Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Thực trạng triển khai chế độ trợ cấp ốm đau tại BHXH giai đoạn 2005-2009

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
căng thẳng, làm cho sản xuất bị đình đốn gây thiệt hại cho cả hai giới. Vì vậy, BHXH
ra đời và phát triển là tất yếu khách quan của xã hội.
Mối quan hệ giữa các bên tham gia bảo hiểm là mối quan hệ kinh tế xã hội
phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động và quan hệ trong quản lí xã hội. Mối quan hệ
dựa trên cơ sở lao động chính là người lao động với người chủ sử dụng lao động,
người lao động với Nhà nước. Còn mối quan hệ quản lý là quan hệ giữa Nhà nước
với cơ quan BHXH, Nhà nước với chủ sử dụng lao động. Cụ thể các mối quan hệ
diễn ra giữa ba bên: bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH.
Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động và Nhà nước hoặc cả người
lao động, người chủ sử dụng lao động và Nhà nước. Trong đó, người lao động và
người sử dụng lao động là chủ yếu, bởi vì họ là những chủ thể quản lý trong cả quan
hệ lao động và quan hệ xã hội.
Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do
Nhà nước lập ra và bảo trợ. Cơ quan này được tổ chức và hoạt động theo khuôn khổ
pháp luật của từng nước.
Bên được BHXH chính là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều
kiện ràng buộc cần thiết để hưởng các chế độ BHXH.
Cơ sở chủ yếu của các mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH là quỹ tài
chính BHXH, vì nguồn quỹ này do cả ba bên đóng góp. Mức đóng góp của mỗi bên
để hình thành quỹ và sử dụng quỹ đều được ba bên quyết định trước khi được luật
hóa, mức đóng này phụ thuộc vào tình hình kinh tế - xã hội của mỗi nước.
Nếu đứng trên quan điểm xã hội, BHXH là quá trình sử dụng một phần tổng
sản phẩm quốc nội (GDP) để đảm bảo an toàn về mặt kinh tế cho người lao động và
cho xã hội. Quỹ tài chính BHXH là điều kiện tiên quyết để san sẻ rủi ro, san sẻ tài
chính giữa các bên tham gia. Trong BHXH thì cụm từ “san sẻ” ở đây được hiểu là:
“San sẻ” giữa người lao động, người sử dụng lao động với Nhà nước. Mọi người
lao động và người chủ sử dụng lao động phải đóng phí BHXH để thành lập lên quỹ
BHXH. Quỹ này chủ yếu để chi trả các chế độ cho người lao động khi họ không may
gặp rủi ro hoặc các sự kiện bảo hiểm, số người lao động được nhận trợ cấp thấp hơn
số người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH. Ngày nay, hệ thống BHXH thực hiện
dựa trên sự đóng góp của các bên tham gia đã góp phần làm giảm gánh nặng cho
Ngân sách Nhà nước. San sẻ ở đây chủ yếu là giữa những người lao động với nhau,
giữa người chủ sử dụng với nhau hay giữa người lao động và người chủ sử dụng lao
động. Vì BHXH thực hiện san sẻ cả về mặt không gian và thời gian.
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
5
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
“San sẻ” cả về mặt không gian và thời gian. Điều này được thể hiện ở những
doanh nghiệp, những vùng, những ngành kinh tế trong một thời kỳ có mức rủi ro
thấp, kinh tế phát triển nhưng vẫn đóng góp BHXH cao. Tuy nhiên, ở những nơi, có
những vùng, có những thời kỳ kinh tế kém phát triển, tỷ lệ lao động bị thất nghiệp
cao nên cần có sự san sẻ rủi ro của các doanh nghiệp với nhau, san sẻ rủi ro giữa các
thời kỳ, các ngành kinh tế khác nhau.
“San sẻ tài chính” và “San sẻ rủi ro” thể hiện ngay trong nội bộ người lao
động và người sử dụng lao động. San sẻ này còn thể hiện khi tất cả người lao động
đóng góp vào quỹ BHXH nhưng chỉ có một số người không may gặp rủi ro mới được
nhận trợ cấp từ quỹ BHXH. Ví dụ, san sẻ giữa lao động nam với lao động nữ: chỉ có
lao động nữ sinh con, lao động nữ hay bị ốm đau, tai nạn lao động. Giữa những
người lao động trẻ khỏe với những người lao động hay bị ốm đau, hay người đang
trong độ tuổi lao động với những người già yếu đã nghỉ hưu.
Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc bị mất đi khi gặp phải các rủi
ro hoặc sự kiện BHXH sẽ được quỹ tài chính bù đắp, thay thế. Song mức độ bù đắp,
thay thế thường thấp hơn mức thu nhập trước đó của họ nhưng vẫn phải đảm bảo
cuộc sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ. Có như vậy, mới kích thích
người lao động mới hăng hái tham gia lao động sản xuất và hạn chế tối đa những
hiện tượng lợi dụng chính sách BHXH. Khi thực hiện chi trả trợ cấp bằng với mức
thu nhập họ đi làm điều đó dẫn tới sự ỷ lại vào quỹ BHXH, ví dụ như người lao động
bị mất việc làm nếu được nhận trợ cấp bằng thu nhập trước kia của họ sẽ không
muốn tìm việc mới vì họ vẫn nhận được số thu nhập mà không phải đi làm.
Những rủi ro hoặc sự kiện BHXH làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất
việc làm trong BHXH có thể là ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người,
như là: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc cũng có thể là những trường
hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: lao động nữ sinh đẻ, đến tuổi về hưu…
Đồng thời chúng có thể diễn ra trong quá trình lao động hoặc ngoài quá trình lao
động. Ví dụ như chế độ tử tuất người lao động chết khi không làm việc hoặc chết vì
bệnh tật thì vẫn được hưởng trợ cấp tử tuất.
Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những yêu cầu cần thiết của người lao
động và gia đình họ trong trường hợp người lao động tham gia BHXH bị giảm hoặc
mất thu nhập, mất việc làm. Mục đích này được Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cụ
thể như sau (trong công ước 102):
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
- Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu
cầu sinh sống thiết yếu của họ và gia đình họ;
- Chăm sóc sức khỏe và chống lại bệnh tật;
- Xây dựng điều kiện sống đáp ứng nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc
biệt của người già, người tàn tật và trẻ em.
Những mục tiêu BHXH nói trên đều nhằm góp phần đảm bảo an sinh xã hội
cho mỗi nước. Vì vậy, chính sách BHXH luôn được coi là chính sách chủ yếu “nòng
cốt” của chính sách an sinh xã hội.
1.1.2 Vai trò của BHXH
BHXH ra đời và phát triển đã ngày càng khẳng định được vai trò của mình
trên nhiều phương diện khác nhau trong cuộc sống cũng như trong phát triển kinh tế -
xã hội. Vai trò của BHXH được thể hiện ở các phương diện sau:
1.1.2.1 Đối với người lao động
BHXH trực tiếp góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình
họ khi người lao động gặp phải rủi ro và các sự kiện bảo hiểm như: ốm đau, thai sản,
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm hoặc về già,… Vì BHXH thay thế
hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi người lao động không may
gặp rủi ro.
BHXH còn là chỗ dựa về mặt tâm lý để người lao động yên tâm làm việc, gắn
bó với đơn vị công tác, tạo niềm tin cho họ vào cuộc sống. Vì khi xảy ra những rủi ro
xảy ra thì đã có quỹ BHXH trợ cấp cho phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm đó. Từ đó
giúp người lao động nâng cao được năng suất lao động cá nhân của mình và góp
phần tăng thu nhập trong tương lai.
Thông qua BHXH còn góp phần đoàn kết giữa những người lao động trong
nội bộ cơ quan doanh nghiệp và kích thích những người lao động chưa tham gia
BHXH hăng hái tham gia BHXH.
1.1.2.2 Đối với người sử dụng lao động
Mặc dù phải đóng góp vào quỹ BHXH một khoản tiền nhất định để đóng
BHXH cho người lao động mà mình sử dụng, điều đó làm cho người sử dụng lao
động bị mất một khoản thu nhập nhưng song về lâu dài lợi ích từ BHXH mà người
người sử dụng lao động nhận được sẽ là:
Khi thực hiện tốt chính sách BHXH cho người lao động sẽ giúp họ yên tâm,
phát huy hết khả năng của mình từ đó tăng năng suất lao động cá nhân đồng thời giúp
cho doanh nghiệp ngày càng phát triển hơn. Ngoài ra, còn giúp cho người lao động
gắn bó với cơ quan, doanh nghiệp hơn.
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
7
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nếu chính sách BHXH được thực hiện tốt sẽ góp phần hạn chế các hiện tượng
đình công, bãi công, biểu tình và từ đó góp phần làm cho hoạt động sản xuất kinh
doanh diễn ra liên tuc và ổn định.
Ngoài ra, khi rủi ro xảy ra đối với nhiều người lao động cùng một lúc, ở phạm
vi rộng thì người lao động sẽ không phải bỏ ra một khoản tiền lớn để chi trả cho
người lao động mà lúc này hậu quả của những rủi ro sẽ do quỹ BHXH gánh vác. Mặt
khác, khi những rủi ro xảy ra thì chủ sử dụng lao động không phải gánh chịu toàn bộ
mà rủi ro được phân tán cả theo không gian và thời gian cho tất cả các bên tham gia.
Thông qua chính sách BHXH, người sử dụng lao động thể hiện được nghĩa vụ
và trách nhiệm của mình đối với người lao động và đối với xã hội. Khi tham gia
BHXH chủ sử dụng lao động còn thể hiện sự quan tâm của mình đối với người lao
động không chỉ lúc họ khỏe mạnh mà cả khi họ già yếu.
1.1.2.3 Đối với nền kinh tế
Chính sách BHXH góp phần tạo lập mối quan hệ gắn bó chủ - thợ, từ đó làm
cho các mối quan hệ trên thị trường lao động trở lên lành mạnh hơn, những mâu
thuẫn vốn có trong quan hệ lao động về cơ bản được giải tỏa. Đây là tiền đề về mặt
tâm lý, để kích thích tính tự giác, sáng tạo của người lao động, từ đó góp phần nâng
cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Nhờ có chính sách BHXH mà quỹ BHXH đã được hình thành. Nguồn quỹ này
ngày càng được tồn tích lại theo thời gian và thực sự trở thành một khâu tài chính
trung gian rất quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia. Phần quỹ nhàn rỗi sẽ
được đem đầu tư phát triển và tăng trưởng kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm cho
người lao động.
1.1.2.4 Đối với xã hội
Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHXH thể hiện tính xã hội hóa, tính nhân
đạo và nhân văn cao cả của chính sách BHXH. Mặc dù động lực và mục đích tham
gia của mỗi bên tham gia là khác nhau nhưng BHXH ra đời có ý nghĩa rất lớn về mặt
xã hội, cụ thể:
Người lao động tham gia BHXH là nhằm bảo vệ quyền lợi trực tiếp cho chính
mình, đồng thời còn góp phần thực hiện trách nhiệm của mình đối với cộng đồng xã
hội.
Người sử dụng lao động tham gia BHXH là để quan tâm, chia sẻ rủi ro với
người lao động nhưng cũng gián tiếp bảo vệ lợi ích cho chính cơ quan, doanh nghiệp
của mình phát triển ổn định bền vững.
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Nhà nước tham gia BHXH nhằm góp phần ổn định cuộc sống cho các thành
viên trong xã hội, đảm bảo công bằng xã hội, nhưng cũng là trách nhiệm trong quản
lý xã hội của Nhà nước.
Nhờ có quỹ tài chính BHXH mà những khó khăn do giảm hoặc mất thu nhập
của người lao động được trang trải một phần chính từ sự đóng góp của họ. Từ đó làm
giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước, tạo điều kiện để Nhà nước tập trung vào
những mục đích khác nhằm đem lại ấm no hạnh phúc cho mọi người dân trong xã
hội.
1.1.3 Chức năng và tính chất của BHXH
1.1.3.1 Chức năng
Theo cách thức tổ chức và hoạt động thì BHXH có những chức năng chủ yếu
sau đây:
Thay thế, bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia bảo hiểm
khi bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Sự thay
thế, bù đắp này chắc chắn sẽ xảy ra vì con người có giới hạn sinh học về độ tuổi và
sức khỏe. Khi người lao động còn trẻ khỏe thì họ sẽ có thể tạo ra thu nhập nhưng đến
khi hết tuổi lao động, già yếu thì họ phải dựa vào khoản trợ cấp từ quỹ BHXH.
Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia
BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có người lao động mà còn cả người sử dụng lao
động và có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước để hình thành lên quỹ BHXH hoạt động theo
nguyên tắc dân chủ, công khai, hạch toán độc lập với Ngân sách Nhà nước và được
Nhà nước bảo trợ. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi
họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ
trong tổng số những người tham gia đóng góp. Như vậy, thực hiện được nguyên tắc
“số đông bù số ít” và BHXH còn thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc
và chiều ngang. Phân phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và người
có thu nhập thấp, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm
yếu phải nghỉ việc. Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện
công bằng xã hội.
Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao
năng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội. Đều này thể hiện
khi người lao động khỏe mạnh tham gia hoạt động sản xuất thì người chủ sử dụng lao
động phải trả tiền công, tiền lương cho người lao động. Khi bị ốm đau, tai nạn lao
động, bệnh nghề nghiệp bị giảm hoặc mất thu nhập thì có quỹ BHXH trợ cấp. Vì thế
cuộc sống của họ và người thân luôn được đảm bảo ổn định. BHXH là chỗ dựa vững
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
9
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
chắc giúp người lao động yên tâm sản xuất, gắn bó tận tình với công việc, nâng cao
năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này thể hiện như đòn bẩy kinh tế
kích thích người lao động nâng cao năng suất cá nhân từ đó góp phần nâng cao năng
suất xã hội và tạo ra sự phát triển kinh tế - xã hội.
Gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao
động và xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người chủ sử
dụng lao động luôn có những mâu thuẫn về tiền lương, tiền công, thời gian lao động,
… Thông qua BHXH sẽ giúp cho mâu thuẫn này được điều hòa và giải quyết. Đặc
biệt, cả hai bên thấy được lợi ích của mình khi tham gia BHXH. Ngoài ra, khi thực
hiện tốt chính sách BHXH còn thể hiện sự quan tâm của người sử dụng lao động tới
người lao động không chỉ khi họ khỏe mạnh mà ngay cả khi họ già yếu không làm
việc được. Đối với Nhà nước và xã hội, chi phí cho BHXH là cách thức tiết kiệm và
có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao
động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định kinh tế, chính trị và xã hội
được phát triển và an toàn.
1.1.3.2 Tính chất
BHXH gắn liền với đời sống của người lao động, vì vậy nó có một số tính
chất cơ bản sau:
Tính chất khách quan trong đời sống. Trong quá trình lao động sản xuất người
lao động có thể gặp những biến cố bất ngờ hay những rủi ro khi đó người sử dụng lao
động cũng rơi vào tình cảnh khó khăn không kém như: sản xuất kinh doanh bị gián
đoạn, vấn đề tuyển dụng và thiếu lao động lành nghề,…từ đó làm cho sản xuất bị
đình đốn, làm cho nền kinh tế phát triển chậm lại. Khi nền sản xuất hàng hóa phát
triển thì những rủi ro xảy ra đối với người lao động ngày càng trở lên phổ biến và gây
nhiều khó khăn cho chủ sử dụng lao động. Từ đó, làm cho mâu thuẫn giữa giới chủ
và giới thợ càng trở lên sâu sắc hơn. Vì vậy để giải quyết các mâu thuẫn đó, Nhà
nước đứng ra can thiệp thông qua BHXH.
BHXH có tính ngẫu nhiên, phát sinh không đồng đều theo thời gian và không
gian. Từ thời điểm hình thành và triển khai, đến mức đóng góp của các bên tham gia
để hình thành quỹ BHXH. Những rủi ro xảy đến với người lao động là hoàn toàn
ngẫu nhiên và trong điều kiện được bảo hiểm thì người lao động mới được hưởng các
chế độ của BHXH nhưng có những trường hợp không phải là hoàn toàn ngẫu nhiên
như chế độ hưu trí hay chế độ thai sản. BHXH phát sinh không đồng đều theo thời
gian và không gian như có những vùng, địa phương, ngành nghề có số người lao
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động bị biến cố nhiều và hưởng nhiều chế độ BHXH trong cùng một thời gian,…Hay
mức trợ cấp BHXH theo từng chế độ cho người lao động.
BHXH vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, đồng thời có tính dịch vụ:
- Tính kinh tế thể hiện rõ nhất ở chỗ: quỹ BHXH muốn hình thành, bảo toàn
và tăng trưởng phải có sự đóng góp của các bên tham gia và phải phải được quản lý
chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích. Người lao động có tham gia đóng góp mới được
hưởng, đồng thời về cơ bản đóng góp nhiều thì được hưởng nhiều. Đồng thời tính
kinh tế còn được thể hiện: Người lao động có mức đóng thấp hơn nhiều so với quyền
lợi mà họ nhận được khi gặp rủi ro; chủ sử dụng lao động thì yên tâm khi những rủi
ro xảy ra thì đã có BHXH chịu trách nhiệm. Mặt khác, khi tham gia BHXH thì chủ sử
dụng còn thể trách nhiệm và sự quan tâm của mình đối với người lao động mà họ sử
dụng; Đối với Nhà nước, còn góp phần giảm gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước và
còn có nguồn vốn đầu tư để phát triển kinh tế - xã hội.
- Tính xã hội: BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống an sinh xã hội. Vì vậy,
mọi người lao động trong xã hội đều có quyền tham gia BHXH và BHXH phải có
trách nhiệm bảo hiểm cho mọi người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang
trong độ tuổi lao động hay khi họ đã hết tuổi lao động.
- Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền kinh
tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính xã hội hoá của BHXH cũng
ngày càng cao khi nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì người chủ sử dụng sẽ
tham gia BHXH ngày càng đầy đủ hơn cho người lao động, mức đóng và mức hưởng
BHXH tăng theo sự phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.4 Đặc trưng của BHXH
Mỗi loại hình Bảo hiểm điều có những đăc trưng khác nhau, BHXH có những
đặc trưng cơ bản sau:
Thời hạn bảo hiểm rất dài, là một quá trình diễn ra liên tục từ khi người lao
động tham gia BHXH đến khi chết, bảo hiểm cho người lao động cả trong quá trình
lao động và ngoài quá trình lao động. Điều này được thể hiện, khi người lao động
tham gia vào quỹ BHXH thì quỹ này có nhiệm vụ là bù đắp hoặc thay thế một phần
thu nhập cho người lao động và khi họ thực hiện hết nhiệm vụ của mình với xã hội
thì quỹ BHXH làm nhiệm vụ chi trả lương hưu cho họ tới khi họ chết. Khi tham gia
BHXH còn có nghĩa là người lao động tự tiết kiệm cho mình khi về già. Còn đối với
chủ sử dụng lao động, thời hạn bắt đầu tham gia bảo hiểm từ khi họ thuê mướn một
số lượng lao động nhất định cho đến khi doanh nghiệp hay tổ chức của họ không còn
tồn tại như: phá sản, giải thể, …
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
11
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
BHXH chủ yếu được thực hiện dưới hình thức bắt buộc, cho nên đối tượng
tham gia và đối tượng thụ hưởng trợ cấp BHXH ngày càng lớn. Khi số lượng tham
gia tăng thì nguyên tắc “số đông bù số ít” trong hoạt động bảo hiểm phát huy tối đa
tác dụng. Người lao động và chủ sử dụng lao động đóng góp để hình thành lên quỹ
BHXH nhung quỹ này chỉ dùng để trợ cấp cho những trường hợp gặp rủi ro hoặc sự
kiện bảo hiểm xảy ra. Bên cạnh đó thì việc tổ chức quản lý, điều hành bộ máy đòi hỏi
chặt chẽ hơn, tổ chức có khoa học hơn để đảm bảo công bằng cho người lao động,
người chủ sử dụng tham gia.
Những rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm trong BHXH thể hiện phạm vi của
BHXH. Vì thế, nó được pháp luật khống chế và thể hiện ở hệ thống các chế độ
BHXH. Những rủi ro sự kiện bảo hiểm có ảnh hưởng trực tiếp tới thu nhập của người
lao động làm giảm hoặc mất thu nhập làm ảnh hưởng tới đời sống của người lao
động và gia đình họ. Vì vậy, BHXH còn thể hiện tính chất tiết kiệm trong khi khắc
phục hậu quả của rủi ro mà còn thể hiện khi người lao động già yếu. Khi người lao
động trẻ khỏe người lao động đóng BHXH để khi về già có thu nhập để trang trải chi
phí sinh hoạt.
Phí BHXH mà người lao động và người sử dụng lao động tham gia phải đóng
góp thường được nộp định kỳ hàng tháng (nếu tham gia BHXH tự nguyện thì mức
phí này có thể nộp theo quý, tháng hay sáu tháng một lần). Mức phí này chịu sự tác
động tổng hợp của rất nhiều các yếu tố như:
- Số lượng đối tượng tham gia BHXH;
- Tuổi thọ bình quân của người lao động;
- Mức độ rủi ro;
- Hiệu quả đầu tư quỹ nhàn rỗi;
- Khả năng bảo trợ của Nhà nước;
- Tình hình phát triển kinh tế - xã hội.
Phí BHXH được pháp luật quy định cụ thể và thay đổi theo từng thời kỳ cho
phù hợp với hoạt động thực tế của hệ thống BHXH và tình hình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước. Ngoài ra, phí BHXH còn chịu sự tác động của chính sách lao động
và chính sách tiền lương tối thiểu, các chính sách khác của mỗi nước.
BHXH được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và Nhà nước là người đứng
ra bảo hộ cho các hoạt động BHXH. Đặc biệt mỗi lần bổ sung và hoàn thiện mảng
chính sách này đều có sự đồng ý của các bên tham gia trên cơ sở pháp luật. Quỹ
BHXH được hình thành từ sự đóng góp của người lao động và chủ sử dụng lao động
vì vậy để đảm bảo sự công bằng cho người lao động. Mặt khác, quỹ BHXH được tồn
tích theo thời gian, từ thế hệ này đến thế hệ khác, cho nên chịu sự tác động rất lớn
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
của các yếu chính trị, kinh tế và xã hội. Nếu không có sự bảo hộ của Nhà nước, hoạt
động BHXH sẽ không thể bền vững và mục tiêu của BHXH sẽ khó thực hiện được.
1.1.5. Các quan điểm cơ bản về BHXH
BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của một quốc gia.
Nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức quản
lý của đất nước. Khi thực hiện BHXH, các nước đều phải lựa chọn hình thức tổ chức,
cơ chế quản lý và mức độ thỏa mãn các nhu cầu BHXH phù hợp với tập quán, khả
năng trang trải và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của nước mình, đồng thời
phải nhận thức thống nhất các quan điểm về BHXH sau đây:
Chính sách BHXH là một bộ phận cấu thành và là một bộ phận quan trọng
nhất trong chính sách xã hội.
Hệ thống chính sách BHXH ra đời và phát triển luôn nhằm mục đích đảm bảo
đời sống tối thiểu cho người lao động và gia đình họ, khi người lao động bị giảm
hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm. Thực chất đây là một trong những loại
chính sách đối với con người nhằm đáp ứng một trong những quyền và nhu cầu hiển
nhiên của con người, an toàn xã hội… Chính sách BHXH còn thể hiện trình độ văn
minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia,
nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã hội trong một chuẩn mực nhất định.
Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ là động lực to lớn phát huy tiềm
năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất
nước. Đây cũng là một trong những chính sách lớn trong hệ thống chính sách an sinh
xã hội mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện cho mọi người lao động, mọi
tầng lớp nhân dân.
Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho người
lao động
Người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp hoặc các
cá nhân có thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụ phải đóng góp vào quỹ BHXH
và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với người lao động mà họ
sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Người sử dụng lao động muốn ổn định và phát
triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc chăm lo đầu tư máy móc, công nghệ tiên tiến
còn phải chăm lo tay nghề, đời sống cho người lao động mà mình sử dụng. Khi người
lao động làm việc bình thường thì phải trả lương thỏa đáng cho họ. Khi họ gặp phải
các rủi ro hoặc sự kiện bảo hiểm như: bị tai nạn lao động, bị ốm đau, bị bệnh nghề
nghiệp, già yếu, thai sản, … trong đó có rất nhiều trường hợp gắn với quá trình lao
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
13
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
động, với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì người sử dụng lao
động phải có trách nhiệm bảo hiểm cho họ. Có như vậy người lao động mới yên tâm,
tích cực lao động sản xuất phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật góp phần tăng năng
suất lao động và hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp. Đồng thời, khi tham gia BHXH
thì chủ sử dụng cũng yên tâm hơn khi những rủi ro lớn xảy ra với doanh nghiệp mình
thì họ không phải bỏ một số tiền lớn để chi trả cho người lao động mà đã có sự đảm
bảo của quỹ BHXH.
Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi với BHXH
Mọi người lao động đều được hưởng BHXH như tuyên ngôn nhân quyền đã
nêu, đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi được trợ cấp BHXH.
Khi những rủi ro không mong muốn xảy ra với người lao động thì họ là người trực
tiếp chịu tác động của rủi ro đó. Vì thế, nếu muốn được hưởng BHXH tức là muốn
nhiều người khác hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác
thì trước hết tự mình phải gánh chịu một phần rủi ro. Điều đó có nghĩa là bản thân
người lao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình.
Tuy nhiên, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động về BHXH còn tùy thuộc
vào điều kiện kinh tế - xã hội, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội và lịch sử của
mỗi đất nước. Điều kiện kinh tế - xã hội ảnh hưởng trực tiếp tới mức đóng và mức
hưởng của người lao động, khi nền kinh tế phát triển thu nhập của người lao động
tăng, mức đóng BHXH tăng dẫn tới mức hưởng sẽ tăng.
Mức trợ cấp BHXH phụ thuộc vào các yếu tố
- Tính trạng mất đi khả năng lao động
- Tiền lương lúc đang đi làm
- Ngành công tác và thời gian công tác
- Tuổi thọ bình quân của người lao động
- Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Tuy nhiên, về nguyên tắc mức trợ cấp BHXH phải thấp hơn mức lương đang
đi làm, nhưng thấp nhất cũng phải đảm bảo mức sống tối thiểu. Để khuyến khích
người lao động đi làm việc trở lại tránh sự ỷ lại và trục lợi BHXH.
Quan điểm này phản ánh tính cộng đồng xã hội, vừa phản ánh nguyên tắc
phân phối lại quỹ BHXH cho những người lao động tham gia BHXH. Trợ cấp BHXH
là loại trợ cấp thay thế tiền lương, thu nhập của người lao động nhưng chỉ thay thế
một phần tiền lương khi người lao động lúc đang đi làm khi đó kích thích người lao
động tích cực đi làm để có thu nhập cao hơn mức trợ cấp nhận được. Hơn nữa, cách
Trần Thanh Nam Bảo hiểm xã hội
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét