Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Vai trò của lợi nhuận trong nền KTTT ở VN

tức phụ thuộc vào mức địa tô. Nh vậy William Petty đã cho rằng lợi
nhuận là khoản dôi ra so với chi phí sản xuất và William Petty cho
rằng phần lợi nhuận dôi ra phụ thuộc vào nhà t bản là hợp lý. Đó là
công lao về sự mạo hiểm của nhà t bản ứng tiền ra sản xuất.
b. AdamSmith (1723 - 1790)
Ông cho rằng lợi nhuận là khoản khấu trừ thứ hai vào sản phẩm
của ngời lao động, chúng đều có nguồn gốc là lao động không đợc trả
công của công nhân. Ông chỉ ra lợi tức là một bộ phận của lợi nhuận
mà nhà t bản hoạt động bằng tiền đi vay phải trả cho chủ nó để đợc sử
dụng t bản. Ông đã nhìn thấy xu hớng bình quân hoá tỉ suất lợi nhuận
và xu hớng tỉ suất lợi nhuận giảm sút do khối lợng t bản đầu t tăng lên.
Xuất phát từ sự phân tích giá trị hàng hoá do ngời công nhân tạo ra
AdamSmith thấy một thực tế là công nhân chỉ nhận đợc một phần tiền
lơng, phần còn lại địa tô và lợi nhuận của t bản. Theo ông địa tô là
khoản khấu trừ đầu tiên vào sản phẩm lao động. Về mặt lơng, nó là dôi
ra ngoài tiền lơng công nhân và lợi nhuận t bản. Về mặt chất, nó phản
ánh quan hệ bóc lột. Ông đã phân biệt địa tô và tiền tô. Theo ông địa tô
cộng với lợi tức t bản đầu tiên tự cải tạo đất bằng tiền tô. Điều này tiến
bộ hơn các học thuyết trớc đây. Tuy nhiên ông còn cho rằng sở dĩ nông
nghiệp có địa tô, vì lao động nông nghiệp có năng suất lao động cao
hơn công nghiệp và ông phủ nhận địa tô tuyệt đối. Ông cho rằng nếu
thừa nhận địa tô tuyệt đối là vi phạm qui luật giá trị.
c. David Ricardo
Nếu nh AdamSmith sống trong thời kỳ công trờng thủ công phát
triển mạnh mẽ thì David Ricardo sống trong thời kỳ cách mạng công
nghiệp. Đó là điều kiện khách quan để ông vợt đợc ngỡng giới hạn mà
AdamSmith dừng lại. Ông là ngời kế tục suất sắc của AdamSmith.
Theo CMác, AdamSmith là nhà kinh tế của thời kỳ công trờng thủ công
còn David Ricardo là nhà t tởng của thời đại cách mạng công nghiệp.
Ông còn sử dụng phơng pháp khoa học tự nhiên, sử dụng công cụ trừu
5
tợng hoá, đồng thời áp dụng các phơng pháp khoa học chính xác, đặc
biệt là phơng pháp suy diễn để nghiên cứu kinh tế chính trị học.
Về lợi nhuận, David Ricardo cho rằng: Lợi nhuận là số còn lại
ngoài tiền lơng mà nhà t bản trả cho công nhân. ông đã thấy xu hớng
giảm sút tỉ xuất lợi nhuận và giải thích nguyên nhân của sự giảm sút
nằm trong sự vận động, biến đổi thu nhập giữa ba giai cấp: Địa chủ,
công nhân và t bản. Ông cho rằng do qui luật màu mỡ đất đai ngày
càng giảm, giá cả nông phẩm tăng lên làm cho tiền lơng công nhân
tăng và địa tô tăng lên còn lợi nhuận không tăng. Nh vậy theo ông địa
chủ là ngời có lợi, công nhân không có lợi cũng không bị hại, còn phần
nhà t bản thì có hại vì tỉ suất lợi nhuận giảm xuống. Nhng hạn chế của
ông là không phân biệt đợc lợi nhuận và giá trị thặng d.
3. Quan điểm về lợi nhuận của Kene
Kene đợc CMác đánh giá là cha đẻ của kinh tế chính trị cổ điển
và ông có công lao to lớn trong lĩnh vực kinh tế. Khi phân tích phần th-
ởng cho sự gánh chị rủi ro nói chung. Chúng ta không tính tới các rủi
ro do vỡ nợ hay các rủi ro có bảo hiểm. Có một dạng rủi ro đặc biệt
phải lu ý là rủi ro đầu t không đợc bảo hiểm, nó phải đợc tính vào
trong quá trình tính toán lợi nhuận. Doanh thu của Công ty phụ thuộc
rất lớn vào thăng trầm trong chu kỳ kinh doanh. Do các nhà đầu t
không thích các trờng hợp rủi ro nên họ đòi hỏi phải có mức phí dự
phòng rủi ro cho những đầu t không chắc chắn nhằm bù đắp cho những
rủi ro của họ.
Lợi nhuận bằng doanh thu trừ đi chi phí. Lợi nhuận kinh doanh
đợc báo cáo chủ yếu là thu nhập Công ty.
4. Học thuyết của Mac-Anghen về lợi nhuận.(HT giá trị thặng
d )
Mác viết: Tôi là ngời đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của
lao động biểu hiện trong hàng hoá.
6
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị lao
động vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể
và lao động trừu tợng.
Lao động của ngời sản xuất hàng hoá nếu coi là sự hao phí sức
lực của con ngời nói chung, không kể hình thức cụ thể của nó nh thể
nào gọi là lao động trừu tợng.
Lao động bao giờ cũng là sự hao phí sức óc, sức thần kinh và bắp
thịt của con ngời. Nhng bản thân sự hao phí lao động về mặt sinh lý đó
cha phải là lao động trừu tợng. Chỉ trong xã hội có sản xuất hàng hoá
mới có sự cần thiết khách quan phải qui các lao động cụ thể khác nhau
vốn không thể so sánh đợc với nhau thành một thứ lao động đồng nhất
có thể so sánh với nhau đợc, tức là phải qui lao động cụ thể thành lao
động trừu tợng. Vì vậy, lao động trừu tợng là một phạm trù lịch sử. Lao
động trừu tợng nó tạo ra giá trị của hàng hoá.
Mác và Anghen cũng là ngời đầu tiên xây dựng lý luận về giá trị
thặng d một cách hoàn chỉnh vì vậy, lý luận giá trị thặng d đợc xem là
hòn đá tảng to lớn nhất trong toàn bộ học thuyết kinh tế của Mác. Qua
thực tế xã hội t bản lúc bấy giờ Mác thấy rằng giai cấp t bản thì ngày
càng giàu thêm còn giai cấp vô sản thì ngày càng nghèo khổ và ông đã
đi tìm hiểu nguyên nhân vì sao lại có hiện tợng này. Cuối cùng, ông đã
phát hiện ra rằng nếu t bản là T đa vào quá trình sản xuất và lu thông
hàng hoá thì số tiền thu về lớn hơn số tiền ứng ra. Ta gọi là T

(T

> T )
hay:
T

= T + T
CMác gọi T là giá trị thặng d. Ông cũng thấy rằng mục đích
của lu thông tiền tệ với t cách là t bản không phải là giá trị sử dụng mà
là giá trị. mục đích lu thông T - H - T

là sự lớn lên của giá trị, là giá
trị thặng d lên sự vận động T - H - T

là không có giới hạn. Công thức
này đợc Mác gọi là công thức chung của t bản.
Vậy giá trị thặng d (m) là phần giá trị mối dôi ra ngoài ra trị sức
lao động do công nhân tạo ra bị nhà t bản chiếm đoạt. Qua đó chúng ta
7
thấy t bản là giá trị đem lại giá trị thặng d bằng cách bóc lột công nhân
làm thuê.
Để nghiên cứu yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị thặng d trong quá
trình sản xuất của t bản thì CMác đã chia t bản ralàm hai bộ phận t bản
bất biến và t bản khả biến.
Bộ phận t bản tồn tại dới hình thái t liệu sản xuất mà giá trị đợc
bảo tồn và chuyển vào sản phẩm, tức là giá trị không biến đổi về lợng
trong quá trình sản xuất đợc CMác gọi là t bản bất biến ký hiệu là C.
Còn bộ phận t bản biểu hiện dới hình thức giá trị sức lao động
trong quá trình sản xuất đã tăng thêm về lợng gọi là t bản khả biến ký
hiệu là V.
Nh vậy, ta thấy muốn cho t bản khả biến hoạt động đợc phải có
một t bản bất biến đã đợc ứng trớc với tỉ lệ tơng đơng. Và qua sự phân
chia ta rút ra t bản khả biến tạo ra giá trị thặng d vì nó dùng để mua
sức lao động. Còn t bản bất biến thì có vai trò gián tiếp trong việc tạo
ra giá trị thặng d. Từ đây ta có thể kết luận: Giá trị của một hàng hoá
bằng giá trị t bản bất biến mà nó chứa đựng, cộng với sự tăng thêm t
bản bất biến đó (tức là giá trị thặng d đã đợc sản xuất ra). Nó đợc biểu
hiện bằng công thức:
Giá trị = C + V + m
Giá trị t liệu sản xuất chuyển vào sản phẩm C.
Giá trị sức lao động của ngời công nhân (mà nhà t bản trả cho
ngời công nhân) :V
Giá trị mới do ngời công nhân sáng tạo ra: V + m
Nh thế t bản bỏ ra một lợng t bản để tạo ra giá trị là C + V. Nhng
giá trị mà t bản thu vào là C + V + m. Phần m dôi ra là phần mà nhà t
bản bóc lột của ngời công nhân.
ở trên chúng ta đã nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng d. Nh-
ng muốn hiểu hơn về nó ta cần phải nghiên cứu bóc lột t bản về mặt l-
8
ợng. Các phạm trù tỷ suất giá trị thặng d và khối lợng giá trị thặng d
mà ta nghiên cứu sau đây sẽ biểu hiện về mặt lợng của sự bóc lột.
Tỷ suất giá trị thặng d là tỷ số giữa giá trị thặng d và t bản khả
biến. Ký hiệu là m ta có:
9
m =
m.100%
V
Tỷ suất giá trị thặng d vạch ra một cách chính xác trình độ bóc
lột công nhân. Thực chất đây là tỷ lệ phân chia ngày lao động thành
thời gian lao động cần thiết và thời gian lao động thặng d. Nhng nó
không biểu hiện lợng tuyệt đối của sự bóc lột tức là khối lợng giá trị
thặng d. Khối lợng giá trị thặng d là tích số giữa tỷ suất giá trị thặng d
với tổng t bản khả biến (V). Gọi M là giá trị thặng d thì:
M = mV =
m.V
V
M nói lên quy mô bóc lột của t bản.
Nhà t bản luôn tìm cách tạo ra giá trị thặng d nhiều nhất bằng
nhiều cách, bằng nhiều thủ đoạn. Trong đó Mác chỉ ra hai phơng pháp
mà chủ nghĩa t bản sử dụng đó là sản xuất giá trị thặng d tơng đối và
sản xuất giá trị thặng d tuyệt đối. Ngoài ra còn có phơng pháp sản xuất
giá trị thặng d siêu ngạch.
Mác đã chỉ ra trong những giai đoạn phát triển siêu ngạch chủ
nghĩa t bản, khi kỹ thuật còn thấp hay tiến bộ chậm thì việc tăng giá trị
thặng d tuyệt đối bằng cách kéo daì tuyệt đối ngày lao động trong điều
kiện thời gian lao động cần thiết hay không thay đổi. Nhng phơng
pháp này còn có hạn chế về thời gian, về thể chất và tinh thần của ngời
công nhân. Sự bóc lột này đã dẫn đến nhiều cuộc bãi công, đấu tranh
của các nghiệp đoàn. Mặt khác đến giai đoạn phát triển sản xuất bằng
cơ khí, khi mà kỹ thuật phát triển cao có thể làm cho năng suất lao
động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà t bản dựa vào tăng năng suất
lao động để tăng giá trị thặng d và nâng cao trình độ bóc lột.
Nhà t bản sản xuất ngày càng tăng giá trị thặng d bằng cách rút
ngắn thời gian lao động cần thiết do đó kéo dài tơng ứng thời gian lao
động thặng d trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Phơng
10
pháp này gọi là phơng pháp sản xuất giá trị thặng d tơng đối, phơng
pháp này không có giới hạn.
Quá trình sản xuất ra giá trị thặng d chỉ là sự hiểu hiện qua sảu
phẩm còn thực tế để thu đợc tiền thì sự chuyển hoá đó phải nh thế nào.
Vì công thức chung của chủ nghĩa t bản là T - H - T nên mục đích
cuối cùng của nhà t bản là thu đợc T còn giá trị thặng d chỉ là nền
tảng để thu đợc T (T > T). Mác đã giúp ta giải quyếtvấn đề này vì ông
đã tìm ra một đại lợng biểu hiện giá trị thặng d đó là lợi nhuận (P).
Vậy:
Các giá trị thặng d khi đợc đem so sánh với tổng t bản ứng trớc
thì mang hình thức biến tớng thành lợi nhuận. Từ đó có thể thấy P
chính là con đẻ của tổng t bản ứng trớc: C+V
Để hiểu rõ hơn về lợi nhuận chúng ta có thể đi sâu vào phân tích
chi phí thực tế xã hội và chi phí sản xuất t bản chủ xuất phát từ giá trị
hàng hoá: C+V+m.
Muốn sản xuất hàng hoá phải chi phí một lao động nhất định bao
gồm chi phí cho mua t liệu sản xuất C gọi là lao động quá khứ và lao
động tạo ra giá trị mới (V+m). Đứng trên quan điểm toàn xã hội, quan
điểm của ngời lao động thì chi phí đó là chi phí thực tế để tạo ra giá trị
hàng hoá (C+V+m). Nhng đối với nhà t bản thì họ không hao phí lao
động để sản xuất ra hàng hoá nên là t bản chỉ xem hết bao nhiêu t bản
chứ không tính xem chi phí hết bao nhiêu lao động cần thiết. Thực tế
họ chỉ ứng ra sờ t bản để mua t liệu sản xuất (C) và mua sức lao động
(V). Chi phí đó đợc Mác gọi là chi phí t bản chủ nghĩa và ký hiệu là
k(k= c + v). Nh vậy chi phí t bản chủ nghĩa luôn nhỏ hơn chi phí thực
tế. Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa có sự
chênh lệch nhau một lợng đúng bằng m. Do đó nhà t bản bán hàng hoá
sẽ thu về một phần lời đúng bằng giá trị thặng d m, số tiền này gọi là
lợi nhuận.
Giá trị hàng hoá lúc này bằng chi phí sản xuất t bản chủ nghĩa
cộng với lợi nhuận.
11
Giá trị = k + P
Về mặt lợng P có nguồn gốc là kết quả lao động không công của
công nhân làm thuê.
Tỷ suất lợi nhuận (P) là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị
thặng d và toàn bộ t bản ứng trớc.
P =
m.100%
C + V
Tỷ suất lợi nhuận không phản ánh trình độ bóc lột của nhà t bản
mà nó nói lên mức lãi của việc đầu t. Nó cho nhà t bản biết họ đầu t
vào đâu thì có lợi. Do đó việc thu lợi nhuận - P và theo đuổi tỷ suất lợi
nhuận - P là động lực thúc đẩy nhà t bản, là mục tiêu cạnh tranh của
các nhà t bản.
Do mục tiêu đạt đợc lợi nhuận cao nhất nên giữa các nhà t bản
luôn luôn diễn ra sự cạnh tranh gay gắt. Các quá trình cạnh tranh của
nhà t bản đợc Mác phân chia thành hai loại: Cạnh tranh nội bộ ngành
và cạnh tranh giữa các ngành.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí
nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá
nhằm mục đích tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.
Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các nhà t bản ở các
ngành sản xuất khác nhau nhằm tìm nơi đầu t có lợi hơn. ở các ngành
khác nhau, sản xuất khác nhau do đó có những điều kiện khác nhau, tỷ
suất lợi nhuận khác nhau. Các nhà sản xuất chọn những điều kiện sản
xuất có lợi cho mình nhất để thu đợc nhiều lợi nhuận, các nhà t bản thì
tìm nơi để đầu t thu đợc lợi nhuận cao nhất đối với họ. C.Mác viết: Do
ảnh hởng của cạnh tranh những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san
bằng đi thành một tỷ suất lợi nhuận chung, đó là con số bình quân của
tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận của một t bản có
một lợng nhất định thu đợc, theo tỷ suất lợi nhuận chung đó, không kể
cấu tạo hiện có nh thế nào gọi là lợi nhuận bình quân.
12
Quá trình bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận là sự hoạt động của
quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản. Sự hoạt động
của quy luật tỷ suất lợi nhuận bình quân trong xã hội t bản biểu hiện
bởi sự hoạt động của quy luật giá trị thặng d trong thời kỳ tự do cạnh
tranh của chủ nghĩa t bản.
Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân
đã che dấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa t bản. Sự hình
thành P và P không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội t
bản, trái lại cạnh tranh vẫn tiếp diễn.
Sự chuyển hoá từ giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất là sự che
dấu quan hệ sản xuất t bản chủ nghĩa của phạm trù sản xuất.
Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân ta thấy một
bộ phận hàng hoá đợc bán cao hơn giá trị của chúng, còn bộ phận khác
lại bán thấp hơn giá trị của chúng cũng theo một tỷ lệ nh thế. Chỉ có
bán hàng hoá theo những giá cả đó thì tỷ suất lợi nhuận trong các công
ty mới có thể đồng nhất và ngang với nhau, dù cấu thành hữu cơ của
các nhà t bản đều khác nhau. Những giá cả có đợc bằng cách lấy chi
phí sản xuất của hàng hoá cộng với lợi nhuận bình quân gọi là giá cả
sản xuất.
Vậy: Giá cả sản xuất = k +
P
Trớc đây khi cha xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả
xoay quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây giá cả của hàng hoá xoay quanh
giá cả sản xuất. Về mặt lợng, giá cả sản xuất và giá trị có thể không
bằng nhau. Chính trong mối quan hệ này, giá trị vẫn là cơ sở, là nội
dung bên trong của giá cả sản xuất, giá cả thị trờng.
Nh vậy lợi nhuận đợc tạo ra từ sản xuất , giờ ta sẽ xét đến các
hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
II - Các hình thức chuyển hoá của lợi nhuận.
13
Lợi nhuận đợc chuyển hoá thành: lợi nhuận công nghiệp, lợi
nhuận thơng nghiệp,lợi tức và tỷ suất lợi tức, lợi nhuận ngân hàng địa
tô, lợi nhuận độc quyền.
1. Lợi nhuận công nghiệp
trong công nghiệp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho thị trờng
các nhà sản xuất phải bỏ tiền vốn trong quá trình sản xuất và kinh
doanh, họ muốn chi phí cho các đầu vào ít nhất và bán hàng hoá với
giá cao nhất để khi trừ đi các chi phí còn số d dôi để không chỉ sản
xuất giản đơn mà còn tài sản xuất mở rộng không ngừng tích luỹ phát
triển, sản xuất, củng cố và tăng cờng vị trí của mình trên thị trờng. Lợi
nhuận ở đây chính là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi
phí. Cần tối đa hoá lợi nhuận hoặc cực tiểu hoá chi phí sản xuất là
hành vi làm tăng lợi nhuận hoặc giảm chi phí sản xuất, tức là phải làm
gì để đạt đợc lợi nhuận cực đại cho doanh nghiệp. Tổng doanh thu của
doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp kiềm chế đợc nhờ bán hàng
hoá,dịch vụ trong một thời kỳ nhất định. Trong tổng doanh thu đó có
một phần lợi nhuận kiếm đợc. Và quá trình bán này cũng đợc t bản
công nghiệp chia một phần lợi nhuận đó, một phần này gọi là lợi nhuận
thơng nghiệp.
2. Lợi nhuận thơng nghiệp
Chúng ta đã đề cập đến quan điểm của chủ nghĩa trọng thơng ở
đó họ cho rằng lợi nhuận là kết quả của sự trao đổi không ngang giá.
Họ coi trọng thơng nghiệp là sự lừa gạt không một ngời nào thu đợc
lợi mà không làm thiệt kẻ khác. Quan điểm này hoàn toàn sai lầm và
nguyên nhân của sự sai lầm này là do họ tách rời quá trình lu thông và
quá trình sản xuất ra khỏi nhau.
Khác với t bản thơng nghiệp trớc, chủ nghĩa t bản thơng nghiệp
hiện đại thì t bản thơng nghiệp là một bộ phận của t bản công nghiệp
tách rời ra phục vụ quá trình lu thông hàng hoá của t bản công nghiệp.
T bản thơng nghiệp chỉ hạn chế ở chức năng mua và bán, nó không
sáng tạo ra giá trị và giá trị thặng d. Nó chỉ làm nhiệm vụ thực hiện giá
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét