Thứ Bảy, 8 tháng 2, 2014

Thực trạng và giải pháp công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của việt nam

Theo cách hiểu truyền thống trớc đây đồng nhất kỹ thuật với thiết bị
không lu ý với lý thuyết vận hành, tay nghề của công nhân, nâng lực tổ chức
quản lý hoạt động sản xuất. Do vậy hiện nay thuật ngữ công nghệ thờng đ-
ợc sử dụng thay cho thuật ngữ kỹ thuật Việc hiểu nội dung công nghệ nh
vậy đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay khi công nghệ
thực sự trở thành nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên
thi trờng trong nớc cũng nh quốc tế, khi tỷ lệ phần mểm trong các hệ thống có
vị trí quan trọng. Bởi vậy việc xem các khía cạnh công nghệ trong quá trình
lựa chon chiến lợc phát triển kinh tế_xã hội đã trở thành nhu cầu cấp thiết của
các nớc, đặc biệt là các nớc đang phát triển, đi sau về công nghệ nhng muốn
đạt đợc tốc độ tăng trởng nhanh và vững chắc,
Khác với khoa học, các giải pháp kỹ thuật của công nghệ đóng góp trực
tiếp vào sản xuất và đời sống nên nó đợc sự bảo hộ của nhà nớc dới hình thức
sở hữu công nghiệp và do đó nó là thứ hàng hoá để mua bán.
3.Vai trò của công nghệ trong sản xuất kinh doanh.
Công nghệ là một yếu tố cấu thành cơ sở vật chất, tạo nên điều kiện tồn
tại và phát triển của doanh nghiệp. Đặc biệt , công nghệ ảnh hởng trực tiếp và
quyết định tới khả năng sản xuất sản phẩm ngày càng đa dạng, phong phú để
thoả mãn những nhu cầu phát triển của xã hội. không có sự phát triển của công
nghệ đặc biệt là những công nghệ mới, công nghệ có hàm lợng chất xám cao
không thể đa dạng hoá sản xuất và cung cấp cho thị trờng nhiều sản phẩm có
ảnh hởng quyết định tới nền sản xuất và đời sống xã hội hiện đại. Nhiều sản
phẩm mới chỉ có thể đợc sản xuất nhờ tiến bộ công nghệ, đặc biệt những công
nghệ cao mới thiết kế và đợc đa vào sử dụng. Hơn nữa, trong nhiều trờng hợp,
những điều kiện sản xuất mới đòi hỏi phải có những công nghệ phù hợp.
Chẳng hạn, trong điều kiện đặc biệt độc hại những nơi con ngời không thể
hoạt động đợc nhng lại rất cần tiến hành: làm việc dới độ sâu lớn ở những nơi
5
có cờng độ phóng xạ cao cần có những công nghệ thiết kế riêng thích ứng với
những đặc biệt của môi trờng hoạt động.
Công nghệ là nhân tố ảnh hởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp. Tác động này thể hiện ở chỗ nhờ công nghệ và tiến bộ công
nghệ mà chất lợng sản phẩm đợc duy trì và nâng cao, chi phí sản xuất đợc tiết
kiệm một cách tơng đối để giá thành sản phẩm đợc giảm bớt, sản phẩm mới có
tính năng, công dụng tốt hơn có thể đợc thiết kế và đa vào sản xuất, tiêu
dùng Hơn nữa trong điều kiện hiện nay, công nghệ đẫ dần dần trở thành một
yếu tố sản xuất trực tiếp. Chính vì vậy các doanh nghiệp đều cố gắng đầu t
với quy mô ngày càng tăng vào công nghệ để tạo ra sự phát triển nhanh chóng
của công nghệ, việc đối mới công nghệ chậm hơn đối thủ cạnh tranh chính là
nguyên nhân tụt hậu của doanh nghiệp.
Công nghệ tác động mạnh mẽ tới việc tạo lập một hình ảnh cho doanh
nghiệp. Những doanh nghiệp dổi mới công nghệ và sản phẩm một cach nhanh
chóng, liên tục có thể đợc sự tin tởng của khách hàng, nhờ vậy họ dễ tạo lập
củng cố uy tín cho mình và từ đó tạo lập một hình ảnh thuận lợi trong cạnh
trạnh. Điều này cũng bắt nguồn từ chỗ ngời tiêu dùng và khách hàng liên tục
có những đòi hỏi về việc đáp ứng nhu cầu mới của họ, đáp ứng tốt hơn, đáng
tin cậy hơn những nhu cầu vốn có của họ trong những điều kiện có nhiều thay
đổi.
Công nghệ là nhân tố ảnh hởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của
mỗi doanh nghiệp. Điều này có thể thực hiện đợc nhờ việc áp dụng công nghệ
mới hoặc cải tiến các công nghệ truyền thống, cho phép sử dụng tiết kiệm các
nguôn lực cho sản xuất, sử dụng nguyên vật liệu rẻ tiền, dễ kiếm thay thế cho
các loại vật t quý, hiếm hoặc sử dụng những phơng pháp và phơng tiện có
năng suất cao hơn, ổn định hơn. Nếu thể hiện tác động của các yếu tố và điều
kiện sản xuất tới kết quả sản xuất dới dạng hàm sản xuất, ta có:
Y=f(l,c,m,a)=Al

C

M

(trong đó Y là tổng đầu ra. L là tổng đầu vào nhân lực,
6
C là vốn, M là đầu vào vật chất và A là thể hiện tác động tổng hợp của các
nhân tố tổ chức ,công nghệ ) thì có thể thấy công nghệ có tác động trực tiếp tới
kết quả sản xuất, kinh doanh(qua hệ số A)và tác động gián tiếp tới nó cũng nh
tới hiệu quả của nó thông qua tác động vào các yếu tố L, C, M và tơng quan
giữa chúng. Do đó, có thể thấy rằng tiến bộ công nghệ và việc ứng dụng chúng
sẽ làm tăng kết quả sản xuất Y thông qua các giải pháp: Tăng A( gia tăng tác
động tổng hợp của công nghệ tới sản xuất kinh doanh), tăng các hệ số ,,.
Nh vậy, tiến bộ khoa học_ công nghệ và việc ứng dụng chúng vào sản xuất
không chỉ làm tăng năng suất, tăng hiệu quả theo cấp số cộng, mà là theo cấp
số nhân.
II.Đổi mới công nghệ.
1.Khái niệm và thực chất của đổi mới công nghệ
Thay đổi công nghệ là một nhân tố quan trọng nhất chi phối nền kinh tế
hiện đại làm cho nền kinh tế trở nên năng động. Nó kích thích sự tăng trởng,
nâng cao năng suất lao động tạo ra nhiều lợi nhuận, tạo ra công ăn việc làm và
góp phần giải quyết các vấn đề kinh tế xã hội. Gần một nửa thu nhập thực tế
có đợc là do tiến bộ công nghệ tạo ra. Đổi mới công nghệ là ứng dụng thơng
mại đầu tiên của một phát minh. Nó phải chắt lọc t tởng cơ bản từ các nguyên
lý khoa học hoặc các giải pháp kỹ thuật đã đợc biết để chế thử các mẫu đầu
tiên, phát triển, sản xuất và thử nghiệm việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trờng.
Ngày nay, do công nghệ luôn biến đổi trong chu kỳ sống của nó, trong
mỗi giai đoạn nhất định, một công nghệ có thể phù hợp với thị trờng nghĩa là
sản phẩm do nó sản xuất có thể tồn tại trên thị trờng, nhng đến một giai đoạn
nào đó thì công nghệ không còn phù hợp nữa. Do đó đổi mới công nghệ là một
nhu cầu tất yếu và phù hợp với quy luật phát triển.
Đổi mới công nghệ là sự chủ động thay thế một phần ( cốt lõi, cơ bản)
hay toàn bộ công nghệ đang sử dụng bằng công nghệ khác.
7
Muốn đổi mới công nghệ tốt thì phải xác định rõ mục tiêu và hoàn
cảnh. Đổi mới công nghệ phải chú ý ba khía cạnh quan trọng nhất của xã hội,
đó là: nhu cầu xã hội, các nguồn lực và đặc thù tình cảm xã hội.
Trớc hết phải xem xét nhu cầu của xã hội không chỉ về công nghệ mà
còn về sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra. Bất kỳ một công nghệ nào đợc
đổi mới đều phải có đủ nhu cầu để thực hiện, nhu cầu đó tạo ra lợi ích sau này
cho công nghệ , nó phải lớn hơn chi phí tạo ra để chế tạo ra công nghệ đó. Các
nguồn lực xã hội cũng có ý nghĩa đối việc áp dụng công nghệ thành công.
Một công nghệ cần có đủ các nguồn lực- vốn, vật t và con ngời có trình độ để
thực hiện. Điều này nói lên rằng, xã hội có đủ nguồn vốn để có thể đa sản
phẩm công nghệ ra thị trờng hay không, nó có thể đợc áp dụng từ một phạm
vi nhỏ đến phạm vi lớn hay không, trình độ con ngời có thể áp dụng công nghệ
hay không, khi áp dụng với phạm vi rộng rãi thì việc áp dụng đào tạo ngời sử
dụng sẽ nh thế nào, đồng thời có thể đa các nguồn lực sẵn có trong xã hội để
cho các công nghệ mới sử dụng hay không.
Đặc thù tình cảm của xã hội muốn nói nên rằng xã hội đó có tiếp nhận
các ý tởng mới hay không, một môi trờng mà các nhóm ngời sẵn sàng xem xét
việc áp dụng một cách nghiêm túc , khách quan, lấy hiệu quả làm tiêu chuẩn
hàng đầu. Nếu tình cảm xã hội có xu hớng tốt sẽ tạo điều kiện cho hoạt động
đổi mới công nghệ thuận lợi và ngợc lại.
2. Các giai đoạn đổi mới công nghệ
Đổi mới công nghệ có thể tiến hành bằng nhiều cách: từ nguồn công
nghệ trong nớc, cũng có thể từ nguồn công nghệ nhập từ nớc ngoài. Nhng nhìn
chung đổi mới công nghệ gồm một số giai đoạn nh sau:
Giai đoạn1:Nhập công nghệ để thoả mãn nhu cầu tối thiểu
Giai đoạn 2: Tổ chức cơ sở hạ tầng kinh tế ở mức tối thiểu để tiếp thu
công nghệ nhập.
8
Giai đoạn 3: Tạo nguồn công nghệ từ nớc ngoài thông qua lắp ráp
(SKD, CKD và IKD)
Giai đoạn 4: Phát triển công nghệ nhờ lixăng.
Giai đoạn 5: Đổi mới công nghệ nhờ nghiên cứu và triển khai, thích ứng
công nghệ nhập, cải tiến cho phù hợp
Giai đoạn 6: Xây dựng tiềm lực công nghệ để xuất khẩu công nghệ trên
cơ sở nghiên cứu và triển khai
Giai đoạn 7: Liên tục đổi mới công nghệ dựa trên đầu t cao về nghiên
cứu cơ bản.
Tuy nhiên dới góc độ xem xét của đề tài, việc nghiên cứu đổi mới công
nghệ chủ yếu tập trung đề cập đến hoạt động đổi mới công nghệ trong các
doanh ng nghiệp nghiệp sản xuất _kinh doanh
3. Các hình thức đổi mới công nghệ.
Theo Frederecl Betz có bốn hình thức đổi mới công nghệ sau:
Đổi mới căn bản
Đổi mới dần dần
Đổi mới có hệ thống
Đổi mới công nghệ thế hệ sau
3.1 Đổi mới căn bản
Đổi mới căn bản tạo ra nguồn lực chức năng hoàn toàn mới không phải
là sự kế tục năng lực công nghệ hiện tại. Chức năng mới đa lại các cơ hội cho
các hãng kinh doanh mới và thậm chí còn tạo ra các nghành mới. Ví dụ, về đổi
mới căn bản nh là bóng điện tử chân không, biến thế, bán dẫn, máy tính laser.
Đổi mới căn bản bắt đầu từ kiến thức mới nhất về khoa học. Trong đổi
mới căn bản có mối quan hệ trực tiếp giữa việc các nhà khoa học kiểm nghiệm
các hiện tợng khoa học mới nh thế nào và việc các nhà đầu t tạo ra công nghệ
mới dựa trên các hiện tợng khoa học mới nh thế nào. Các công cụ của khoa
học thờng trở thành các thiết bị của công nghệ mới. Vì vậy, thờng thờng trong
9
đổi mới công nghệ căn bản có sự chuyển giao trực tiếp kiến thức và kỹ thuật
đến công nghệ.
Logic của quá trình đổi mới căn bản còn chỉ ra rằng chúng ta không thể
phân biệt một cách đơn giản giữa nghiên cứu kỹ thuật, nghiên cứu công nghệ
và phát triển sản phẩm nếu nh chúng ta không tính tới quyền sở hữu trí tuệ của
việc nghiên cứu. Trong thiết kế sản phẩm thông tin về thiết kế sản phẩm, quy
trình sản xuất là những tài liệu độc quyền rất quan trọng đối với việc thiết kế,
sản phẩm cụ thể tạo ra sự khác biệt về cạnh tranh giữa các hãng.
3.2. Đổi mới dần dần.
Đổi mới dần dần làm tăng khả năng chức năng của công nghệ hiện có
thông qua việc cải tiến hoạt đôngj, độ an toàn, chất lợng sản phẩm và hạ thấp
chi phí.
Logic của quá trình đổi mới dần dần khác hẳn với logic của quá trình
đổi mới căn bản đi trực tiếp từ khoa học đến công nghệ. Quá trình đổi mới dù
diễn ra nh thế nào thì dần dần cùng xoay quanh công nghệ và sản phẩm. Qúa
trình đổi mới này gồm 5 bớc:
Dự đoán công nghệ.
Có đợc công nghệ.
Thực hiện công nghệ
Khai thác công nghệ
Khuyến khích công nghệ
Về cơ bản, 5 bớc tiến diễn ra một cách tuần tự đổi với mỗi công nghệ.
Tuy nhiên, trong doanh nghiệp thờng có nhiều công nghệ liên quan với nhau,
các hoạt động của mỗi bớc thuộc những công nghệ khác nhau có thể đan xen
vào nhau. Điều cần thiết trớc tiên là phải dự đoán dợc sự thay đổi công nghệ
sao cho để có thời gian chuẩn bị tận dụng u biệt của nó. Tiếp theo là có đợc
công nghệ mới để sử dụng cho hãng và biến công nghệ đó thành các sản phẩm
mới, quy trình mới hoặc dịch vụ mới. Giai đoạn tiếp theo là khai thác về mặt
10
thơng mại công nghệ mới thông qua việc đa ra các các sản phẩm mới với chất
lợng và giá cả u việt. Kinh nghiệm của ngời tiêu dùng với các sản phẩm mới sẽ
đa ra các yêu cầu mới đòi hỏi công nghệ mới hơn. Quá trình đổi mới mang
tính chất chu kỳ này đợc thực hiện bằng việc liên tục hoàn thiện công nghệ để
nâng cao giá trị sử dụng, nâng cao tính hữu ích của sản phẩm cho ngời tiêu
dùng.
3.3 Đổi mới một cách có hệ thống.
Đổi mới công nghệ một cách có hệ thống là đổi mới căn bản tạo ra khả
năng chức năng mới dựa trên cơ sở cấu trúc lại các công nghệ hiện có. Ví dụ
nh đổi mới có hệ thông trong nghành xe hơi là sự kết hợp khả năng vận
chuyển hiện có với công nghệ xe hai bánh và công nghệ có động cơ chạy bằng
xăng.
Đối với hình thức này, việc đổi mới công nghệ thờng đợc hoạch định
theo những chơng trình dài hạn. Trong các chơng trình này, các hoạt động đổi
mới công nghệ đợc tổ chức và sắp xếp theo ý đồ của tổ chức tiến hành đổi mới
công nghệ. Mỗi hoạt động hoặc nhóm hoạt động đổi mới công nghệ đợc liên
kết với các hoạt động trớc và sau nó
3.4 Đổi mới công nghệ thế hệ sau
Những đổi mới dần dần bên trong một hệ thống vẫn có thể tạo ra thế hệ
kỹ thuật mới của một hệ thống thế hệ ở đây đợc hiểu là một trình độ công
nghệ mới dựa trên những nền tảng trí thức mới với một hệ thống các nguyên lý
mới so với những gì đã có. Kiểu đổi mới nh vậy vẫn thuộc loại đổi mới một
cách có hệ thống nhng nó không phải đỏi mới căn bản đổi mới mang tinh chất
hệ thống có tính toàn diện cũng đợc gọi là đổi mới công nghệ thế hệ sau.
4. Vai trò của đổi mới công nghệ.
Đối với việc tạo lập môi trờng kinh doanh, công nghệ và tiến bộ công
nghệ vừa có vai trò, ảnh hởng trực tiếp, vừa có ảnh hởng gián tiếp. Vai trò này
thể hiện trên các mặt sau:
11
Đổi mới công nghệ là 1 tiến bộ công nghệ cho phép khai thác đợc
những lợi thế, những loại tài nguyên mà trớc đó cha thể khai thác đợc. Điều
này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các loại tài nguyên có trữ lợng nhỏ,
có điều kiện bất lợi cho việc thăm dò, khai thác hoặc chế biến. Chẳng hạn, với
các công nghệ và phơng tiện kỹ thuật truyền thống, không thể đặt vấn đề khai
thác những mỏ than nằm ở độ sâu lớn. Nhng nhờ phơng pháp khí hoá than,
chuyển hoá than thành khí mônôxycacbon, ngời ta có thể khai thác dễ dàng và
có hiệu quả những mỏ than ở độ sâu vài trăm mét, thậm chí chỉ với trữ lợng rất
thấp. Hoặc nhờ công nghệ chụp ảnh đa phổ diện rộng, ngời ta có thể tiến hành
điều tra tài nguyên đối với tất cả các vùng lãnh thổ, bất kể địa hình phức tạp,
khó khăn nh thế nào.
Nhờ tiến bộ công nghệ, những lĩnh vực kinh doanh mới đợc hình thành.
Chính nhờ những sáng chế và phát minh trong lĩnh vực điện tử và các công
nghệ dựa trên các phát minh này mà công nghiệp điện tử đợc hình thành và
phát triển. Cũng nhờ kỹ nghệ tin học phát triển mà có các hoạt động thơng mại
điện tử. Hệ thống giáo dục, đào tạo cũng có sự thay đổi cơ bản không chỉ về
nội dung mà cả về hình thức và tổ chức nhờ sự tiến bộ của công nghệ thông tin
vf các thiết bị nghe-nhìn. Ngay trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, tiến bộ
trong công nghệ thông tin giúp hình thành mạng lới toàn cầu, làm thị trờng tài
chính quốc tế hoạt động liên tục, không gián đoạn. Tơng tự, chúng góp phần to
lớn vào việc đa quảng cáo thành một ngành kinh tế chiếm tỷ trọng ngày càng
cao trong nền kinh tế của nhiều nớc.
Công nghệ cho phép mở rộng và nâng cấp hệ thống cơ sở vật chất- kỹ
thuật cũng nh cơ sở hạ tầng xã hội. Hệ thống này là những điều kiện không thể
thiếu cho các hoạt động chung của cộng đồng. Việc mở rộng và nâng cấp
chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh cũng nh cho toàn xã
hội nói chung. Hơn nữa, với những công nghệ mới và cải tiến ngời ta có thể
quản lý, khai thác một cách triệt để, có hiệu quả hơn cơ sở hạ tầng sẵn có.
12
Điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng bởi không chỉ ở Việt Nam, mà cả ở
nhiều nớc khác, nhiều công trình thuộc cơ sở hạ tầng không đợc khai thác và
sử dụng một cách triệt để do thiếu phơng tiện, phơng pháp thích hợp để theo
dõi, quản lý và điều hành quá trình sử dụng chúng.
Tiến bộ công nghệ, thông qua việc tạo ra sự bình đẳng trong tiếp cận
thông tin, thúc đẩy mạnh mẽ việc hình thành một môi trờng kinh tế-xã hội
bình đẳng cho tất cả các yếu tố cấu thành. Một mặt, có thể đảm bảo sự tham
gia của cả cộng đồng vào việc hình thành hệ thống luật lệ tạo nên môi trờng.
Mặt khác, những bất hợp lý tạo ra sự bất bình đẳng nhanh chóng đợc phát hiện
để có thể sửa chữa kịp thời.
Vai trò của khoa học-công nghệ đợc đánh giá cao đến mức gần đây,
trong một hội nghị bàn về khái niệm về nền kinh tế mới của Mỹ, cựu tổng
thống Clinton định nghĩa nền kinh tế mới là sức mạnh của khoa học công nghệ
với những ý tởng mạnh dạn và đổi mới trong hệ thống kinh doanh đặc thù của
Hoa Kỳ, những ngành công nghiệp truyền thống của họ làm tăng thêm sức
mạnh của các công ty, doanh nghiệp.
5. Các nhân tố ảnh hởng tới đổi mới công nghệ
Quá trình đổi mới công nghệ chịu tác động của nhiều nhân tố tác động
khác nhau. Ba nhân tố quan trọng nhất là quy mô của doanh nghiệp, thị trờng
và cơ cấu thị trờng chính sách công cộng và chính sách khoa học-công nghệ
(đặc biệt là đổi mới công nghệ). Mỗi nhân tố đều có những tác động thuận lợi
lẫn bất lợi cho quá trình đổi mới công nghệ và chúng cũng có tác động qua lại
với nhau. Những nhân tố cơ bản này cũng có thể là nguyên nhân phát sinh
nhiều nhân tố cụ thể khác trực tiếp tác động tới quá trình đổi mới một công
nghệ cụ thể.
5.1 Quy mô của doanh nghiệp và đổi mới công nghệ.
13
Nhiều nhà kinh tế đã cho rằng quy mô của doanh nghiệp càng lớn, công
nghệ càng tiên tiến thì khả năng đổi mới công nghệ cũng càng cao hơn so với
các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Trên thực tế có nhiều dự án nghiên cứu đòi hỏi số lợng vốn lớn nhng
cũng nhiều dự án không đòi hỏi số vốn lớn. Các hãng có quy mô nhỏ có thể
tiến hành các dự án đổi mới công nghệ với số ít hơn các hãng lớn mà vẫn có
hiệu quả. Hiện nay, nhờ sự trợ giúp của máy tính và mạng Internet, các cơ sở
nghiên cứu có quy mô nhỏ có thể khai thác năng lực d thừa các máy tính ở các
cơ sở khác, từ đó giải quyết đợc nhiều vấn đề phức tạp một cách có hiệu quả
và không cần có đầu t lớn. Có lập luận cho rằng nghiên cứu và phát triển là các
hoạt động sáng tạo, các doanh nghiệp lớn nhiều khi quan liêu và hoạt động
kém hiệu quả hơn nên khó có thể khuyến khích hoạt động sáng tạo. Song song
với hai quan niệm trên, còn có quan niệm khác cho rằng các hoạt động đổi
mới công nghệ thực ra không phụ thuộc vào chi phí và phạm vi của các phát
minh và nhu cầu cũng nh sức ép đối với đổi mới công nghệ. Hơn nữa, tính chất
và mức độ cạnh tranh trong nghành cũng là một sức ép rất cơ bản và quan
trọng đối với việc đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong nghành.
Nhìn chung, những số liệu thống kê do chính các doanh nghiệp cung
cấp và các công trình nghiên cứu độc lập khác cũng cho thấy rằng giữa quy
mô hãng và đổi mới công nghệ có mối quan hệ tỷ lệ thuận với nhau.
5.2 Cơ cấu thị trờng và đổi mới công nghệ.
Nói đến cơ cấu thị trờng và đổi mới công nghệ, ngời ta cần nhắc nhiều
hơn đến vấn đề đối thủ cạnh tranh. Quan điểm của các nhà kinh tế trớc đây
cho rằng càng độc quyền càng có điều kiện để đổi mới công nghệ doanh
nghiệp tham gia vào nghiên cứu và phát triển. Tuy vậy so với vấn đề quy mô
thì quyền lực thị trờng là phạm trù khó đo và đánh giá đợc một cách chính xác.
Vì vậy ngời ta có thể đánh giá ảnh hởng của cơ cấu thị trờng đến đổi mới công
nghệ thông qua việc xem xét ảnh hởng của nó dới những góc độ khác nhau, ví
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét