Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
TỔNG QUAN VỀ QUÁ TRÌNH CHẾ BIẾN TỐI THIỂU (MINIMAL
PROCESSING)
Chương 1. Giới thiệu chung về chế biến tối thiểu
1.1 Khái niệm về chế biến tối thiểu (minimal processing) [6]
Thuật ngữ “chế biến tối thiểu” được đònh nghóa theo rất nhiều cách khác nhau.
Theo Manvell (1996) thì chế biến tối thiểu có nghóa là tác động ít nhất lên thực
phẩm để đạt được những mục đích của nhà sản xuất. Theo Huis in’t Veld (1996)
thì chế biến tối thiểu đó là tối thiểu những ảnh hưởng bất lợi tới chất lượng của
thực phẩm đồng thời kéo dài thời gian bảo quản của thực phẩm.
Còn theo Fellow (2000) thì chế biến tối thiểu bao gồm những kó thuật bảo quản
thực phẩm, nhằm giữ lại các giá trò dinh dưỡng, giá trò cảm quan cho thực phẩm
nhưng hạn chế việc sử dụng nhiệt vốn là phương pháp chính để bảo quản thực
phẩm đã tồn tại từ rất lâu đời.
1.2 Mục đích của chế biến tối thiểu , [6, 21]
Kỹ thuật chế biến tối thiểu ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng phát triển
về thực phẩm của người tiêu dùng. Đó là những yêu cầu về sản phẩm thực
phẩm đã qua chế biến có những đặc tính sau:
- Tính chất gần giống như thực phẩm ở trạng thái tươi (fresh-like).
- Giá trò dinh dưỡng, giá trò cảm quan cao.
- Có lợi cho sức khỏe.
- Tính an toàn cao, sử dụng ít hoặc không sử dụng các loại hoá chất bảo
quản tổng hợp độc hại.
- Tiện lợi, tiết kiệm thời gian cho người sử dụng
Đối với công nghiệp thì kỹ thuật chế biến tối thiểu phát triển nhằm đáp ứng
những yêu cầu sau:
- Tăng giá trò kinh tế, lợi nhuận cho nhà sản xuất
- Đa dạng hoá sản phẩm
- Tăng thời gian bảo quản và độ an toàn cho các sản phẩm
1.3.Các kỹ thuật sử dụng trong chế biến tối thiểu [6, 7, 21]
Quá trình chế biến tối thiểu thực phẩm là quá trình sử dụng các kỹ thuật bảo quản
thực phẩm nhằm giữ lại giá trò dinh dưỡng và cảm quan ban đầu của thực phẩm, đồng
SV: Võ Thò Thu Hằng - 1 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
thời kéo dài thời gian bảo của sản phẩm. Theo R.Paul Singh & Fermanda, (1994), các kỹ
thuật bảo quản sử dụng cho quá trình chế biến tối thiểu thực phẩm về cơ bản có thể được
phân loại như sau:
Loại 1 : các kỹ thuật bảo quản truyền thống có sử dụng nhiệt như thanh trùng,
tiệt trùng, lạnh đông, sấy… hiện đang được tối ưu hoá để biến đổi chất lượng
thực phẩm ít nhất và tiết kiệm năng lượng.
Loại 2 : Các phương pháp bảo quản mới, xử lý thực phẩm ít nhất như: kỹ thuật
áp suất cao, kỹ thuật chiếu xạ, kỹ thuật xung điện từ (không sử dụng nhiệt)
hoặc phương pháp xử lý thực phẩm bằng nhiệt nhẹ (mild heat treatment), kỹ
thuật sous-vide (thực phẩm được đóng gói chân không và được gia nhiệt bằng
hơi nước hoặc vi sóng tới nhiệt độ nhỏ hơn 100
o
C), kỹ thuật bao gói trong khí
quyển điều chỉnh (MAP), sử dụng các chất bảo quản thực phẩm có nguồn gốc
tự nhiên, không độc hại như Nisin, Natamycin, Chitosan, Lysozyme…
Loại 3 : Kỹ thuật “hurdle”, đây là sự kết hợp của các kỹ thuật bảo quản khác
nhau nhằm đạt được mục đích của chế biến tối thiểu.
1.3.1 . Kỹ thuật nhiệt trong chế biến tối thiểu, [6]
Kỹ thuật nhiệt đã được sử dụng từ rất lâu đời trong bảo quản thực phẩm. Ưu điểm của
nó là kéo dài được thời gian bảo quản thực phẩm do tác động ức chế hoặc tiêu diệt vi
sinh vật và enzym có trong thực phẩm. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là tạo ra những
thay đổi không mong muốn ở thực phẩm như làm tổn thất vitamin và khoáng chất,
làm mềm cấu trúc, mất độ tươi ban đầu của sản phẩm.
Mặc dù có nhiều ý kiến phản đối việc sử dụng nhiệt trong chế biến tối thiểu, nhưng
theo Ohsson (1996) thì kỹ thuật nhiệt vẫn được xem là “tối thiểu” nếu nó làm thay
đổi chất lượng thực phẩm ít nhất khi so sánh nó với các kỹ thuật nhiệt truyền thống
khác.
High temperature short time (HTST) và Ultra hight temperature (UHT) là hai phương
pháp sử dụng nhiệt để thanh trùng, tiệt trùng sản phẩm đem lại hiệu quả cao trong ức
chế, tiêu diệt vi sinh vật và enzym mà không làm biến đổi đáng kể giá trò dinh dưỡng
và cảm quan ban đầu của thực phẩm. Ứng dụng chủ yếu của 2 phương pháp này là
trong công nghệ sản xuất sữa, sản xuất nước quả ép.
Phương pháp nung điện (electric heating), sử dụng năng lượng điện từ để làm tăng
nhiệt độ trong thực phẩm, cũng đươcï xem là một kỹ thuật chế biến tối thiểu (Ohsson,
SV: Võ Thò Thu Hằng - 2 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
1994). Có ba vùng tần số của sóng điện từ được sử dụng trong công nghiệp thực phẩm
là:
Vùng tần số 50-60Hz được sử dụng cho nhiệt điện trở (electric resistance
heating), thường được gọi là Ohmic heating. Trong phương pháp này, thực
phẩm sẽ đóng vai trò như dây dẫn giữa mặt đất và các điện cực mang điện,
điện thế thường 220-380V.
Vùng tần số cao/radio frequency heating có tần số từ 10-60MHz. Thực phẩm
được đặt giữa các điện cực và năng lượng sẽ được truyền qua thực phẩm.
Vùng vi sóng, tần số từ 1-3 GHz. Năng lượng truyền qua không khí tới thực
phẩm và được kiểm soát bởi thiết bò điện từ.
Các kỹ thuật Ohmic heating, radio frequency, microwave hiện đang là những kỹ
thuật nhiệt mới, nhiều tiềm năng, được áp dụng chủ yếu để thanh trùng, tiệt trùng
các sản phẩm thực phẩm chế biến tối thiểu với ưu điểm là tác động ít vào thực
phẩm, hạn chế tối đa những thay đổi về cấu trúc, cảm quan, dinh dưỡng của sản
phẩm khi so với các kỹ thuật nhiệt thông thường khác.
1.3.2. Kỹ thuật không sử dụng nhiệt (non-thermal technology) trong chế biến
tối thiểu, [6, 7]
Để đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng về sản phẩm thực phẩm chế biến tối
thiểu có giá trò dinh dưỡng, cảm quan cao giống như thực phẩm tươi mà kỹ thuật
nhiệt khó đem lại, các nhà sản xuất đã không ngừng tìm tòi và áp dụng nhiều kỹ
thuật bảo quản mới. Những kỹ thuật này đều không sử dụng nhiệt và hiện đang được
áp dụng phổ biến với hiệu quả chế biến tối thiểu cao. Một vài kỹ thuật không sử
dụng nhiệt điển hình như:
Kỹ thuật áp suất cao (High pressure)
Kỹ thuật chiếu xạ (Irradiation)
Kỹ thuật xung điện trường (pulsed electric fields)
Kỹ thuật xung ánh sáng trắng (pulsed white light)
Kỹ thuật siêu âm (ultrasound)
Kỹ thuật đóng gói trong khí quyển điều chỉnh (MAP)
SV: Võ Thò Thu Hằng - 3 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
Bảng 1.1: Ưu, nhược điểm và ứng dụng của những kỹ thuật chế biến tối thiểu
(EarnShaw & Manvell, 1996) [7]
Kỹ
thuật
Ưu điểm Nhược điểm ng dụng
p
suất
cao
- Tiêu diệt tế bào sinh
dưỡng (và bào tử ở nhiệt độ
cao)
- Giữ được màu sắc, mùi
vò, giá trò dinh dưỡng của sản
phẩm
- Không gây độc
- Giảm thời gian chế biến
- Tác động đều lên các
phần của thực phẩm.
- Giảm sử dụng các hoá
chất bảo quản
- Được sự chấp nhận của
người tiêu dùng
- nh hưởng ít tới
hoạt tính của enzyme
- Thiết bò đắt tiền.
- Thực phẩm cần
phải có 40% ẩm tự do
thì tác dụng chống vi
sinh vật mới hiệu quả
- Làm việc gián đoạn
- Giới hạn yêu cầu về
vật liệu bao gói
Thanh trùng
hoặc tiệt
trùng các sản
phẩm nước
ép rau quả,
các loại nước
xốt, đồ ngâm
tẩm, salad
dressings
Thanh trùng
thòt tươi,
thủy hải sản
tươi
Chiếu
xạ
- Có khả năng xuyên sâu
tốt trong thực phẩm
- Thích hợp cho tiệt trùng
sản phẩm
- Ít tổn thất chất dinh
dưỡng
- Thích hợp sản xuất trên
quy mô lớn
- Chi phí năng lượng thấp
- Thích hợp cho thực
phẩm dạng khô
- Được phép sử dụng ở
nhiều quốc gia
- Giá thành cao
- Sự hiểu biết còn
hạn chế của người tiêu
dùng về sản phẩm
chiếu xạ
- Thay đổi mùi vò do
phản ứng oxi hoá
- Khó khăn cho việc
phát hiện sản phẩm hư
hỏng
Chiếu xạ rau
quả, cây gia
vò, thòt, cá
SV: Võ Thò Thu Hằng - 4 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
Xung
điện
trường
- Tiêu diệt tế bào sinh
dưỡng của vi sinh vật
- Mùi vò, màu sắc, giá trò
dinh dưỡng được bảo vệ
- Không gây độc
- Thời gian xử lý ngắn
- Không ảnh hưởng
lên enzyme và bào tử
- Khó khăn trong
việc lựa chọn vật liệu
dẫn điện phù hợp
- Chỉ thích hợp với
thực phẩm dạng lỏng
- Chỉ có hiệu quả khi
kết hợp với xử lý nhiệt.
- Hiệu quả về năng
lượng là không cao
Sử dụng
thanh trùng
thực phẩm
dạng lỏng
như nước ép
trái cây,
soup, sữa
Xung
ánh
sáng
- Giá thành trung bình
- Quá trình xử lý nhanh
- Ít hoặc không có những
thay đổi trong thực phẩm
- Năng lượng cần thiết
thấp
- Thích hợp đối với thực
phẩm dạng khô
- Chỉ tác động trên
những bề mặt đơn giản
của thực phẩm
- Không tiêu diệt bào
tử
- Tác động tới một
vài vi sinh vật
- Hiệu quả cao khi ở
cường độ ánh sáng cao
Thanh trùng
bề mặt rau
quả tươi, thòt,
cá tươi
Siêu
âm
- Tác động hiệu quả tới tế
bào sinh dưỡng, hoạt tính của
enzyme, bào tử
- Giảm thời gian và nhiệt
độ chế biến.
- Tốc độ truyền nhiệt cao
- Có thể cải thiện các cấu
trúc sản phẩm.
- Hoạt động liên tục hoặc
gián đoạn
- Hoạt động phức tạp
- Khả năng xuyên
sâu phụ thuộc vào thành
phần chất rắn và khí
trong thực phẩm
- Có thể gây phá hủy
thực phẩm do các gốc tự
do
- Cần thiết phải kết
hợp với các kỹ thuật
khác như kỹ thuật nhiệt
p dụng cho
mọi thực
phẩm đã
được gia
nhiệt trước
MAP - Giảm tốc độ hô hấp của
rau quả
- Giảm tổn thất khối
- Mỗi sản phẩm khác
nhau đồi hỏi một công
thức hỗn hợp khí khác
Bao gói cho
tất cả những
thực phẩm
SV: Võ Thò Thu Hằng - 5 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
lượng sản phẩm
- Giữ độ tươi cho sản
phẩm
- Có thể tăng thời gian
bảo quản lên gấp 4 lần
- Ít hoặc không sử dụng
hoá chất bảo quản
nhau
- Yêu cầu vật liệu
bao gói phải có tính
thấm khí chọn lọc
- Giá thành cao
tươi như rau
quả, thòt, cá.
1.3.3 . Kỹ thuật “Hurdle”, [6, 21]
Thuật ngữ kỹ thuật “Hurdle” dùng để chỉ việc áp dụng kết hợp nhiều kỹ thuật bảo
quản khác nhau để nâng cao tính hiệu quả của chế biến tối thiểu. Đây được hiểu là
sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố như nhiệt độ, hoạt độ nước, pH, áp suất…nhằm
tác động hiệu quả lên vi sinh vật và enzym trong thực phẩm.
Sự kết hợp giữa các kỹ thuật bảo quản là hết sức đa dạng và các nhà sản xuất, các
nhà khoa học vẫn đang không ngừng nghiên cứu thử nghiệm để tối ưu hoá chúng.
Người ta có thể kết hợp kỹ thuật xử lý nhẹ thực phẩm bằng nhiệt (mild heat
treatment) với một trong các kỹ thuật không sử dụng nhiệt như chiếu xạ, áp suất cao…
Cũng có thể kết hợp xử lý thực phẩm bằng kỹ thuật chiếu xạ hay kỹ thuật áp suất cao
với kỹ thuật bao gói thực phẩm trong khí quyển điều chỉnh (modified atmosphere
packaging, MAP) hoặc kết hợp kỹ thuật MAP với xử lý nhiệt nhẹ nhàng… để đạt được
mục đích của chế biến tối thiểu.
Trong khuôn khổ bài báo cáo này, em chỉ xin trình bày rõ hơn về nguyên tắc và
những ứng dụng trong quá trình chế biến tối thiểu thực phẩm của các kỹ thuật bảo
quản sau:
o Kỹ thuật tiệt trùng UHT,
o Kỹ thuật chiếu xạ,
o Kỹ thuật áp suất cao
o Kỹ thuật bao gói thực phẩm bằng khí quyển điều chỉnh (MAP).
1.4. Sản phẩm thực phẩm chế biến tối thiểu. [6]
Sản phẩm thực phẩm chế biến tối thiểu (minimally processed foods) hay còn
gọi là sản phẩm ăn liền (ready to eat) hoặc sản phẩm có thể sử dụng liền (ready
to use). Đây là những sản phẩm rất tiện lợi cho người sử dụng, giúp người sử dụng
SV: Võ Thò Thu Hằng - 6 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
có thể tiết kiệm thời gian chuẩn bò và quan trọng hơn cả là chất lượng sản phẩm
cao, an toàn cho người sử dụng.
Có thể phân loại thực phẩm chế biến tối thiểu thành 2 loại là:
Loại 1: Những sản phẩm được xử lý nhẹ nhàng bằng các kỹ thuật mới, ít
tác động tới chất lượng ban đầu của thực phẩm như kỹ thuật lạnh đông, kỹ thuật
thanh trùng HTST, kỹ thuật tiệt trùng UHT, kỹ thuật áp suất cao, kỹ thuật chiếu xạ,
kỹ thuật MAP hoặc được xử lý bằng phương pháp hoá học như xử lý bằng acid, nước
muối hay sử dụng các chất bảo quản thực phẩm có nguồn gốc tự nhiên.
Loại 2: Những sản phẩm rất ít hoặc hầu như không qua xử lý bằng các kỹ
thuật nhiệt hay không sử dụng nhiệt trên. Rau quả fresh-cut là sản phẩm điển hình
thuộc loại sản phẩm chế biến tối thiểu này. Rau quả sau khi cắt, gọt có thể tiến hành
rửa bằng các dung dòch vệ sinh như nước Clorine rồi sau đó đem bao gói sử dụng khí
quyển điều chỉnh và bảo quản lạnh.
Một số sản phẩm thực phẩm chế biến tối thiểu.
1.4.1 Sản phẩm thòt, cá chế biến tối thiểu
Để sản xuất các sản phẩm thòt, cá chế biến tối thiểu, các nhà sản xuất thường sử
dụng kỹ thuật áp suất cao, kỹ thuật bảo quản lạnh đông hoặc kết hợp các kỹ thuật
này với nhau hay với kỹ thuật MAP.
Thuộc nhóm sản phẩm này, ta có thể kể ra một vài loại như :
Các loại thòt tươi như thòt heo, thòt bò, thòt gà… xử lý bằng áp suất cao, đóng
gói trong khí quyển điều chỉnh và bảo quản lạnh
Các loại thuỷ hải sản lạnh đông như tôm, cua, mực, cá…đóng gói trong khí
quyển và bảo quản lạnh đông.
SV: Võ Thò Thu Hằng - 7 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
Hình 1.1: Thòt chế biến tối thiểu
Hình 1.2: Thuỷ sản chế biến tối thiểu
1.4.2 Sản phẩm sữa chế biến tối thiểu: [1, 10]
Thuộc nhóm này gồm có sản phẩm sữa thanh trùng và sữa tiệt trùng.
Đặc điểm của sữa thanh trùng:
Là sản phẩm chế biến từ sữa tươi với quy trình sản xuất đơn giản nhất. Sản phẩm
được đựng trong hộp giấy, chai thủy tinh hoặc chai nhựa kín và được bảo quản ở nhiệt độ
5-7
o
C. Trong điều kiện không mở bao bì, sữa thanh trùng có thể bảo quản trong thời gian
tối đa là từ 8-10 ngày. Đối với sản phẩm sữa thanh trùng, người ta sử dụng chế độ thanh
trùng nhiệt độ cao, thời gian ngắn (high temperature short time HTST). Quá trình thanh
trùng được thực hiện ở 72-75
o
C, trong 15-20giây. Với chế độ thanh trùng như trên, các
SV: Võ Thò Thu Hằng - 8 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
biến đổi có thể diễn ra trong quá trình là không đáng kể. Kết quả là sữa thanh trùng vẫn
giữ được màu sắc, hương vò, giá trò dinh dưỡng như sữa tươi sau khi vắt.
Đặc điểm của sữa tiệt trùng:
Quy trình công nghệ sản xuất sữa tiệt trùng cũng tương tự như quy trình sản xuất
sữa thanh trùng. Điểm khác biệt quan trọng là sản phẩm sữa tiệt trùng phải được qua xử
lý ở nhiệt độ rất cao (trên 100
o
C), nhờ đó mà toàn bộ hệ enzym và vi sinh vật trong sữa
bò vô hoạt.
Sữa tiệt trùng được bảo quản ở nhiệt độ phòng, thời gian bảo quản có thể kéo dài
từ 3 tháng tới 6 tháng. Hiện nay, để hạn chế những biến đổi gây ra trong quá trình tiệt
trùng sữa, người ta đã áp dụng chế độ tiệt trùng UHT (ultra high temperature) với nhiệt
độ tiệt trùng là135-140
o
C , thời gian vài giây. Do vậy sản phẩm sữa tiệt trùng UHT vẫn
giữ được những tính chất như sữa tươi đồng thời có độ an toàn vi sinh tăng cao, thời gian
bảo quản kéo dài.
Hình 1.3: Sữa chế biến tối thiểu
1.4.3 Sản phẩm chế biến tối thiểu từ rau quả
1.4.3.1. Các sản phẩm rau quả ngâm tẩm
Sản phẩm rau quả ngâm tẩm khác với các sản phẩm rau quả muối chua là không
diễn ra sự lên men lactic trong sản phẩm. Do vậy, những tính chất ban đầu của rau
quả tươi gần như được giữ nguyên.
Các tác nhân sử dụng để ngâm tẩm cùng rau quả là: giấm, nước muối loãng.
Chúng có tác dụng ức chế sự hoạt động của các vi sinh vật gây hư hỏng sản phẩm do
tạo do môi trường bảo quản có pH thấp (ngâm giấm) không thích hợp cho vi sinh vật
phát triển hoặc tạo môi trường có áp suất thẩm thấu cao (ngâm nước muối loãng) làm
co nguyên sinh chất của tế bào vi sinh vật. Do vậy, sản phẩm rau quả ngâm tẩm
thường có thời gian bảo quản dài hơn rau quả tươi.
SV: Võ Thò Thu Hằng - 9 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
Hình 1.4: Dưa chuột, ớt ngâm dấm Hình 1.5: Dưa chuột bao tử ngâm dấm
Hình 1.6: Củ kiệu, ngó sen ngâm dấm
Hình 1.7: Nấm mỡ ngâm nước muối
SV: Võ Thò Thu Hằng - 10 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
Hình 1.8: Ngô bao tử ngâm nước muối
SV: Võ Thò Thu Hằng - 11 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Chương 1 Giới thiệu chung về quá trình chế biến tối thiểu
1.4.3.2. Sản phẩm nước ép, puree rau quả tươi
Rau quả tươi sau khi xử lý loại bỏ những phần không ăn được sẽ được đem ép lấy
dòch hoặc đem chà lấy puree. Dòch quả sau ép hoặc puree sẽ được đem đi xử lý tiếp
tục như lọc trong, thanh trùng, đồng hoá, cũng có thể sử dụng kỹ thuật áp suất cao để
xử lý hoặc bổ sung thêm các chất bảo quản có nguồn gốc tự nhiên. Dòch quả và puree
sau xử lý được đem đóng gói và bảo quản lạnh. Sản phẩm nước ép hay puree rau quả
tươi có giá trò dinh dưỡng, giá trò cảm quan cao, bổ dưỡng và an toàn đối với người sử
dụng.
Hình 1.9: Nước ép kiwi Hình 1.10: Nước ép xoài Hình 1.11: Puree xoài
1.4.3.3 Rau quả fresh-cut, [8, 9]
USDA (U.S Deparment of Agriculture) và USFDA (U.S Food & Drug
Adminitration) đònh nghóa sản phẩm rau quả fresh-cut là sản phẩm được làm từ những
rau quả tươi đã được cắt, rửa, bao gói và bảo quản lạnh. Sản phẩm này vẫn giữ được
trạng thái tươi, có thể ăn liền hoặc có thể chế biến liền vàø không qua các quá trình
như lạnh đông, quá trình xử lý nhiệt và không sử dụng các hoá chất độc hại.
Theo Hội liên hiệp quốc tế các sản phẩm fresh-cut (The international fresh-cut
produce association) đònh nghóa sản phẩm rau quả fresh cut là sản phẩm được làm từ
những rau quả tươi được đem cắt, gọt bỏ những phần không ăn được, đem rửa và
được cắt thành những miếng nhỏ có thể sử dụng được 100% và đóng gói trong các
loại bao bì và các điều kiện đặc biệt như đóng gói trong khí quyển điều chỉnh (MAP.
Sản phẩm phải có giá trò dinh dưỡng cao, giữ được trạng thái tươi và tiện lợi cho
người sử dụng.
Loại sản phẩm này chiếm thò phần ngày càng tăng do có những ưu điểm sau:
- Sản phẩm còn giữ nguyên hương vò và cấu trúc của quả tươi.
- Giá trò dinh dưỡng cao.
- Thuận tiện cho việc sử dụng ở dạng ăn liền (ready to eat) và dễ dàng phân
phối vận chuyển
SV: Võ Thò Thu Hằng - 12 - GVHD: Thầy Lại Quốc Đạt
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét