Nh trên cho thấy đầu t luôn có tác động hai mặt đến nền kinh tế, vì vậy
trên giác độ quản lý phải giảm tác động xấu, tăng tác động tích cực nhằm duy
trì đợc sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế.
2.1.3 Đầu t tác động đến tốc độ tăng tr ởng và phát triển kinh tế.
Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: muốn giữ tốc độ tăng tr-
ởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu t phải đạt 15 - 25% so với GDP tuỳ thuộc vào
ICOR mỗi nớc.
ICOR =
Mức tăng GDP =
Nếu ICOR không đổi thì mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu
t.
Chỉ tiêu ICOR của mỗi nớc phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo
trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách của mỗi nớc.
Kinh nghiệm các nớc cho thấy, chỉ tiêu ICOR phụ thuộc mạnh vào cơ cấu
kinh tế và hiệu quả đầu t trong các nghành, các vùng lãnh thổ cũng nh phụ
thuộc vào hiệu quả của các chính sách nói chung. Thông thờng, ICOR trong
nông nghiệp thấp hơn ICOR trong công nghiệp. Do đó ở các nớc phát triển tỷ lệ
đầu t thấp thờng dẫn đến tốc độ tăng trởng thấp. Ví dụ đầu t / GDP ở Mỹ năm
1965 là 12%, năm 1989 là 15% dẫn đến tăng trởng 1965 - 1989 là 1,6 lần.
ở Nhật: năm 1965 là 28%, năm 1989 là 33% dẫn đến tăng trởng 1965 -
1989 là 4,3 lần.
Vậy với nớc có tỷ lệ đầu t / GDP lớn thì có tốc độ tăng trởng cao.
Đối với các nớc đang phát triển, đầu t đóng vai trò nh một cú hích ban đầu
tạo đà cho sự cất cánh của nền kinh tế, điều này đã đợc chứng minh qua nền
kinh tế của các nớc NICs, các nớc Đông Nam á nh Thái Lan, Singapore
Đối với Việt Nam, để đạt đợc mục tiêu đến năm 2000 tăng gấp đôi tổng
sản phẩm quốc nội theo dự tính của các nhà kinh tế cần một khối lợng vốn đầu
t gấp 3,5 lần so với năm 1992, tỷ lệ vốn đầu t so với GDP đạt 24,7%.
2.1.4 Đầu t tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
5
Kinh nghiệm của các nớc trên thế giới cho thấy con đờng tất yếu để có thể
tăng trởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 - 10%) là tăng cờng đầu t nhằm tạo ra
sự phát triển nhanh ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông,
lâm, ng ngiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt đợc
tốc độ tăng trởng từ 5 - 6% là rất khó khăn. Nh vậy, chính sách đầu t quyết định
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt đợc tốc độ tăng trởng
nhanh của toàn bộ nền kinh tế.
Về cơ cấu lãnh thổ, đầu t có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát
triển giữa các vùng lãnh thổ, đa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng
đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế,
chính trị của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc
đẩy các cùng khác cùng phát triển.
2.1.5 Đầu t với việc tăng c ờng khả năng khoa học công nghệ
Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu t là sự tiên quyết của sự
phát triển và tăng cờng khả năng công nghệ của nớc ta hiện nay.
Theo đánh giá của các chuyên gia công nghệ, trình độ công nghệ của Việt
Nam lạc hậu nhiều thế hệ so với thế giới và khu vực. Theo UNIDO nếu chia quá
trình phát triển công nghệ thế giới làm 7 giai đoạn thì Việt Nam năm 1990 ở
giai đoạn 1 và 2. Việt Nam đang là 1 trong 90 nớc kém nhất về công nghệ. Với
trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của
Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không đề ra đợc một chiến lợc đầu t phát
triển công nghệ nhanh và vững chắc.
Muốn có công nghệ thì có hai con đờng cơ bản đó là: tự nghiên cứu phát
minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nớc ngoài . Dù là tự nghiên cứu hay
nhập từ nớc ngoài cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu t. Mọi phơng án đổi
mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu t sẽ là những phơng án không khả
thi.
2.2 Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ.
2.2. 1 Đầu t quyết định sự ra đời của các cơ sở.
Để tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở sản
xuất kinh doanh dịch vụ nào thì phải có vốn đầu t để xây dựng nhà xởng, cấu
6
trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc, tiến hành các công tác xây
dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một
chu kỳ của các cơ sở vật chất kỹ thuật vừa tạo ra.
Vậy một cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ muốn ra đời thì phải có vốn
đầu t vào các yếu tố cần thiết thì nó mới đi vào hoạt động.
2.2.2 Đầu t quyết định sự tồn tại của cơ sở.
Khi doanh nghiệp ra đời và đi vào hoạt động, sau một thời gian các cơ sở
vật chất kỹ thuật sẽ bị hao mòn, h hỏng,lạc hậu. Để duy trì đợc sự hoạt động
bình thờng cần phải định kỳ tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới các cơ sở vật
chất kỹ thuật đã h hỏng hao mòn này hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện
hoạt động mới của sự phát triển khoa học - kỹ thuật và nhu cầu tiêu dùng của
nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang
thiết bị cũ đã lỗi thời. Để những công việc trên trở thành hiện thực thì ta phải
bỏ tiền ra để đầu t. Khi đó đồng nghĩa với sự tồn tại của các cơ sở sản xuất kinh
doanh dịch vụ.
Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động không để thu lợi nhuận cho bản thân
mình) đang tồn tại để duy trì sự hoạt động ngoài tiến hành sửa chữa lớn định kỳ
các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thờng xuyên. Tất cả
các hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu t.
2.2.3 Đầu t quyết định sự phát triển của các cơ sở.
Các cơ sở muốn ra đời, tồn tại thì phải cần có vốn đầu t. Nhng đối với các
doanh nghiệp không chỉ dừng lại đó mà muốn tạo ra sự phát triển tìm chỗ đứng
vững chắc trên thị trờng vậy thì các doanh nghiệp lại tiếp tục phải có vốn đầu t
vào khoa học công nghệ thích hợp, đào tạo cán bộ quản lý và công nhân lành
nghề, mở rộng các hoạt động quảng cáo, tiếp thị
Vậy đầu t quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của các cơ sở sản xuất
kinh doanh dịch vụ.
II-/ Sự cần thiết phải đầu t phát triển ngành thuỷ lợi.
1-/ Vai trò của thuỷ lợi đối với nền kinh tế.
1.1 Khái niệm về thuỷ lợi.
7
Thuỷ lợi là lĩnh vực kinh tế kỹ thuật rộng lớn gồm nhiều hoạt động đấu
tranh với tự nhiên để khai thác mặt có lợi của nguồn nớc trên và dới mặt đất
phục vụ sản xuất và đời sống đồng thời hạn chế những tác hại của nớc gây ra
đối với sản xuất và đời sống.
2.2 Vai trò của thuỷ lợi đối với nền kinh tế.
Thực tiễn hiện nay đã chứng minh rằng, trên thế giới nớc nào có hệ thống
thuỷ lợi đảm bảo thì nền sản xuất nông nghiệp của nớc đó ổn định và dần dần đ-
ợc nâng cao. Đối với các nớc chậm phát triển thì hệ thống thuỷ lợi của các
ngành nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng đang là những vấn đề nan giải,
phức tạp liên quan đến cả kinh tế và xã hội. Cùng với việc tăng trởng và phát
triển trong nông nghiệp nhằm đáp ứng mọi yêu cầu về lơng thực thực phẩm thì
có nhiều nớc trên thế giới sự phát triển của thuỷ lợi đã trở thành quy mô quốc
gia. Cụ thể Chính Phủ của các nớc đã phát động các chơng trình tới nớc với mục
tiêu chính là đảm bảo tự túc lơng thực và chơng trình đó đã đạt đợc nhiều kết
quả tốt do hệ thống thuỷ lợi phục vụ tốt. Nh vậy, trong nông nghiệp, thuỷ lợi có
thể đợc định nghĩa nh là việc sử dụng kỹ thuật của con ngời để tăng và kiểm
soát việc cung cấp nớc cho trồng trọt.
ở nớc ta cũng nh ở nhiều nớc trên thế giới, trong cơ cấu nền kinh tế quốc
dân, thuỷ lợi là một ngành kinh tế kỹ thuật có vị trí quan trọng. Công tác thuỷ
lợi đợc tiến hành với nhiều nội dung song có thể khái quát ở hai nội dung chính
cơ bản sau:
- Thuỷ lợi tiến hành trị thuỷ nh đắp đê, đắp đập, đào sông để chỉnh trị dòng
chảy, phòng chống lũ lụt, bão nhằm khắc phục và giảm nhẹ thiên tai.
- Thuỷ lợi tiến hành công tác thuỷ nông nh đào kênh, khơi nguồn, xây
dựng cầu, cống, mơng máng để phục vụ sản xuất nông nghiệp phục vụ dân
sinh và các ngành kinh tế khác, cải tạo và bảo vệ môi trờng.
Với hai nội dung cơ bản trên của công tác thuỷ lợi thì thuỷ lợi đã thể hiện
vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế nếu không tiến hành trị thuỷ thì
hậu quả khôn lờng sẽ diễn ra làm thiệt hại nặng nề về kinh tế cơ sở hạ tầng vật
chất cây lơng thực sẽ bị nớc lũ cuốn trôi, mặt khác nó còn tác động rất xấu đến
công tác môi trờng
8
Nội dung thứ hai của thuỷ lợi là tiến hành công tác thuỷ nông, thuỷ nông
là một ngành kinh tế kỹ thuật thực hiện chức năng quản lý, khai thác tài nguyên
nớc để phục vụ sản xuất nông nghiệp và các lĩnh vực khác.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, thuỷ nông đã và sẽ đóng một vai trò làm
tăng trởng sản lợng lơng thực để thoả mãn nhu cầu của loài ngời cả trong hiện
tại và tơng lai.
Toàn thế giới có 14% diện tích canh tác đơc tới và 8,2% diện tích đợc tiêu
(tiêu cho cả diện tích phi canh tác), những giá trị sản phẩm nông nghiệp thu đợc
trên diện tích này chiếm 38% tổng giá trị nông nghiệp toàn thế giới, hiện tại
Việt Nam có 36,1% diện tích canh tác đợc tới và 21,4% đợc tiêu (tiêu cả trên
diện tích phi canh tác) đã cho số sản phẩm nông nghiệp thu đợc trên đó chiếm
68% tổng sản phẩm nông nghiệp.
Tuy mức độ phát triển thuỷ nông của thế giới, của một số khu vực cũng
nh ở nhiều quốc gia còn ở mức độ thấp, nhng sự phát triển đó chủ yếu đợc thực
hiện từ giữa thế kỷ 20 trở lại đây. Vì vậy mặc dù dân số thế giới trong vòng 40
năm qua từ (1960 - 1999) tăng gần 2 lần (khoảng 6 tỷ so với 3 tỷ) và mặc dù
hầu hết đất đai canh tác đã đợc loài ngời sử dụng song nhìn chung lơng thực
bình quân đầu ngời của thế giới vẫn tăng nhanh hơn mức tăng dân số. Trong
thập kỷ 80, bình quân lơng thực đầu ngời trên thế giới tăng 5% (loại trừ tình
trạng thiếu lơng thực cục bộ).
Viện nghiên cứu lúa quốc tế cho rằng, tăng tiềm năng sản xuất nông
nghiệp cuả trái đất rất lớn, chỉ cần đầu t có hiệu quả vào nông nghiệp, trớc hết
là khâu tới, tiêu nó có thể đảm bảo nuôi sống 10 tỷ ngời. Nh vậy vai trò của
thuỷ nông đối với sản xuất nông nghiệp là rất quan trọng đợc biểu hiện cụ thể
sau:
- Thứ nhất: Thuỷ nông là tiền đề mở rộng diện tích canh tác do việc phát
triển các hệ thống tới và tiêu tạo ra các vùng đất canh tác mới.
- Thứ hai: Thuỷ nông là tiền đề làm tăng vụ do đó tăng diện tích gieo
trồng trên diện tích canh tác, tăng vòng quay của diện tích đất nông nghiệp.
-Thứ ba: Thuỷ nông góp phần thâm canh tăng năng suất cây trồng, thay
đổi cơ cấu cây trồng, góp phần nâng cao tổng sản lợng và giá trị tổng sản lợng.
Do cung cấp đủ lợng nớc cho nhu cầu sinh trởng và tiêu thoát kịp thời đã làm
9
cho năng suất cây trồng tăng thêm đợc từ 20 - 30% theo tài liệu của FAO, các
loại giống mới có tới tiêu hợp lý đạt đợc 80 - 90% năng suất thí nghiệm, nếu
không chỉ đạt 30 - 40%. Đồng thời thuỷ nông cần dùng nớc để cải tạo đất thông
qua việc thâu chua, phèn rửa mặn làm tiền đề để áp dụng dụng các thành tựu
mới của khoa học kỹ thuật nông nghiệp nên đã làm cho năng suất cây trồng
tăng cao.
Nh vậy sự đóng góp của thuỷ nông đối với sự phát triển của sản xuất nông
nghiệp đã đợc các nhà chuyên gia trên thế giới chỉ ra cụ thể nh sau:
Trong các yếu tố nớc, phân, giống và các yếu tố khác làm tăng sản lợng
lúa là 100% thì nớc chiếm tỷ lệ cao nhất 25,5%; 22,2%; 22,1% và 30,2%. Và
cũng chỉ ra mối tơng quan giữa mức độ thuỷ lợi hoá với việc tăng năng suất lúa
diễn ra theo quan hệ mang tính chất tỷ lệ thuận. Các nớc có mức độ hoá 60%
cho năng suất 6 tấn/ 1ha/ 1 năm và 40% cho 4 tấn/ 1ha/ 1năm, còn 25% cho 2
tấn/ 1ha/ 1năm.
Nh vậy, nếu không có thuỷ lợi thì không thể tiến hành sản xuất nông
nghiệp đợc và nó đợc coi là biện pháp hàng đầu trong nông nghiệp. Cho nên
thuỷ lợi phải đi trớc một bớc thì mới tạo tiền đề cho nông nghiệp phát triển
vững chắc.
Thực tiễn sản xuất trong nhiều năm qua ở nớc ta cũng nh các nớc trên thế
giới đã khẳng định những hiệu quả mà các hệ thống công trình thuỷ lợi mang
lại là hết sức to lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Nh vậy,
công trình thuỷ lợi là các công trình hay hệ thống công trình nhằm khai thác
mặt lợi của nớc, phòng chống các mặt có hại do nớc gây ra hoặc kết hợp cả hai
mặt đó.
Công trình thuỷ lợi còn đợc xem là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc kết cấu hạ
tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nớc và bảo vệ môi trờng sinh thái, có vị trí
quan trọng trong việc phát triển kinh tế đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, nâng
cao đời sống nhân dân, góp phần xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Quản lý khai thác công trình thuỷ lợi hệ thống là một yêu cầu khách quan
của công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Một hệ thống công trình
thuỷ lợi bao gồm các thành phần cơ bản sau:
- Công trình đầu mối (đập dâng, hồ chứa, trạm bơm hoặc cống lấy nớc).
10
- Hệ thống kênh (kênh chính, kênh nhánh các cấp).
- Các công trình hệ thống kênh (cống lấy nớc đầu kênh, cống điều tiết các
loại ).
- Hệ thống kênh mơng cống bọng nội đồng.
Hệ thống công trình thuỷ lợi nói trên là một chỉnh thể phải đợc vận hành
bảo dỡng theo một quy trình quản lý thống nhất gọi là quy trình quản lý hệ
thống. Quy trình đợc thiết lập trên cơ sở luận chứng kinh tế kỹ thuật, thiết kế kỹ
thuật của hệ thống nhằm khai thác có hiệu quả các thông số kinh tế kỹ thuật đã
đợc duyệt bảo đảm an toàn công trình trong mọi tình huống, đảm bảo hài hoà
lợi ích dùng nớc của địa phơng, khu vực hộ dùng nớc.
ở nớc ta, hơn 40 năm qua Nhà nớc và nhân dân đã đầu t xây dựng hoàn
thiện nhiều hệ thống công trình thuỷ lợi và từ đó đã khắc phục đợc tình trạng
úng hạn, mở rộng diện tích gieo trồng góp phần cải tạo đất, thâm canh tăng vụ,
tăng năng suất cây trồng. Hàng năm công trình thuỷ lợi còn cung cấp nhiều tỷ
m3 nớc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, khắc phục thiên tai có những tiến bộ
đáng kể đặc biệt là sản xuất lơng thực, cụ thể hơn là góp phần khắc phục dần
tình trạng úng hạn trong sản xuất nông nghiệp ở nớc ta, từng bớc cải thiện đất
mặn, chua, phèn, hoang hoá, mở rộng diện tích sản xuất, tạo điều kiện đẩy
mạnh thâm canh, tăng vụ, tăng năng suất cây trồng, cùng với việc chuyển đổi cơ
cấu cây trồng mùa vụ có nhiều thuận lợi. Diện tích tới tiêu nớc qua từng thời kỳ
đợc mở rộng không ngừng, ngoài diện tích lúa ra, các hệ thống công trình thuỷ
lợi hiện có còn bảo đảm tới và cấp nớc hàng tỷ m3 cho các lĩnh vực khác. Đồng
thời còn tiêu úng đất sản xuất và cải tạo đất ven biển. Với kết quả đó công tác
thuỷ lợi nói chung và các công trình thuỷ lợi nói riêng đã góp phần tích cực vào
mặt trận sản xuất nông nghiệp và giành đợc những thắng lợi rực rỡ liên tiếp.
- Thứ t: Thuỷ lợi tạo điều kiện cho các ngành kinh tế quốc dân phát triển.
Thực tiễn sản xuất trong thời gian qua đã khẳng định những hiệu quả mà các hệ
thống, các công trình thuỷ lợi mang lại là hết sức to lớn, không những đối với
sản xuất nông nghiệp mà còn đối với các ngành kinh tế quốc dân và đời sống
xã hội. Ngoài phục vụ cho nông nghiệp và dân sinh, phát triển giao thông thuỷ,
phát điện, nuôi cá tạo việc làm tại chỗ, điều hoà phối hợp lại dân c và cải thiện
môi trờng sinh thái góp phần phát triển nông thôn toàn diện, thực hiện xoá đói
giảm nghèo. Cho nên ngày nay ở đâu có thuỷ lợi đảm bảo thì đời sống nhân
11
dân ổn định, ở đâu cha có thuỷ lợi thì việc xoá đói giảm nghèo còn đặt ra gay
gắt.
Mặt khác, thuỷ lợi là ngành thuộc kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội có vai trò
hết sức quan trọng đối với công cuộc phát triển đất nớc và nâng cao đời sống
nhân dân, lợi ích mà ngành thuỷ lợi đem lại là cải tạo thiên nhiên, chiến thắng
thiên tai, hạn hán lũ lụt, khai thác mặt lợi ngăn trừ mặt hại, phục vụ quốc tế dân
sinh và bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Ngoài diện tích lúa ra, các hệ thống công trình thuỷ lợi còn đảm bảo tới
cho hàng chục vạn hecta hoa màu, cây công nghiệp. Đồng thời hàng năm các
công trình thuỷ lợi đã đợc khai thác tổng hợp phục vụ giao thông, thuỷ sản, thuỷ
điện, du lịch, góp phần tạo việc làm tại chỗ. Cụ thể công tác thuỷ lợi nói chung
và các công trình thuỷ lợi nói riêng đã cung cấp một lợng nớc đầy đủ và đảm
bảo yêu cầu ngoài nông nghiệp ra còn cho mọi ngành khác có liên quan, nhằm
phát triển một nền kinh tế xã hội chung ở nớc ta, việc khai thác và sử dụng
nguồn tài nguyên nớc để phục vụ cho nhiều ngành kinh tế giữ vai trò hết sức
quan trọng.
- Thứ năm: Thuỷ lợi góp phần cải tạo môi trờng, nâng cao điều kiện dân
sinh kinh tế.
Đối với cung cấp n ớc phục vụ nông nghiệp và dân sinh:
Trong giai đoạn xây dựng công nghiệp hoá nguồn nớc giữ vai trò quan
trọng thứ hai trong giai đoạn phát triển hiện nay. Tính đến năm 1999 nguồn nớc
do các hệ thống cung cấp nớc sạch cho các khu công nghiệp, thành phố, thị xã
và một số thị trấn mới phục vụ đợc cho trên 20 triệu dân và hàng năm mới sử
dụng khoảng 0,6 tỷ m3 nớc ngầm dới đất. .Hầu hết các hộ nông dân các thị trấn
còn lại đều dùng nớc giếng tự nhiên hoặc nớc sông suối cha đợc xử lý thành nớc
sạch.
Tiến hành chơng trình nớc ăn vùng cao, đặc biệt là các vùng phía bắc khó
khăn nhất làm gọn dứt điểm từng vùng.Tạo nguồn nớc ngọt nâng cao chất lợng
nớc ngọt ở vùng mặn nhằm góp phần quyết định cho nớc sạch nông thôn. Qui
hoạch và xúc tiến các công trình cải tạo nguồn nớc cho các khu công nghiệp
trọng điểm.
Đối với môi tr ờng xã hội:
12
Công trình thuỷ lợi ngoài phục vụ cho các ngành còn cải tạo và bảo vệ môi
trờng, đặc biệt là cung cấp nguồn nớc sạch cho xã hội, tạo nguồn nớc ngọt đảm
bảo tới tiêu, thau chua, rửa mặn ở các vùng đất xấu. Nếu phân bố không đồng
đều theo không gian và thời gian nguồn nớc không chỉ mang lại lợi ích kinh tế
xã hội to lớn mà có thể gây ra cả những hiểm hoạ nghiêm trọng nh ngập lụt,
úng hạn thiệt hại tính mạng tài sản nhân dân, cho nên cần phải đầu t phát triển
công trình thuỷ lợi, đây là vấn đề an toàn của quốc gia, của xã hội và công trình
thuỷ lợi đợc hiểu là nhiều công trình thiết yếu quan trọng của cộng đồng. Ngoài
ra khai thác và sử dụng nguồn nớc phải tuân theo nguyên tắc tổng hợp, nội dung
một cách tối u, sử dụng hợp lý, không phung phí huỷ hoại làm cạn kiệt nguồn
nớc thay đổi môi trờng sinh thái. Quy hoạch khai thác và sử dụng phải đảm bảo
sự lâu dài, bảo vệ môi trờng sinh thái, không nên làm ô nhiễm nguồn nớc sạch
và nớc ngọt sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trờng chung và gây ảnh hởng đến toàn xã
hội.
2-/ Nội dung của thuỷ lợi hoá trong công nghiệp.
Nh trên đã nói, công trình thuỷ lợi đợc xem là cơ sở kinh tế kỹ thuật thuộc
kết cấu hạ tầng nhằm khai thác nguồn lợi của nớc và bảo vệ môi trờng. Chính vì
vậy mà công tác thuỷ lợi phải qua 4 giai đoạn sau đây:
Giai đoạn 1: Trị thuỷ dòng sông lớn.
Giai đoạn 2: Tổ chức thi công xây dựng công trình.
Giai đoạn 3: Tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng công trình.
Giai đoạn 4: Tổ chức tới nớc và tiêu nớc khoa học.
2.1. Trị thuỷ dòng sông lớn.
Trị thuỷ dòng sông lớn là nội dung quan trọng và có tính chất then chốt
của công tác thuỷ lợi nói chung và thuỷ lợi hoá nông nghiệp nói riêng. Để làm
tốt công tác trị thuỷ cần thực hiện các biện pháp sau đây.
- Điều tra khảo sát: mỗi công trình để đi vào khởi công xây dựng thì việc
làm trớc tiên là phải quy hoạch khảo sát, thiết kế công trình. Đây là nhiệm vụ
quan trọng không thể thiếu đợc đối với mỗi công trình, nó quyết định sự thành
công hay thất bại của mỗi công trình khi đi vào hoạt động.
13
Đối với công tác thuỷ lợi, muốn công trình xây dựng đem lại hiệu quả thì
công tác quy hoạch khảo sát thiết kế phải căn cứ vào các điều kiện sau:
Điều kiện khí hậu thời tiết.
Điều kiện địa hình, địa chất, thổ nhỡng
Điều kiện xã hội và dân sinh kinh tế.
Nguồn nguyên liệu là nớc trong thiên nhiên, chịu ảnh hởng của quy luật
thay đổi của nớc trong thiên nhiên.
Sở dĩ cần phải căn cứ vào các nhân tố trên là do những nhân tố đó hoạt
động biến đổi theo những quy luật nhất định của từng vùng khác nhau. Việc
phát hiện và đánh giá đúng bản chất của sự vật qua đó nghiên cứu các biện pháp
khai thác chế ngự nó thật không đơn giản nhng qua đây cũng đa ra đợc những
giải pháp hữu hiệu nh xác định địa điểm xây dựng công trình, có nghiên cứu
nguồn nguyên liệu nớc trong thiên nhiên thì việc chọn lựa địa điểm xây dựng
khi công trình đi vào hoạt động mới đem lại hiệu quả nhờ cung cấp đủ nguồn
nguyên liệu cho công trình hay trong việc xác định thời gian tiến hành xây
dựng công trình thì cần căn cứ vào điều kiện khí hậu thời tiết của địa điểm định
khởi công xây dựng ,nhằm hoàn thiên công trình trớc mùa ma lũ, tránh tình
trạng công trình đang xây dựng dở dang vào những tháng ma lũ tới không
những công trình không kịp phát huy tác dụng mà có thể gây thất thoát về
nguyên vật liệu, lãng phí vốn.
Sau khi điều tra khảo sát tình hình tự nhiên thì tiến hành lập dự án khả thi
và thiết kế kỹ thuật công trình: khi lập dự án có thể sử dụng thiết kế định hình
để sơ bộ tính giá thành trong các phơng án, nhng cần thiết phải chú ý đến tình
hình địa chất, vật liệu tại địa phơng để chọn hình thức kết cấu hợp lý.
ở Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa khô nắng gây hạn hán,
mùa ma lợng ma rất lớn gây ngập úng khó khăn lớn đến tình hình sản xuất nông
nghiệp. Chính vì vậy, khi tiến hành xây dựng hệ thống thuỷ lợi cần xem xét kỹ
tình hình tự nhiên của từng vùng để từ đó đa ra xây dựng hệ thống công trình
thuỷ lợi đồng bộ (lớn, vừa và nhỏ) để phục vụ sản xuất và đời sống. Điển hình là
các công trình miền Trung , việc nghiên cứu điều tra khảo sát thiết kế là rất cần
thiết bởi miền Trung là vùng thiên tai thờng xuyên xảy ra nh hạn hán, gió nóng,
bão lũ nh trận bão lịch sử tại các tỉnh miền Trung vừa qua (tháng 11/ 1999) đã
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét