trả lãi của vốn. Mặt khác, do sự tự do lựa chọn hình thức đầu tư, sự dễ dàng mua đi
bán lại giúp luân chuyển vốn trong nền kinh tế được linh hoạt hơn.
+ TTTC đóng vai trò quan trọng để thực hiện các chính sách tiền tệ và chính
sách tài chính, điều hoà các hoạt động kinh tế xã hội, thực hiện giám sát điều chỉnh
nền kinh tế vĩ mô.
Thông qua việc sử dụng các công cụ tài chính trên thị trường, các hệ thống
giám sát của nhà nước có thể theo dõi sát sao các hoạt động không chỉ trong lĩnh vực
tài chính tiền tệ mà cả sản xuất kinh doanh.
Chính phủ có thể điều tiết lượng cung - cầu tiền tệ đảm bảo bình ổn hoạt động
của nền kinh tế, bù đắp thâm hụt kích cầu tiêu dùng. Mặt khác, nhà nước có thể thông
qua chính sách lãi suất hướng hoặc hạn chế vào một số lĩnh vực sản xuất, ưu tiên các
ngành hướng về xuất khẩu, mũi nhọn v.v
+ TTTC tạo điều kiện thuận lợi trong hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước
ngoài.
Do việc hình thành và phát triển TTTC quốc gia hàng năm ngoài xu thế quốc tế
hoá. TTTC tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc dân hoà nhập vào nền kinh tế thế giới,
giúp các nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn mua cổ phiếu trực tiếp trên thị trường, góp
vốn liên doanh đầu tư sản xuất Thông qua hệ thống luật hoàn chỉnh và tính chất
"mở cửa" có thể cho phép nới lỏng, thu hẹp hoạt động đầu tư nước ngoài. Điều đó
đảm bảo tính hợp lý cho phát triển kinh tế đối ngoại.
Như vậy, TTTC đóng một vai trò hết sức to lớn trong phát triển kinh tế xã hội
vai trò đó chỉ được phát huy khi nó được hình thành trong một điều kiện thích hợp và
hoạt động trong một cơ chế linh hoạt, lành mạnh.
Tuy vậy, bản thân nền KTTT cũng như TTTC đều có những khuyết tật của nó
đòi hỏi phải nắm vững cơ chế vận hành của TTTC, có những biện pháp hữu hiệu
giám sát và thúc đẩy hoạt động của nó.
3. Cấu trúc của TTTC.
Là một thực thể trừu tượng, đa dạng, TTTC có thể được xem xét, đánh giá dưới
nhiều góc độ khác nhau. Mỗi góc độ đưa ra một đặc trưng riêng trong sự đa dạng của
TTTC.
1. Dựa trên phương thức huy động vốn: Thị trường nợ và thị trường vốn cổ
phần:
a. Thị trường nợ:
5 5
Là một bộ phận của TTTC, ở đó diễn ra việc trao đổi mua bán các công cụ nợ.
Công cụ nợ là sự thoả thuận có tổ chức như một hợp đồng vay mượn mà người đi
vay cam kết trả.
Trên thị trường nợ, người đi vay sẽ cam kết trả cho người cho vay cả gốc và lãi
trong một kỳ hạn nhất định với phương thức thoả thuận.
Thông qua cơ chế hoạt động của các tổ chức tài chính trung gian, các công cụ
nợ được huy động từ những nguồn lực tài chính nằm rải rác, thậm chí là rất nhỏ bé về
mặt giá trị. Từ những nguồn vốn huy động được, tổ chức tài chính cho vay đối với
doanh nghiệp sản xuất, tiêu dùng của chính phủ, dân chúng, việc cho vay được dựa
trên sự thoả thuận của hai bên và cung cầu trên thị trường là cơ sở ấn định giá của
vốn - hàng hoá.
Tuỳ vào mục đích vay mà có thể có những kỳ hạn khác nhau, mỗi kỳ hạn
thường có lãi suất ổn định cho cả kỳ vay. Tuy vậy, các khoản vay dài hạn thường có
lãi suất cao hơn các khoản vay ngắn hạn do được sử dụng đầu tư vào các ngành lâu
dài và ổn định lực, tuy vậy rủi ro cũng cao hơn. Các khoản vay dài hạn (thường từ
trên 3 đến 5 năm) cần được khuyến khích để đầu tư vào xây dựng các công trình lớn
đòi hỏi vốn lớn, dài hạn, chậm thu hồi nhưng rất cần thiết cho nền kinh tế.
Hoạt động trên thị trường nợ phản ánh mối quan hệ giữa người cho vay và
người đi vay, tuy vậy mối quan hệ đó là rất phức tạp, chồng chéo và có thể diễn ra
nhiều lần cho cùng một khoản vốn. Một cá nhân, tổ chức có thể vừa là người đi vay,
cũng lại là người cho vay, chẳng hạn như các tổ chức tài chính trung gian, các công ty
sản xuất
Lãi suất trên thị trường tác động lớn vào hoạt động của thị trường nợ, nó quyết
định đến cung cầu vốn nợ và cả thời hạn của các khoản vay. Điều chỉnh một mức lãi
suất ổn định, hợp lý sẽ làm cơ sở cho tính ổn định thị trường.
b. Thị trường vốn cổ phần.
Là một bộ phận của TTTC, hoạt động thông qua việc phát hành mua bán cổ
phiếu, trái phiếu. Các cổ phiếu, trái phiếu là các chứng từ công nhận quyền góp vốn
của cổ đông.
Thông qua cơ chế hoạt động huy động vốn của các công ty cổ phần, các công ty
này phát hành cổ phiếu, trái phiếu mà hiện nay chủ yếu là trên TTCK, các nguồn vốn
nhãn rỗi sẽ trực tiếp đầu tư vào hoạt động ở các công ty. Vốn được thu hút từ mọi
nguồn cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp và được thu hút vào các công ty cổ phần các
ngân hàng, tổ chức tài chính và cả chính phủ.
6 6
Đặc trưng của cổ phiếu trái phiếu là không có một thời hạn cụ thể, sự đóng góp
vốn vào công ty có thời hạn phụ thuộc vào việc lưu giữ cổ phiếu của người sở hữu và
cả tình hình kinh doanh của công ty, thông thường sau một kỳ hạn nhất định (thường
là một năm) chủ sở hữu cổ phần được chia lợi tức.
Hoạt động trên thị trường vốn cổ phần không phản ánh mối quan hệ giữa những
người đi vay và người cho vay về ở đây không được đặc trưng bởi sự vay mượn các
công cụ nợ. Nó là mối quan hệ giữa những người chủ sở hữu trong công ty cổ phần
họ cùng tham gia góp vốn đầu tư vào các công ty và thu lợi nhuận. Điều đó lý giải tại
sao cổ phiếu, trái phiếu không có một thời hạn cụ thể.
Như vậy, mỗi cá nhân, tổ chức mua cổ phiếu, trái phiếu sẽ là một nhà đầu tư do
đó, họ sẽ không được hưởng lợi đầu tư như những nhà cho vay. Lợi nhuận sau thuế
được phân bổ trả lãi thuế vốn, tài sản, tái đầu tư, thuê lao động sau đó mới chia cho
các cổ đông. Nếu có rủi ro xảy ra, họ phải cùng liên đới chịu trách nhiệm hữu hạn
ứng với phần vốn đã đóng góp.
Diễn biến kinh tế trên thị trường vốn cổ phần phụ thuộc vào lợi nhuận kinh
doanh của công ty. Lãi suất chỉ có tác động gián tiếp vì mỗi mức lãi suất sẽ tác động
đến đầu tư, thu nhập và lợi nhuận ròng của công ty. Còn lợi nhuận ảnh hưởng trực
tiếp đến trị giá cổ phiếu mà mỗi cổ đông có thể nhận được khi đầu tư vào công ty cổ
phần. Nếu tình hình kinh doanh thấp kém, các nhà đầu tư để đồng loạt bán ra cổ
phiếu, trái phiếu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn công ty.
Như vậy, việc huy động vốn trên thị trường nào, nợ hay vốn cổ phần là tuỳ
thuộc vào tình hình mỗi công ty cũng như sự quy định của luật doanh nghiệp. Thông
thường, các doanh nghiệp huy động vốn cơ bản chủ yếu là trên thị trường nợ đảm
bảo nguồn vốn lớn, tập trung cho đầu tư sản xuất. Còn khi muốn mở rộng sản xuất,
tăng vốn điều lệ hoặc để nâng cao hình ảnh của mình thì có thể thamgia huy động
trên thị trường vốn cổ phần.
2. Dựa vào kỳ hạn của các công cụ tài chính: Thị trường tiền tệ và thị trường
vốn.
a. Thị trường tiền tệ.
Là một bộ phận của TTTC mua bán các công cụ ngắn hạn.
Các công cụ nợ ngắn hạn có đặc trưng cơ bản là: Có tính lỏng cao, thời gian lưu
hành luân chuyển ngắn và chi phí chuyển về tiền mặt thấp.
Các công cụ này tham gia trên thị trường tiền tệ ít rủi ro do thời gian ngắn. Do
đó, giá cả trong thị trường tiền tệ là khá ổn định.
7 7
Trong thị trường tiền tệ, tiền là một hàng hoá đặc biệt, nó phụ thuộc vào sự phát
triển của kinh tế thị trường mà ngân hàng và các tổ chức tài chính trung gian cùng
tham gia hoạt động. Lãi suất của nó phụ thuộc vào cung cầu tiền tệ trên thị trường và
kiểm soát tiền tệ luôn luôn là công việc của chính phủ và mọi ngân hàng trung ương.
Tham gia vào thị trường tiền tệ gồm có các ngân hàng thương mại, các tổ chức
tài chính phi ngân hàng, kho bạc, NHTW, các doanh nghiệp, chính phủ
Thị trường tiền tệ đóng vai trò:
+ Tạo môi trường đầu tư sinh lời cho các cá nhân và các tổ chức tài chính đầu
tư ngắn hạn.
+ Đảm bảo tính hiệu quả hệ thống, ổn định của các ngân hàng thương mại
+ Giúp NHTW thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia.
Các bộ phận chủ yếu của thị trường tiền tệ.
Thị trường tín phiếu kho bạc chủ yếu là chính phủ phát hành trái phiếu nhằm bù
đắp phần bội chi ngân sách và nhu cầu chi tiêu của mình.
Thị trường nội tệ - liên ngân hàng nhằm đảm bảo điều hoà về vốn hoạt động
trong hệ thống ngân hàng.
Thị trường ngoại tệ liên ngân hàng tổ chức mua bán ngoại tệ giữa các ngân
hàng được kinh doanh ngoại tệ.
Thị trường tín dụng thể hiện quan hệ vay mượn sử dụng vốn lẫn nhau giữa các
pháp nhân, thể nhân trong nền kinh tế.
Ngoài ra còn thị trường thương phiếu, kỳ phiếu ngân hàng chủ yếu tham gia
phát hành các công cụ vay ngăn hạn.
b. Thị trường vốn:
Là một bộ phận của TTTC diễn ra việc mua bán, trao đổi các công cụ nợ trung,
dài hạn và cổ phiếu.
Các công cụ lưu hành có tính lỏng kém, thời gian lưu hành dài. Do đó hoạt
động trên thị trường vốn mang tính rủi ro cao và giá cả biến đổi phức tạp do kỳ hạn
dài.
Thị trường vốn xét về mặt bản chất phản ánh các quan hệ mua bán không phải
là số lượng nhất định các khoản tiền mặt, các tư liệu sản xuất mà là các quyền sở hữu
về tư liệu sản xuất và vốn tiền mặt. Như vậy, thị trường vốn là một bộ phận của
TTTC được chuyên môn hoá đối với các nguồn lực tài chính và trao quyền sử dụng
8 8
dài hạn. Do đó, các nguồn lực tài chính này chủ yếu là được đầu tư dài hạn vào đầu
tư sản xuất kinh doanh.
Khi lãi suất không ổn định, xu hướng lạm phát cao, hoạt động của thị trường
vốn bị thu hẹp và phải nhường chỗ cho thị trường tiền tệ vì lúc đó tham gia thị trường
vốn có độ rủi ro rất cao. Do đó, tính ổn định của nền kinh tế thị trường ảnh hưởng lớn
đến hoạt động của thị trường vốn.
Vai trò của thị trường vốn:
Đảm bảo nguồn tài trợ vốn trung, dài hạn cho nền kinh tế, cho các tổ chức tín
dụng ngân hàng đầu tư vào các lĩnh vực dài hạn.
Tạo cơ hội kinh doanh cao cho các nhà đầu tư.
Nhà nước có thêm vốn đầu tư vào các công trình lớn, cơ sở hạ tầng. Các bộ
phận của thị trường vốn:
+ Thị trường trái phiếu chính phủ chủ phát hành các công cụ nợ có mệnh giá
cao, khối lượng lớn của chính phủ, lãi suất thấp không có rủi ro.
+ Thị trường trái phiếu công ty do các công ty phát hành trái phiếu, lãi suất tuỳ
thuộc vào tình hình công ty song có độ rủi ro cao.
+ Thị trường cổ phiếu bằng các công ty cổ phần phát hành cổ phiếu trên TTCK,
lãi suất hấp dẫn song không cố định, rui ro rất cao.
3. Dựa vào cơ chế hoạt động của TTTC: Thị trường tài cấp I và cấp II.
a. Thị trường cấp I: (sơ cấp).
Là nơi phát hành các công cụ tài chính, được bán trong phạm vi hẹp giữa các
nhà phát hành và những người mua đầu tiên.
Trong quá trình phát hành, người phát hành nhìn chung không giao dịch trực
tiếp với người mua mà cần thông qua các trung gian xử lý, tức là những người môi
giới. Do đó thị trường cấp I là thị trường phát hành các công cụ tài chính lần đầu
tiên và còn được gọi là thị trường môi giới thông thường, người mua đầu tiên là
các ngân hàng, các công ty kinh doanh chứng khoán, các nhà môi giới và các nhà
kinh doanh khác.
Phát hành trên thị trường sơ cấp mới là mục đích tài trợ cho nhu câùa vốn của
công ty phát hành. Tuy nhiên, phạm vi trên thị trường sơ cấp thường diễn ra hẹp,
thông tin mua bán ít và chủ yếu là dành cho các nhà chuyên môn kinh doanh ở thị
trường sơ cấp. Hoạt động phát hành không diễn ra ở một trụ sở cố định và hầu như
mang tính nội bộ.
9 9
Tuy vậy, giá cả, số lượng trên thị trường cấp I lại là cơ sở cho thị trường cấp II
hoạt động vì các công cụ tài chính không chỉ được phát hành một lần, nó còn được
tiếp tục mua đi bán lại trên thị trường cấp II.
b. Thị trường cấp II:
Diễn ra các hoạt động mua đi bán lại các công cụ tài chính đã được phát hành
trên thị trường cấp I.
Các chứng khoán ở đã được mua ở thị trường cấp I do nhiều nguyên nhân đã
được các nhà đầu, môi giới thu hút sự chú ý của nhiều cá nhân, tổ chức khác. Đây
mới chính là nơi giao dịch hàng ngày mua đi lại - bán lại kiếm lời trên TTCK.
Lúc này, người bán là các nhà đầu tư đầu tiên, người mua là tất cả các cá nhân,
tổ chức muốn đầu tư, kinh doanh kiếm lời.
Phát hành trên thị trường cấp II nói chung không có mục đích tài trợ vốn cho
công ty phát hành, nhưng phạm vi diễn ra rộng lớn và thông tin phong phú, phổ biến.
Thị trường cấp II như là một dấu hiệu theo dõi công việc kinh doanh không chỉ của
doanh nghiệp mà còn của cả nền kinh tế. Hoạt động đã diễn ra khỏi nội bộ các nhà
kinh doanh và liên quan đến hoạt động, chú ý của dân chúng.
Cả hai thị trường phụ thuộc vào nhau. Thị trường cấp II ảnh hưởng đến thị
trường cấp I, việc định giá cả, khối lượng ở thị trường cấp II vừa quy định, vừa phụ
thuộc vào hoạt động của thị trường cấp I.
Thông thường không tồn tại ranh giới rõ rệt giữa hai thị trường, các hoạt động
đan xen hoà lẫn vào nhau. Thị trường cấp I là cơ sở cho thị trường cấp II, còn thị
trường cấp II lại là động lực cho thị trường cấp I.
4. Các công cụ trên TTTC:
a. Các công cụ của thị trường tiền tệ:
+ Trái phiếu kho bạc là công cụ vay nợ ngắn hạn do chính phủ phát hành nhằm
bù đắp thâm hụt ngân sách tạm thời và tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của mình.
Trái phiếu kho bạc có độ an toàn cao nhất vì khả năng vỡ nợ của chính phủ là
gần như không thể xảy ra, tuy vậy lại có lãi suất thấp nhất và được trả cùng với gốc
(lãi suất chính phủ là lãi suất cơ sở của thị trường). Khách hàng của trái phiếu kho
bạc là nhân dân, ngân hàng thương mại, NHTW các tổ chức tài chính trung gian.
+ Các chứng chỉ tiền gửi là việc chứng nhận cho tiền gửi vào các ngân hàng
thương mại của các nhân, tổ chức.
10 10
Phổ biến nhất là hình thức sổ tiết kiệm, séc thanh toán có thể dùng các chứng
chỉ này để thanh toán, tuỳ thuộc vào mức độ chấp nhận thanh toán của dân cư, nền
kinh tế và quy định của các tổ chức.
+ Các thương phiếu kỳ phiếu do các ngân hàng thương mại phát hành chủ yếu
là để huy động vốn tạm thời, ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu vốn cấp bách của các ngân
hàng, lãi suất cao song thời gian rất ngắn.
b. Các công cụ của thị trường vốn:
+ Cổ phiếu là một chứng chỉ chứng nhận quyền góp vốn của các cổ đông, nó
không phải là một công cụ vay nợ trên TTTC.
Cổ phiếu có mệnh giá trên cổ phiếu song không có lãi suất, tỷ lệ lợi tức cố định
mà hoạt động dựa trên khả năng thu lợi nhuận của công ty vào một giai đoạn nhất
định. Cổ phiếu có khả năng thu lợi tức cao, hấp dẫn song cũng có mức độ rủi ro rất
cao.
Gồm có cổ phiếu ký danh, vô danh, ưu đãi và thông thường. Mỗi loại có những
thuận lợi kvà ràng buộc riêng.
+ Trái phiếu là công cụ vay nợ dài hạn của chính phủ, doanh nghiệp trái phiếu
chính phủ, vay để thu hút nguồn vốn trung và dài hạn, đặc biệt là dài hạn cho nhu cầu
xây dựng, đầu tư các công trình lớn của nền kinh tế, lãi suất cao hơn lãi suất trái
phiếu kho bạc do vay dài hạn và củng cố độ an toàn khá cao. Đầu tư vào trái phiếu
chính phủ là đầu tư mang tính dài hạn và an toàn.
Trái phiếu doanh nghiệp do các công ty phát hành, lãi suất hấp dẫn nhưng có độ
rủi ro khá cao. Đây cũng là khoản đầu tư dài hạn của những người cho vay mạo
hiểm.
Các loại trái phiếu gồm có: trái phiếu vay đơn, tiền gốc và lãi được thanh toán
một lần khi vào ngày đáo hạn.
Trái phiếu trả cố định sẽ thanh toán các khoản cố định đều nhau cho người mua
trong suốt kỳ hạn trái phiếu.
Trái phiếu coupon, tiền lãi trả hàng năm, tiền gốc trả vào ngày đáo hạn sẽ được
thanh toán theo mệnh giá.
Trái phiếu vĩnh cưủ: Người mua sẽ nhận một khoản thu nhập hàng năm cố định
đến lúc chết và không được rút tiền gốc, không thừa kế.
11 11
THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM
I. KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC VỀ TTTC VIỆT NAM:
1. Các điều kiện để hình thành TTTC Việt Nam.
TTTC là một thị trường hàng hoá đặc biệt, là sản phẩm của nền kinh tế phát
triển cao. Do đó, để hình thành TTTC Việt Nam cần phát triển một nền kinh tế thị
trường XHCN dựa trên chế độ đa dạng hoá sở hữu, mở rộng phát triển các thành
phần kinh tế.
Nền kinh tế thị trường đó phải được phát triển ổn định trong một thời gian dài,
ổn định cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng an ninh.
Chuyển sang kinh tế thị trường nhưng phải luôn luôn khẳng định vai trò của nhà
nước và thành phần kinh tế nhà nước trong việc định hướng phát triển của nền kinh
tế, tạo điều kiện thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động tài chính - tiền tệ.
Nền kinh tế phải có những chuyển biến tích cực, bắt đầu có tích luỹ và xuất
hiện nhu cầu gửi tiền dư thừa cũng như đầu tư trong dân chúng.
Đã xây dựng được một mạng lưới cơ sở hạ tầng kinh tế cũng như hệ thống
thông tin liên lạc rộng khắp, hiện đại, đồng bộ trong cả nước tạo thành một thể thống
nhất từ TW đến địa phương.
Các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng được phép hoạt động độc lập tự chủ,
hoạt động trong phạm vi khuôn khổ pháp luật. Nới lỏng và tiến đến tự do hoá lãi suất
tín dụng.
Đã xây dựng được một hệ thống luật pháp hoàn chỉnh làm cơ sở cho quản lý
điều hành đất nước.
2. Đặc điểm của TTTC Việt Nam hiện nay:
Trước hết, cần khẳng định TTTC Việt Nam là một TTTC Xã hội chủ nghĩa
chính vì vậy mà nó có nhiều điểm tương đồng và khác biệt so với TTTC của thế giới
TBCN.
Cơ sở tồn tại và xây dựng TTTC Việt Nam được xây dựng chủ yếu dựa trên chế
độ công hữu về TLSX, có mối quan hệ bình đẳng hợp tác cùng có lợi giữa các loại
hình, thành phần kinh tế, giữa doanh nghiệp và người lao động. Ngân hàng TW là
chủ thể của cơ cấu tài chính, của TTTC. Điều này rất khác biệt so với TTTC TBCN
12 12
xây dựng trên chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thể hiện ở mối quan hệ người bóc lột
người.
Thứ hai, mục đích của TTTC Việt Nam là nhằm phục vụ làm sống động các
hoạt động tài chính - kinh tế, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường chủ
yếu dưới sự chỉ đạo có kế hoạch của nhà nước. Trong khi đó TTTC TBCN chịu sự
tác động của quy luật giá trị và mục đích là giá trị thặng dư TBCN.
Thứ ba, TTTC Việt Nam huy động vốn, lưu thông tiền tệ dưới sự chỉ đạo có kế
hoạch của nhà nước, tự giác vận động các quy luật khách quan đảm bảo ổn định của
nền kinh tế. Trong khi đó, TTTC TBCN phát triển nhiều khi mang tính tự phát hay
xảy ra khủng hoảng cơ cấu gây nhiều chấn động cho nền kinh tế.
Thứ tư, các chủ thể tham gia trên TTTC Việt Nam là độc lập, bình đẳng, toàn bộ
thị trường chịu sự giám sát và quản lý của ngân hàng nhà nước, trong khi đó chủ thể
trên TTTC TBCN thường là các nhà tư bản, tài phiệt, thị trường hay bị thao túng bởi
họ.
Thứ năm, TTTC Việt Nam hoạt động căn cứ vào phương châm chính sách của
chính phủ, thống nhất được các hoạt động tài chính từ TW đến địa phương. Còn
TTTC TBCN mang tính chất phân tán, nhiều khi không có sự thống nhất, vô kế
hoạch.
Thứ sáu, TTTC Việt Nam là TTTC độc lập, tự chủ không chịu sự can thiệp của
bất kỳ tổ chức tài chính quốc tế nào, căn cứ vào nhu cầu xây dựng đất nước để mở
rộng cửa ra bên ngoài song luôn thi hành các biện phaps bảo đảm đúng bản chất của
mình. Còn TTTC TBCN chịu ảnh hưởng tương đối lớn của TTTC quốc tế.
3. Chức năng của TTTC Việt Nam:
+ Tích lũy và huy động tất cả mọi nguồn lực tài chính trong xã hội, từ đó lưu
thông vốn cho nền kinh tế điều tiết từ người có vốn sang người cần vốn TTTC Việt
Nam tạo nên một chu trình cấp vốn thông qua chức năng của thị trường sơ cấp. Từ thị
trường này, các nguồn vốn nhỏ bé, phân tán của các hộ gia đình, các nguồn vốn trong
các tổ chức dư thừa chuyển thành vốn dài hạn cho các xí nghiệp. Thực tiễn tại Việt
Nam, nhu cầu vốn là rất lớn, giai đoạn 1996 - 2000 cần 41 tỷ cho đầu tư sản xuất phát
triển kinh tế. Trong nhân dân, do đời sống ngày càng được cải thiện, đã xuất hiện
lượng tiền dư thừa, nếu lượng tiền này được huy động sẽ là nguồn lực rất lớn, vừa
tạo thu nhập từ nguồn vốn nhàn rỗi cho người dân, vừa giúp nhiều doanh nghiệp
thiếu vốn hiện nay có đủ vốn hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là các doanh
nghiệp tư nhân.
13 13
Hiện nay, vẫn còn nhiều bất cập trong hoạt động của hệ thống doanh nghiệp tư
nhân do những ràng buộc về việc huy động vốn từ ngân hàng thương mại, nếu phát
huy tốt nguồn lực này trong dân chúng sẽ là cơ sở cho các doanh nghiệp này mở
rộng, nâng cao năng lực sản xuất.
+ Thông qua việc hoàn trả lãi và vốn, đảm bảo yêu cầu sử dụng vốn có hiệu quả
cao, đầu tư vào các ngành trọng điểm.
Điều này là rất có ý nghĩa đối với các doanh nghiệp Việt Nam. Đi vào kinh tế
thị trường song nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhà nước vẫn còn giữ
nguyên cơ chế làm việc của nền kinh tế bao cấp kế hoạch hoá, chưa tự hoạch toán thu
chi, mà vẫn trông chờ, ỷ lại vào nguồn vốn của nhà nước. Thông qua việc vay vốn,
hoàn trả lãi buộc các doanh nghiệp phải tự đổi mới hoạt động sản xuất kinh doanh, sử
dụng hạch toán trong kinh doanh lại không làm lãng phí nguồn lực xã hội. Mặt khác,
cơ chế hoàn trả này giúp chúng ta đầu tư được vào các ngành có trọng điểm. Giai
đoạn đầu, áp đặt một tỷ lệ lãi suất khá cao giúp các doanh nghiệp phải sử dụng đầu tư
vào các ngành vốn ít, sử dụng nhiều lao động, sau đó hạ dần tỷ lệ lãi suất đảm bảo
đầu tư dài hạn, ổn định, đầu tư vào các ngành yêu cầu hàm lượng vốn và kỹ thuật
cao. Có thể hạ lãi suất, áp dụng lãi suất ưu đãi cho các ngành công nghệ mũi nhọn,
các ngành hướng về xuất khẩu như công nghịep điện tử - tin học, chế biến, may
mặc
+ Hướng cho nền kinh tế vĩ mô hoạt động an toàn có hiệu quả. Nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam mới đi vào hoạt động, còn nhiều yếu kém chưa thể khắc phục
được ngay. Thông qua vai trò điều tiết cung cầu tiền tệ bằng lãi suất sẽ đảm bảo cho
nền kinh tế an toàn, có hiệu quả, từ việc huy động mọi nguồn lực xã hội đến việc yêu
cầu sử dụng vốn tối ưu của mọi doanh nghiệp.
Thực tiễn ở Việt Nam giai đoạn cuối những năm 80 đầu 90, nền kinh tế Việt
Nam bị lạm phát trầm trọng. (Năm 87: 429%; Năm 88: 682%; Năm 89: 348% )nhà
nước đã kịp thời khắc phục bội chi ngân sách, giảm cung ứng tiền tệ đặc biệt là thông
qua chính sách lãi suất cao (như lãi suất kỳ hạn 3 tháng giai đoạn 87 - 88:
8,0%/tháng, năm 89: 12%/tháng ) từ đó đẩy lùi siêu lạm phát, bình ổn được nền
kinh tế, ổn định đời sống nhân dân.
+ Tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao và cải thiện tình hình phân phối thu
nhập cho đại bộ phận dân cư. Hoạt động của TTTC Việt Nam có thể trực tiếp hoặc
gián tiếp tạo ra công ăn việc làm. Các nghiệp vụ hoạt động tài chính yêu cầu có các
nhân viên quản lý, làm việc như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm Mặt khác và cũng
là điều chủ yếu là, thông qua các hoạt động thu hút và luân chuyển vốn trong nền
14 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét