Chuyên đề tốt nghiệp
Các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năng
chuyển hoá thành tiền – tính thanh khoản – giảm dần từ trên xuống.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô và kết cấu các loại tài sản;
bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng độc lập
về tài chính của doanh nghiệp.
Nhìn vào Bảng cân đối kế toán, nhà phân tích có thể nhận biết được loại
hình doanh nghiệp, quy mô, mức độ tự chủ của doanh nghiệp. Bảng cân đối tài
sản là một tài liệu quan trọng nhất giúp cho các nhà phân tích đánh giá được khả
năng cân bằng tài chính, khả năng thanh toán và khả năng cân đối vốn của
doanh nghiệp.
2. Báo cáo kết quả kinh doanh ( Báo cáo thu nhập )
Báo cáo kết quả kinh doanh cũng là một trong những tài liệu quan trọng
trong phân tích tài chính. Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển
của tiền trong quá trình sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự
tính khả năng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh
doanh giúp các nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi
bán hàng hoá, dịch vụ; so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ
để vận hành doanh nghiệp. Trên cơ sở doanh thu và chi phí, có thể xác định
được kết quả hoạt động kinh doanh là lỗ hay lãi trong một thời kỳ.
Như vậy, Báo cáo kêt quả kinh doanh phản ánh kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong thời kỳ
nhất định. Nó cung cấp những thông tin tổng hợp về tình hình tài chính và kết
quả sử dụng các tiềm năng về vốn, lao động kỹ thuật và trình độ quản lý sản
xuất – kinh doanh của doanh nghiệp, có các khoản mục chủ yếu: doanh thu từ
hoạt động sản xuất kinh doanh; doanh thu từ hoạt động tài chính; doanh thu tư
hoạt động bất thường và các chi phí tương ứng.
3. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ ( Báo cáo ngân quỹ )
Để đánh giá về khả năng chi trả của một doanh nghiệp cần tìm hiểu về
tình hình ngân quỹ của doanh nghiệp, bao gồm:
Chu Thị Phương - TCDN 44D
5
Chuyên đề tốt nghiệp
- Xác định hoặc dự baó dòng tiền thực nhập quỹ ( thu ngân quỹ ): dòng
tiền nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh; dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động đầu tư
tài chính; dòng tiền nhập quỹ từ hoạt động bất thường.
- Xác định hoặc dự báo dòng tiền thực xuất quỹ ( chi ngân quỹ ) : dòng
tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất kinh doanh; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt
động đầu tư, tài chính; dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường.
Trên cơ sở dòng tiền nhập và xuất quỹ, nhà phân tích thực hiện cân đối
ngân quỹ để xác định số dư ngân quỹ cuối kỳ. Từ đó, thiết lập mức dự phòng tối
thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi trả.
4. Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính sẽ cung cấp bổ sung cho các nhà quản lý
những thông tin chi tiết, cụ thể hơn về một số tình hình liên quan đến hoạt động
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngày nay thuyết minh báo
cáo tài chính vẫn chưa thực sự phổ biến, đặc biệt đối với các doanh nghiệp nhỏ
và vừa thường không áp dụng.
5. Bảng công khai báo cáo tài chính
Theo chế độ hiện hành (Điều 32, Điều 33 - Luật kế toán ) các doanh
nghiệp (Đơn vị kế toán ) thuộc hoạt động kinh doanh có trách nhiệm phải công
khai báo cáo tài chính năm trong thời hạn một năm hai mươi ngày, kể từ ngày
kết thúc kỳ kế toán năm. Nội dung công khai báo cáo tài chính của đơn vị kế
toán bao gồm các thông tin liên quan đến tình hình tài sản, nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu; kết quả hoạt động kinh doanh; tình hình trích lập và sử dụng các
quỹ; tình hình thu nhập của người lao động. Việc công khai báo cáo tài chính
được thực hiện theo các hình thức như: phát hành ấn phẩm, thông báo bằng văn
bản, niêm yết và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Đối với các doanh nghiệp Nhà nước ( bao gồm các Tổng công ty nhà
nước, công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tổng công ty Nhà nước, các
công ty Nhà nước độc lập, công ty cổ phần nhà nước, công ty có cổ phần hoặc
có vốn góp chi phối của Nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước một
thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn nhà nước có hai thành viên trở lên)
Chu Thị Phương - TCDN 44D
6
Chuyên đề tốt nghiệp
theo quy định tại Quyết định số 192/2004/QĐ – TTg và thông tư số 29/2005/TT
– BTC phải thực hiện công khai các nội dung thông tin tài chính về: tình hình tài
chính, kết quả hoạt động kinh doanh, việc trích lập sử dụng các quỹ doanh
nghiệp, các khoản đóng góp cho ngân sách nhà nước của doanh nghiệp, các
khoản thu nhập và thu nhập bình quân của người lao động, số vốn góp và hiệu
quả góp vốn của nhà nước tại doanh nghiệp. Căn cứ vào Bảng công khai một số
chỉ tiêu tài chính theo quy định, các nhà phân tích tài chính sẽ tiến hành phân
tích, xem xét và đưa ra nhận định về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh,…
của doanh nghiệp.
6. Các phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp.
Để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà phân tích
cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, nhận biết được và tập trung vào
các chỉ tiêu tài chính liên quan trực tiếp tới mục tiêu phân tích. Từ đó, sử dụng
các phương pháp phân tích để đánh giá và nhận biết xu thế thay đổi tình hình tài
chính của doanh nghiệp.
Một trong những phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến là
phương pháp tỷ số - phương pháp trong đó các tỷ số được sử dụng để phân
tích. Đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này so với chỉ tiêu khác. Đây
là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện áp dụng ngày càng được
bổ sung và hoàn thiện. Về nguyên tắc, phương pháp tỷ số cần phải xác định
được các ngưỡng – các tỷ số tham chiếu. Để đánh giá tình hình tài chính của
một doanh nghiệp cần kết hợp phương pháp tỷ số với phương pháp so sánh để
so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với các tỷ số tham chiếu. Khi phân tích, nhà
phân tích thường so sánh theo thời gian ( so sánh kỳ này với kỳ trước ) để nhận
biết xu thế thay đổi tình hình tài chính của doanh nghiệp, theo không gian ( so
sánh với mức trung bình ngành ) để đánh giá vị thế của doanh nghiệp trong
ngành.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể sử dụng phương pháp phân tích tài chính
DUPONT. Bản chất của phương pháp là tách một tỷ số tổng hợp phản ánh sức
sinh lợi của doanh nghiệp như: Thu nhập trên tài sản ( ROA ), Thu nhập sau
Chu Thị Phương - TCDN 44D
7
Chuyên đề tốt nghiệp
thuế trên vốn chủ sở hữu ( ROE ) thành tích số của chuỗi các tỷ số có mối quan
hệ nhân quả với nhau. Điều đó cho phép phân tích ảnh hưởng của các tỷ số đó
đối với tỷ số tổng hợp. Như vậy, với phương pháp này, chúng ta có thể nhận biết
được các nguyên nhân dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của
doanh nghiệp.
7. Đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp
Tuy nhiên, nếu chỉ phân tích tài chính thì chưa đủ để nhận xét, đánh giá,
hay đưa ra những quyết định quản lý quan trọng cho các nhà quản lý cũng như
những đối tượng quan tâm đến doanh nghiệp. Để quản lý tài chính của doanh
nghiệp có hiệu quả thì các nhà quản lý cần phải thực hiện khâu cuối cùng là
đánh giá hiệu quả tài chính. Đánh giá chính xác hiệu quả của hoạt động tài chính
để cải tiến các dây chuyền công tác, nâng cao năng suất trong hoạt động tài
chính trong tương lai. Trên cơ sở các tỷ số tài chính đã tính toán được, các nhà
quản lý sử dụng các chỉ tiêu khoa học, phương pháp so sánh, phân tích để đánh
giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Từ đó phản ánh đúng, rõ ràng, và sâu
sắc hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp, cùng những hạng mục kinh
doanh quan trọng có ảnh hưởng tới sự phát triển kinh doanh trong tương lai của
doanh nghiệp.
Nội dung chính của đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp bao
gồm:
• Đánh giá năng lực thanh toán
• Đánh giá năng lực cân đối vốn
• Đánh giá năng lực kinh doanh
• Đánh giá năng lực thu lợi
• Đánh giá tổng hợp hiệu quả tài chính
Như vậy, để đánh giá đúng và sâu sắc tình hình tài chính của một doanh
nghiệp, các nhà quản lý tài chính cần phân tích tài chính, từ đó đánh giá hiệu
quả tài chính của doanh nghiệp.
Chu Thị Phương - TCDN 44D
8
Chuyên đề tốt nghiệp
II. Phân tích và đánh giá hiệu quả tài chính doanh nghiệp.
1. Phân tích khái quát tình hình tài chính
Xem xét tình hình chung là xem xét sự thay đổi về tổng tài sản và nguồn
vốn qua các chu kỳ kinh doanh - thường là 1 năm. Sự thay đổi này phản ánh sự
thay đổi về quy mô tài chính của doanh nghiệp (Tuy nhiên đó chỉ đơn thuần là
sự thay đổi về số lượng mà chưa giải thích gì về hiệu quả, chất lượng tài chính ).
Đánh giá tổng tài sản tăng lên chủ yếu ở hạng mục nào (tài sản cố định/ tài sản
lưu động) và được hình thành từ nguồn nào (tăng lên ở khoản nợ hay vốn chủ sở
hữu tăng)
Ngoài ra, cần phải phân tích kết cấu tài sản và nguồn vốn. Về kết cấu tài
sản cần xem xét Tỷ suất đầu tư:
Tỷ suất đầu tư = (Tài sản cố định + Đầu tư dài hạn) / Tổng tài sản
Tỷ lệ này phản ánh đặc điểm khác nhau giữa các ngành nghề kinh doanh.
Chính sách kinh doanh của doanh nghiệp ( có doanh nghiệp đầu tư tài sản, có
doanh nghiệp không đầu tư mà đi thuê…). Tỷ lệ này thường cao ở các ngành
khai thác, chế biến dầu khí (đến 90%), ngành công nghiệp nặng (đến 70%) và
thấp hơn ở các ngành thương mại, dịch vụ (20%). Ngoài ra, tỷ lệ này cũng phản
ánh mức độ ổn định sản xuất kinh doanh lâu dài. Tỷ lệ này tăng lên, phản ánh
doanh nghiệp đang nỗ lực đầu tư cho một chiến lược dài hơn nhằm tìm kiếm lợi
nhuận ổn định lâu dài trong tương lai.
Về nguồn vốn, việc phân tích tập trung vào cơ cấu và tính ổn định của
nguồn vốn, vốn chủ sở hữu, vốn vay ngân hàng, vốn vay cổ đông v.v…vốn chủ
sở hữu chiếm tỷ lệ càng cao càng tốt, càng đảm bảo an toàn cho doanh nghiệp.
Cần xem xét tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh thông qua
chỉ tiêu Vốn lưu chuyển:
Vốn lưu chuyển = (Tài sản lưu động+Đầu tư ngắn hạn) - Nợ ngắn hạn
Thông qua chỉ tiêu này để thấy được khái quát về tính chắc chắn ổn định
của tài chính doanh nghiệp. Yêu cầu của chỉ tiêu này là phải dương và càng cao
càng tốt.
Chu Thị Phương - TCDN 44D
9
Chuyên đề tốt nghiệp
+ Nếu chỉ tiêu này dương biểu hiện tài sản cố định được tài trợ vững chắc
bằng nguồn vốn ổn định, không xảy ra tình trạng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn
để đầu tư tài sản cố định. Có khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Ngược lại, nếu
chỉ tiêu này có giá trị âm, có nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng nguồn vốn ngắn
hạn để đầu tư tài sản cố định. Tài sản cố định không được tài trợ đầy đủ bằng
nguồn vốn ổn định làm cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp không đảm
bảo.
Các chỉ tiêu trên chỉ có thể là những biểu hiện ban đầu về tình hình tài
chính của doanh nghiệp, giúp cho các nhà phân tích, các đối tượng quan tâm có
cái nhìn khái quát về tình hình tài chính của doanh nghiệp. Để có thể hiểu đúng,
sâu sắc về tình hình tài chính của doanh nghiệp, các nhà phân tích cần phân tích
tài chính doanh nghiệp thông qua các chỉ số tài chính.
2. Phân tích tài chính
Như đã đề cập ở trên, để phân tích tài chính doanh nghiệp, các nhà quản
lý có nhiều phương pháp sử dụng, nhưng phương pháp truyền thống và phổ biến
nhất là phương pháp tỷ số, được kết hợp với phương pháp so sánh. Vì vậy,
trước hết chuyên đề xin được trình bày phân tích tài chính theo phương pháp tỷ
số và thông qua đó, các nhà quản lý có thể đánh giá được hiệu quả tài chính của
doanh nghiệp
Trong phân tích tài chính, các tỷ số tài chính được sắp xếp thành các
nhóm chính:
- Nhóm các tỷ số thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán
- Nhóm các tỷ số đòn cân nợ - Đánh giá năng lực cân đối vốn
- Nhóm các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh
- Nhóm các tỷ số lợi nhuận – Đánh giá năng lực thu lời
Mỗi nhóm tỷ số có nhiều tỷ số mà trong từng trường hợp các tỷ số được
lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô và mục đích của hoạt động phân
tích tài chính.
2.1. Các tỷ số thanh khoản – Đánh giá năng lực thanh toán
Chu Thị Phương - TCDN 44D
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Năng lực thanh toán của doanh nghiệp là năng lực trả được nợ đáo hạn
của các loại tiền nợ của doanh nghiệp, là một tiêu chí quan trọng phản ánh tình
hình tài chính và năng lực kinh doanh của doanh nghiệp, đánh giá một mặt quan
trọng về hiệu quả tài chính của doanh nghiệp, thông qua việc đánh giá và phân
tích về mặt này có thể thấy rõ những rủi ro tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính thấp không những chứng tỏ doanh nghiệp bị căng
thẳng về tiền vốn, không có đủ tiền để chi tiêu trong việc kinh doanh hàng ngày,
mà còn chứng tỏ sự quay vòng của đồng vốn không nhanh nhạy, khó có thể
thanh toán được các khoản nợ đến hạn, thậm chí doanh nghiệp có thể đứng trước
nguy cơ bị phá sản. Vì trong quá trình kinh doanh, chỉ cần mức thu lợi của tiền
đầu tư lớn hơn lãi suất vốn vay sẽ có lợi cho cổ đông nhưng vay nợ quá nhiều sẽ
làm tăng rủi ro của doanh nghiệp. Vay vốn để kinh doanh có thể làm tăng lợi
nhuận của cổ phiếu từ đó làm tăng giá trị cổ phần của doanh nghiệp, nhưng rủi
ro tăng lên thì trên mức độ nào đó cũng làm giảm giá trị cổ phần.
Năng lực thanh toán của doanh nghiệp gồm: thanh toán nợ ngắn hạn và
thanh toán nợ dài hạn, trong đó nợ trung và dài hạn chủ yếu là cùng tiền lãi
trong quá trình kinh doanh để thanh toán. Nợ ngắn hạn chủ yếu là trông vào
năng lực lưu động và tài sản lưu động của doanh nghiệp làm đảm bảo. Việc
đánh giá năng lực thanh toán của doanh nghiệp phải bao gồm cả hai mặt: đánh
giá năng lực thanh toán nợ ngắn hạn và năng lực thanh toán nợ dài hạn.
Năng lực thanh toán nợ ngắn hạn là năng lực chi trả các khoản nợ ngắn
hạn. Các khoản nợ ngắn hạn còn được gọi là các khoản nợ lưu động, tức là các
khoản nợ có thời hạn trong vòng một năm. Loại nợ này phải thanh toán bằng
tiền mặt hoặc các tài sản lưu động khác. Các khoản nợ này có rủi ro cao đối với
tài chính của doanh nghiệp. Nếu không thanh toán đúng hạn thì sẽ làm cho
doanh nghiệp phải đứng trước nguy cơ vỡ nợ. Trong Bảng cân đối tài sản, các
khoản nợ ngắn hạn và tài sản lưu động có quan hệ đối ứng, phải dùng tài sản lưu
động để đối phó với các khoản nợ ngắn hạn.
a. Tỷ số luân chuyển tài sản lưu động - Khả năng thanh toán hiện hành (
The current ratio – Rc )
Chu Thị Phương - TCDN 44D
11
Chuyên đề tốt nghiệp
Công thức tính:
Rc = Tài sản lưu động / Các khoản nợ ngắn hạn
Trong đó, tài sản lưu động bao gồm tiền, các chứng khoán ngắn hạn dễ
chuyển nhượng, các khoản phải thu và dự trữ ( tồn kho ). Còn nợ ngắn hạn bao
gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng
khác, các khoản phải trả nhà cung cấp, các khoản phải trả, phải nộp khác. Cả tài
sản lưu động và nợ ngắn hạn đều có thời gian nhất định - thường là một năm.
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán
ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ ngắn
hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển đổi thành tiền trong một giai
đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó.
Tỷ số này có được chấp thuận hay không tuỳ thuộc vào sự so sánh với giá
trị trung bình của ngành và so sánh với các tỷ số của năm trước.
Khi giá trị của tỷ số này giảm có nghĩa là khả năng trả nợ của doanh
nghiệp giảm và cũng là dấu hiệu báo trước những khó khăn tài chính tiềm tàng.
Ngược lại, khi giá trị của tỷ số này cao hơn, có nghĩa là khả năng thanh toán nợ
của doanh nghiệp tăng, là dấu hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, khi giá trị của tỷ số
này quá cao thì có nghĩa là doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu
động. Điều này có thể do sự quản trị tài sản lưu động còn chưa hiệu quả nên còn
quá nhiều tiền mặt nhàn rỗi hoặc do quá nhìều nợ phải đòi v.v…làm giảm lợi
nhuận của doanh nghiệp. Nói chung, tỷ số luân chuyển tài sản lưu động hay tỷ
số thanh toán hiện hành trong khoảng 1 – 2 là vừa, nhưng trong thực tế khi phân
tích tỷ số này cần kết hợp với đặc điểm ngành nghề khác nhau và các yếu tố
khác như: cơ cấu tài sản lưu động của doanh nghiệp, năng lực biến động thực tế
của tài sản lưu động. Có ngành có tỷ số này cao, nhưng cũng có ngành nghề có
tỷ số này thấp, không thể nói chung chung được và cũng không thể dựa vào kinh
nghiệm được….
Ngoài ra, khi đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn khi
đến hạn, chúng ta cần phải quan tâm đến chỉ tiêu: Vốn lưu động ròng
Chu Thị Phương - TCDN 44D
12
Chuyên đề tốt nghiệp
b. Vốn lưu động ròng
Công thức tính:
Vốn lưu động ròng = Tổng tài sản lưu động – Tổng nợ ngắn hạn.
Vốn lưu động ròng còn được gọi là vốn kinh doanh, là phần tài sản lưu
động vượt quá các khoản nợ ngắn hạn, là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá
năng lực thanh toán của doanh nghiệp. Tình hình vốn lưu động không chỉ quan
trọng đối với nội bộ doanh nghiệp mà còn là một chỉ tiêu được dùng rộng rãi để
ước lượng những rủi ro tài chính của doanh nghiệp. Trong trường hợp các nhân
tố khác như nhau, doanh nghiệp có vốn lưu động ròng càng cao càng tốt vì càng
có thể thực hiện được nhiệm vụ tài chính trong kỳ. Vì vốn lưu động ròng là một
chỉ tiêu quan trọng ước lượng các rủi ro tài chính, cho nên tình hình vốn kinh
doanh còn ảnh hưởng tới năng lực vay nợ để tạo vốn. Lượng vốn lưu động ròng
cao hay thấp được quyết định bởi mức độ tiền mặt vào ra của doanh nghiệp. Có
nghĩa, nếu lượng tiền mặt vào ra của doanh nghiệp không có tính chính xác thì
doanh nghiệp đó cần phải duy trì nhiều vốn lưu động ròng để chuẩn bị trả nợ
đáo hạn trong kỳ. Do đó, cho thấy tính khó dự đoán của lượng tiền mặt và tính
không điều hoà của lượng tiền vào ra làm cho doanh nghiệp phải duy trì một
mức vốn lưu động ròng cần thiết.
Trong thực tế, người ta thường hay so sánh lượng vốn lưu động với các trị
số của năm trước để xác định lượng vốn có hợp lý hay không. Vì quy mô của
doanh nghiệp là khác nhau nên so sánh giữa các doanh nghiệp khác nhau là
không có ý nghĩa.
Khả năng đáp ứng nghĩa vụ thanh toán, mở rộng quy mô sản xuất kinh
doanh và khả năng nắm bắt thời cơ thuận lợi của nhiều doanh nghiệp phụ thuộc
vào Vốn lưu động ròng. Do vậy mà nhiều doanh nghiệp thể hiện sự phát triển ở
sự tăng trưởng Vốn lưu động ròng.
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, tỷ số luân chuyển tài sản lưu động - tỷ
số thanh toán hiện hành – không phản ánh chính xác khả năng thanh toán, do
nếu hàng tồn kho là những loại hàng hoá khó bán thì doanh nghiệp rất khó biến
Chu Thị Phương - TCDN 44D
13
Chuyên đề tốt nghiệp
chúng thành tiền. Do vậy, khi phân tích, chúng ta cần phải quan tâm đến tỷ số
thanh toán nhanh.
c. Tỷ số thanh toán nhanh ( The quick Ratio – Rq )
Công thức tính:
Rq = ( Tài sản lưu động – Hàng tồn kho ) / các khoản nợ ngắn hạn
Trong đó, tài sản lưu động trừ đi hàng tồn kho còn được gọi là tài sản
vòng quay nhanh. Do hàng tồn kho ( Dự trữ ) là các tài sản có tính thanh khoản
thấp nhất trong tổng tài sản lưu động, mất nhiều thời gian và dễ bị lỗ nhất khi
bán nên không được tính vào tỷ số thanh toán nhanh.
Tỷ số thanh toán nhanh cho biết khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn
không phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ ( tồn kho ). Do đó, có thể thấy tỷ số
thanh toán nhanh phản ánh chính xác hơn, chân thực hơn về khả năng thanh toán
ngắn hạn.
Tỷ số thanh toán nhanh thấp hơn năm trước có nghĩa là những thay đổi về
chính sách tín dụng và cơ cấu tài trợ đã làm khả năng thanh toán của doanh
nghiệp yếu đi, và ngược lại. Tuy nhiên, tỷ số này cũng cần tuỳ theo sự cần thiết
của ngành: các ngành nghề khác nhau thì yêu cầu đối với tỷ số thanh toán nhanh
cũng khác nhau. Ví dụ, các ngành dịch vụ thì cần tiêu thụ nhiều tiền mặt, các
khoản cần thu lại tương đối ít, do đó cho phép duy trì tỷ số này thấp hơn 1.
Ngoài ra, vì các khoản nợ của doanh nghiệp không thể tập trung thanh toán vào
cùng một thời kỳ, nên tỷ suất thanh toán nhanh nhỏ hơn 1 không có nghĩa là
không an toàn mà chỉ cần lượng tài sản lưu động nhanh lớn hơn những khoản nợ
cần phải trả ngay trong kỳ gần nhất là có thể chứng tỏ rằng tính an toàn được
đảm bảo.
2.2. Các tỷ số hoạt động – Đánh giá năng lực kinh doanh
Năng lực kinh doanh của doanh nghiệp là năng lực tuần hoàn của vốn
doanh nghiệp, là một mặt quan trọng đánh giá hiệu quả tài chính của doanh
nghiệp. Vì vốn của doanh nghiệp được sử dụng để đầu tư vào các loại tài sản: tài
sản lưu động và tài sản cố định, nên cần phải đo lường hiệu quả sử dụng tổng tài
sản, và từng bộ phận cấu thành tổng tài sản. Nói chung, sự tuần hoàn vốn của
Chu Thị Phương - TCDN 44D
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét