàng nguy hiểm tuân theo Nghị định của Chính phủ quy định
danh mục hàng nguy hiểm, vận chuyển hàng nguy hiểm và thẩm quyền cấp phép
vận chuyển hàng nguy hiểm.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
1.2. Quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
1.2.1. Vai trò của quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển hành khách
Giao thông vận tải có vai trò rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế xã
hội. Giao thông vận tải có phát triển, có thông suốt thì sẽ tạo điều kiện cho việc đi
lại vận chuyển của hàng hoá và con người được nhanh chóng dễ dàng thuận tiện.
Đảng và Nhà nước đã thấy được tầm quan trọng của giao thông vận tải nên trong
những năm qua, rất nhiều những công trình giao thông quan trọng, lớn, nhỏ, đường
bộ cũng như đường sắt, đường biển cũng như đường sông, và đường hàng không
đã được xây dựng để phục vụ công cuộc phát triển kinh tế xã hội. Từ các kết quả
đạt được trong năm qua Bộ Giao thông vận tải đã chỉ ra những việc chính cần phải
làm trong giai đoạn tới từ 2010 - 2020 đó là: Đến năm 2020, hệ thống giao thông
vận tải nước ta cơ bản đáp ứng nhu cầu vận tải đa dạng cua xã hội với mức tăng
trưởng nhanh, đảm bảo chất lượng ngày càng cao, giá thành hợp lý; kiềm chế tiến
tới giảm sự gia tăng tai nạn giao thông và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Về tổng thể, hình thành được một hệ thống giao thông vận tải hợp lý giữa
các phương thức vận tải và các hàng lang vận tải chủ yếu đối với các mặt hàng
chính có khối lượng lớn. Có thể khái quát như sau:
 Hoàn thành việc cải tạo, nâng cấp một số tuyến trọng điểm ở các vùng kinh tế
tập trung như vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, các
tuyến đường hành lang Đông – Tây trong khuân khổ Dự án phát triển và hợp
tác kinh tế vùng MêKông mở rộng (Việt Nam – Thái Lan – Lào – Campuchia
và tỉnh Vân Nam Trung Quốc), các tuyến thuộc địa bàn phát triển chiến lược
kinh tế.
 Mở rộng hệ thống giao thông đô thị, xây dựng các tuyến vành đai và các trục
hướng tâm tại các thành phố lớn, tổ chức tốt giao thông công cộng trong các
thành phố lớn nhằm đáp ứng trên 50% nhu cầu đi lại của nhân dân tại các thành
phố đó.
 Thực hiện các biện pháp đồng bộ để giải quyết giao thông thông suốt, tăng
cường đảm bảo an toàn giao thông trên các quốc lộ có lưu lượng xe cao và tại
các đô thị lớn, đặc biệt là ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
 Ưu tiên đầu tư cho giao thông nông thôn, tập trung đầu tư phát triển giao thông
ở các vùng sâu, xa để thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội.
 Ưu tiên phát triển vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là các phương thức
vận tải hành khách công cộng nhan, khối lượng lớn. Kiểm soát sự phát triển của
xe máy, xe ôtô con cá nhân đặc biệt Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
1.2.2. Nội dung của quản lý chất lượng phục vụ vận chuyển hành khách
Hoạt động quản lý chất lượng trong doanh nghiệp về nguyên lý khác với
hoạt động quản lý của nhà nước đối với chất lượng. Điều này là do tính chất tổ
chức của cơ quan nhà nước và của doanh nghiệp rất khác nhau vì những mục tiêu
khác nhau.
Hoạt động quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp hay nói rộng hơn là
của các tổ chức không phải là nhà nước cũng hết sức đa dạng do tính chất hoạt
động của các tổ chức này.
Bộ Tiêu chuẩn Quốc tế ISO 9000 được thông qua lần đầu tiên vào năm 1987
(ISO 9000:1987), đến năm 2000 bộ tiêu chuẩn này đã được sửa đổi bổ xung lần
thứ ba với ký hiệu ISO 9000:2000. Đây là sự thay đổi về chất đối với bộ tiêu chuẩn
này, đó chính là sự thay đổi khái niệm “đảm bảo chất lượng” bằng “quản lý chất
lượng”. Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ dành cho các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn cho tất cả các tổ chức khác như tổ
chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện, viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành
chính nhà nước, các tổ chức chính trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ
chức nào muốn nâng cao hiệu quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu
cầu ngày càng tăng của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản
phẩm ở đây theo đó cũng hết sức rộng: Kết quả của một quá trình hoạt động của
con người. Đây cũng là hệ quả tất yếu quá trình quản lý chất lượng của thế giới
trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương mại đang
ngày càng sâu rộng. Các phương thức và công cụ quản lý chất lượng cơ bản bao
gồm:
 Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm
không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm
đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
 Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo
ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát
các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm (như dây
truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…), công cụ sản
xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản
xuất).
 Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục tiêu
kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình xảy ra
trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường, nghiên cứu,
lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận chuyển, phân
phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng.
 Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với mục tiêu
của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở mức tốt
nhất có thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động
quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự
tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng
đã đặt ra.
Sự liệt kê các phương pháp quản lý chất lượng nêu trên cũng phản ảnh sự
phát triển của hoạt động quản lý chất lượng trên phạm vi thế giới diễn ra trong
hàng thế kỷ qua, thông qua sự thay đổi tư duy của các nhà quản lý chất lượng trong
tiến trình phát triển kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ của thế giới.
Ngoài các bộ tiêu chuẩn của ISO về hệ thống quản lý chất lượng (ISO
9001), nhiều các hệ thống khác cũng đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem
xét áp dụng, như ISO 14001 – hệ thống quản lý môi trường, HACCP – Hệ thống
Phân tích các nguy cơ và Kiểm soát các điểm trọng yếu trong lĩnh vực nông sản
thực phẩm, GMP – Quy chế thực hành sản xuất tốt trong lĩnh vực dược và thực
phẩm, OHSAS 18001 – Hệ thống quản lý an toàn và sức khỏe nghề nghiệp, SA
8000 Hệ thống trách nhiệm xã hội và các hệ thống quản lý chất lượng tích hợp
hoặc đặc thù như ISO 22000 Hệ thống quản lý an toàn thực phẩm (food chain),
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
ISO/TS 29001 Công nghiệp dầu khí và hóa dầu – Hệ thống quản lý chất lượng
trong các ngành công nghiệp đặc thù- yêu cầu đối với các tổ chức cung cấp sản
phẩm và dịch vụ.
Ngoài các doanh nghiệp, việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức sự nghiệp và các cơ quan hành chính
nhà nước cũng được quan tâm. Mới đây ngày 20 tháng 6 năm 2006, Thủ tướng
Chính phủ ban hành Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg về việc áp dụng Hệ thống
quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các
cơ quan hành chính nhà nước với mục đích từng bước nâng cao chất lượng và hiệu
quả của công tác quản lý dịch vụ công. Việc ban hành và thực hiện Quyết định này
của Thủ Tướng như là một biện pháp của Chính phủ trong nỗ lực cải cách hành
chính nhằm đạt được những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2006-2010
dựa trên những kinh nghiệm của quốc tế trong lĩnh vực quản lý chất lượng. Điều
này cho thấy hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có những bước hội nhập
quốc tế mạnh mẽ và có chiều sâu.
Hoạt động quản lý chất lượng ở Việt Nam đã có bề dày hơn nửa thế kỷ.
Trong thời gian đó, hoạt động này đã có những đóng góp nhất định cho phát triển
kinh tế xã hội. Hoạt động quản lý chất lượng với mức độ hội nhập quốc tế tương
đối cao sẽ càng có vai trò và vị trí to lớn hơn trong việc góp phần đạt được mục
tiêu phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đề ra.
Trong môi trường phát triển kinh tế hội nhập ngày nay, cạnh tranh trở thành
một yếu tố mang tính quốc tế đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của mỗi doanh nghiệp. Theo M.E. Porre (Mỹ) thì khả năng cạnh tranh của mỗi
doanh nghiệp được thể hiện thông qua hai chiến lược cơ bản là phân biệt hóa sản
phẩm (chất lượng sản phẩm) và chi phí thấp. Chất lượng sản phẩm trở thành một
trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Chấp nhận kinh tế thị trường nghĩa là chấp nhận cạnh tranh, chịu tác động
của quy luật cạnh tranh. Sản phẩm, dịch vụ muốn có tính cạnh tranh cao thì chúng
phải đạt được những mục tiêu thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng, của xã hội về
mọi mặt một cách kinh tế nhất (sản phẩm có chất lượng cao, giá rẻ). Với chính
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
sách mở cửa, tự do thương mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn tồn tại thì sản
phẩm, dịch vụ của họ phải có tính cạnh tranh cao, nghĩa là doanh nghiệp phải có
khả năng cạnh tranh về nhiều mặt.
Quan tâm đến chất lượng, quản lý chất lượng chính là một trong những
phương thức tiếp cận và tìm cách đạt được những thắng lơi trong sự cạnh tranh gay
gắt trên thương trường nhằm duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Chất lượng dịch vụ làm tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp vì:
 Tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua: Mỗi sản phẩm dịch vụ có rất nhiều các
thuộc tính chất lượng khác nhau. Các thuộc tính này được coi là một trong
những yếu tố cơ bản tạo nên lợi thế cạnh tranh của mối doanh nghiêp. Khách
hàng quyết định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm dịch vụ có thuộc tính
phù hợp với sở thích, nhu cầu và khả năng, điều kiện sử dụng của mình. Họ so
sánh các sản phẩm cùng loại và lựa chọn loại hàng n ào có những thuộc tính
kinh tế - kỹ thuật thỏa mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn. Bởi vậy sản
phẩm dịch vụ có các thuộc tính chất lượng cao là một trong những căn cứ quan
trọng cho quyết định mua hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp.
 Nâng cao vị thế, sự phát triển lâu dài cho doanh nghiêp trên thị trường: Khi sản
phẩm dịch vụ đạt chất lượng cao và ổn định đáp ứng được nhu cầu của khách
hàng sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo ra niềm tin cho khách hàng vào thương
hiệu của sản phẩm dịch vụ. Nhờ đó uy tín và danh itếng của doanh nghiệp được
nâng cao, có tác động to lớn đến quyết định lựa chọn mua hàng của khách hàng.
1.3. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng dịch vụ vận chuyển
hành khách
1.3.1. Yếu tố bên trong
 Vị trí của doanh nghiệp trên thị trường
Biểu thị cụ thể của yếu tố này là thị phần mà doanh nghiệp chiếm lĩnh trên
thị trường, uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng, thậm chí cả uy tín của
doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh. Tất cả các yếu tố đó sẽ cho biết doanh
nghiệp đang ở vị trí nào trên thị trường. Đây là một tài sản vô hình quan trọng, đặc
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
biệt trong thời điểm cạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay. Nhân tố này được
tích luỹ trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, mang tính lâu
dài. Vì vậy, nó tạo ra lợi thế to lớn cho doanh nghiệp, giúp cho doanh nghiệp có
nhiều ưu thế hơn so với đối thủ, doanh nghiệp ngày càng có khả năng mở roọng
được thị phần, nâng cao được doanh số tiêu thụ, góp phần tăng lợi nhuận cho
doanh nghiệp.
 Xây dựng chính sách giá cả hợp lý
Giá cả hiện nay vẫn là một công cụ cạnh tranh khá hữu hiệu trong nền kinh
tế nước ta hiện nay, nhất là đối vớ ngành vận tải. Chính sách giá cả ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Vai trò cạnh tranh của giá cả được
thể hiện qua chính sách định giá của Công ty. Chính sách giá đối với từng loại hình
biến động cung cầu của Công ty cần phải linh hoạt tránh tình trạng cứng nhắc.
Tình hình biến động cung cầu trên thị trường cũng ảnh hưởng rất lớn đối với việc
đặt giá cho loại hình dịch vụ của mình.
Với mục tiêu mở rộng thị trường, giành được ưu thế trong cạnh tranh, Công
ty cổ phần Hoàng Hà cần áp dụng một chiến lược định giá phù hợp, có sức mạnh
cạnh tranh để có thế cạnh tranh với các đối thủ mạnh trong điều kiện mức độ cạnh
tranh ngày càng gay gắt.
Hiện nay, giá dịch vụ là một điểm mạnh của Công ty cổ phần Hoàng Hà
trong cạnh tranh: hầu hết giá các dịch vụ mà Công ty kinh doanh đều có mức giá
ngang hoặc thấp hơn thị trường, song định giá cho một dịch vụ là một việc mang
tính chất tổng hợp, do vậy Công ty cần phải xác định rõ mức giá cho từng loại hình
dịch vụ của mình nằm trong giới hạn nào thì sẽ thu hút được những loại khách
hàng nào, ở đoạn thị trường nào, có đủ sức cạnh tranh không?
Đối với dịch vụ đang có yêu cầu lớn trên thị trường Công ty có thể giữ mức
giá ở mức tương đối so với các Công ty khác vì dịch vụ đang được ưa chuộng.
Dịch vụ taxi chất lượng cao nên áp dụng chính sách giá này. Còn đối với dịch vụ
xe bus, tuy không có đối thủ cạnh tranh trên thị trường tỉnh nhưng Công ty cũng
cần phải xem xét đến đối tượng sử dụng dịch vụ của mình hầu như là sinh viên và
bà con nông dân để điều chỉnh giá cước cho phù hợp với thu nhập của người dân.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp Trường ĐHKTQD
Với dịch vụ xe khách đường dài, do có nhiều đối thủ cạnh tranh nên Công ty
không nên đơn phương tăng giá, phải chờ tình hình biến động của các đối thủ, chờ
động tĩnh chung của thị trường rồi mới đưa ra quyết định.
Để xây dựng một chính sách giá cả hợp lý, Công ty cần phải tính tới các
biện pháp để giảm tối đa chi phí để từ đó có thể hạ giá thành mà vẫn đảm bảo lợi
nhuận để tăng hiệu quả kinh doanh cũng như tăng sức cạnh tranh, tạo lợi thế cạnh
tranh cho Công ty.
Phương thức thanh toán cũng tác động rất lớn đến công tác kinh doanh của
Công ty. Đối với các dịch vụ xe bus, taxi và xe tuyến thì phương thức thanh toán
đơn giản là tiền mặt, nhân viên Công ty sẽ thu tiền trực tiếp của khách hàng sử
dụng dịch vụ của mình tuy nhiên khi Công ty cho thuê xe dịch vụ thì cần linh hoạt
phương thức thanh toán để tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, khách hàng có
thể thanh toán bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản hay séc. Cùng với đó Công ty
cũng nên áp dụng chính sách giảm giá cho những đơn vị, khách hàng thuê xe với
số lượng nhiều. Với các khách hàng lớn, có quan hệ hợp tác lâu dài, Công ty cũng
có thể định ra một chính sách giá riêng để tạo mối quan hệ tốt với họ, song cần
phải có một chính sách hợp lý đảm bảo tình trạng vẫn có lãi, tránh tình trạng dây
dưa, công nợ khó đòi. Để tránh tình trạng này, Công ty cần phải tìm hiểu kỹ về
khách hàng, nhất là khách hàng lớn, trong đó chú trọng đển khả năng tài chính của
họ.
Ngoài ra đổi mới phương tiện, thay thế những phương tiện không có hiệu
suất hoạt động cao, tốn nhiên liệu cũng làm tăng sản lượng vận tải, giảm chi phí cố
định, giảm sự tiêu hao nhiên nguyên liệu và tránh sự rò rỉ xăng dầu
1.3.2. Yếu tố bên ngoài
Công tác vận tải hành khách phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân đã có
nhiều tiến bộ do đã có sự đầu tư của một số doanh nghiệp và cá nhân nhưng vẫn
còn nhiều bất cập vì nhiều phương tiện vận tải chủ yếu được cải tạo lại, cũ kỹ lạc
hậu. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của Xã hội và nhu cầu đi lại của nhân dân,
giảm thiểu những bất cập hiện nay Công ty chúng tôi quyết định đầu tư mua them
xe ô tô với chất lượng xe mới 100%, nhãn hiệu Samco, trong đó có 30 xe tải trọng
46 ghế và 20 xe tải trọng 34 ghế. Có tính năng hiện đại và chất lượng tốt nhất để
phục vụ nhu cầu ngày một tốt hơn cho quý khách hàng.
Sinh viên: Nguyễn Hữu Tú Lớp QLKT K38
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét