Thứ Năm, 13 tháng 2, 2014

Những nét cơ bản nhất của lịch sử hình thành phép biện chứng (2)

- Vô ngã là không có cái tôi bất biến. Cách nhìn này hoàn toàn đối lập
với cách nhìn siêu hình về tồn tại. Cũng từ cách nhìn này, triết học Phật giáo
đưa ra những nguyên lý về mối liên hệ tất định, phổ biến: không có cái nào là
biệt lập tuyệt đối so với tồn tại khác, tất cả đều hoà đồng nhau.
- Vô thường nói lên sự biến đổi không ngừng của vạn vật, không có cái
gì đứng im. Quy luật vô thường của mọi tồn tại là Sinh - Trụ - Dị - Diệt.
Đây là một phỏng đoán biện chứng về sự biến đổi của tồn tại.
- Quy luật nhân quả cho rằng sự tồn tại đa dạng và phong phú của thế
giới đều có nguyên nhân tự thân, đó là quy luật nhân quả, một định lý tất định
và phổ biến của mọi tồn tại, dù đó là vũ trụ hay nhân sinh.
Triết học ấn Độ là một trong những nôi triết học vĩ đại của loài người
thời kỳ cổ đại. Nó chứa đựng những yếu tố duy vật, vô thần và đã manh nha
hình thành các tư tưởng biện chứng sơ khai. Tuy nhiên, tư duy triết học thời kỳ
này cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: coi linh hồn con người là bất tử (đạo Phật)
hay phán đoán về thế giới hiện tượng của phái Jaina.
2. Phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại
Trung Quốc là một quốc gia rộng lớn và có lịch sử phát triển lâu đời vào
bậc nhất thế giới. Đó là một trong những trung tâm tư tưởng lớn nhất của nhân
loại thời cổ. Triết học Trung Quốc cổ đại chịu sự chi phối trực tiếp của những
vấn đề chính trị xuất phát từ hiện trạng xã hội biến động đương thời. Chính vì
vậy trong thời kỳ này, các triết gia Trung Quốc thường đẩy sâu quá trình suy tư
về các vấn đề thuộc vũ trụ quan và biến dịch luận. Song cần phải khẳng định
rằng, chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại
là chủ nghĩa duy vật chất phác và phép biện chứng tự phát. Có thể thấy một số
tư tưởng biện chứng nổi bật của triết học Trung Quốc cổ đại qua một số trường
phái triết học sau:
a. Trường phái triết học Âm Dương gia
Về căn bản, những kiến giải về vũ trụ quan của triết học Trung Quốc cổ
đại mang tinh thần biện chứng sâu sắc (nếu hiểu theo nguyên tắc: phép biện
5
chứng là học thuyết triết học về sự biến đổi). Điển hình cho tư duy này là học
thuyết Âm - Dương. Nội dung triết học căn bản của phái Âm -Dương là lý luận
về sự biến dịch, được khái quát thành những nguyên lý phổ biến, khách quan
và tất yếu.
Một là, phái Âm - Dương nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong tính
đồng nhất tuyệt đối. Trái lại, tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối
lập, gọi là sự thống nhất của Âm và Dương. Nói cách khác, Âm -Dương là đối
lập nhau nhưng là điều kiện tồn tại của nhau. Hơn nữa, học thuyết Âm - Dương
còn thừa nhận mọi thực tại trên tinh thần biện chứng là trong mặt đối lập này đã
bao hàm khả năng của mặt đối lập kia. Đây là một cách lý giải biện chứng về
sinh thành, về vận động.
Hai là, nguyên lý của sự sinh thành và vận động là có tính quy luật, chu
kỳ và chu kỳ đó được bảo đảm bởi nguyên tắc cân bằng Âm - Dương.
Ba là, nguyên lý phân đôi cái thống nhất trong lôgíc của sự vận động là
một nguyên lý tất định. Nguyên lý đó được khái quát bằng một lôgíc như sau:
Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái,
Bát quái tương thôi sinh vô cùng (vạn vật).
Về bản thể luận, phái Âm - Dương quy thế giới về những dạng vật chất
cụ thể và coi chúng là nguồn gốc sinh ra vạn vật. Theo phái này, nguyên thuỷ
của thế giới bao gồm Kim - Mộc - Thuỷ - Hoả - Thổ.
b. Triết học của phái Đạo gia
Người khởi xướng triết học phái Đạo gia là Lão Tử. Những ý kiến luận
giải về Đạo, coi Đạo là nguyên lý duy nhất và tuyệt đối trong sự vận hành của
vũ trụ đã thể hiện rất sâu sắc quan điểm biện chứng của Lão Tử. Trong đó nổi
bật lên hai quan điểm về phép biện chứng của ông là quan điểm về luật quân
bình và quan điểm về luật phản phục. Luật quân bình để giữ cho sự vận hành
của vạn vật được cân bằng, không thái quá mà cũng không bất cập. Phản phục
là nói lên tính tuần hoàn, tính chu kỳ trong quá trình biến dịch của vạn vật.
Sự thống nhất biện chứng của các mặt đối lập cũng là một tư tưởng biện
6
chứng độc đáo của Lão Tử. Ông cho rằng: có và không sinh lẫn nhau, dễ và
khó tạo nên nhau, ngắn và dài làm rõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và
sau theo nhau. Trong đó, mỗi mặt đều trong mối quan hệ với mặt đối lập,
không có mặt này thì cũng không có mặt kia và giữa chúng chỉ là tương đối.
Tuy nhiên, sự đấu tranh chuyển hoá của các mặt đối lập trong sự vật, hiện
tượng không theo khuynh hướng phát triển, xuất hiện cái mới mà theo vòng
tuần hoàn của luật phản phục. Hơn nữa, Lão Tử không chủ trương giải quyết
mâu thuẫn bằng đấu tranh của các mặt đối lập mà ông chủ trương lấy cái tĩnh,
cái vô vi để tạo thành sự chuyển hoá theo luật quân bình. Chính vì thế, phép
biện chứng của ông mang tính chất máy móc, lặp đi lặp lại một cách tuần hoàn.
Trang Tử cũng là một nhà tư tưởng lớn của phái Đạo gia. Học thuyết của
Trang Tử có những yếu tố duy vật và biện chứng tự phát, nhưng thế giới quan
của ông về cơ bản nghiêng về chủ nghĩa duy tâm. Khi quan niệm về vũ trụ (về
Đạo), Trang Tử cho rằng Đạo trời là tự nhiên vốn có không ai sinh ra. Vạn vật
đều sinh ra từ Đạo và biến hoá một cách tự nhiên.
c. Triết học của phái Danh gia
Các tư tưởng biện chứng của phái Danh gia trước hết được thể hiện qua
thuyết tương đối của Huệ Thi. Huệ Thi quan niệm vạn vật trong vũ trụ luôn
biến đổi, chúng có tính tương đối và hàm chứa trong đó những mặt đối lập liên
hệ chuyển hoá qua lại với nhau. Nhưng do tuyệt đối hoá tính chất tương đối của
sự vật, thực tại, tách rời nó với những điều kiện, những mối liên hệ cụ thể nên
về cơ bản, triết học của Huệ Thi mang tính ngụy biện và tương đối luận.
Một biện giả khác của phái Danh gia là Công Tôn Long. Tư tưởng biện
chứng tự phát của Công Tôn Long thể hiện ở quan điểm về tính chất mâu thuẫn
của sự vận động, sự thống nhất biện chứng giữa cái vô hạn và hữu hạn, giữa
đồng nhất và khác biệt. Trong đó, Công Tôn Long đưa ra những mệnh đề có
tính chất ngụy biện, chiết trung như: ngựa trắng không phải là ngựa, trứng có
lông, bóng chim bay không hề động đậy. Nếu Huệ Thi chỉ chú trọng đến tính
chất tương đối, sự luôn biến đổi của sự vật, hiện tượng trong hiện thực, phóng
7
đại một cách phiến diện mặt tương đối của sự vật và đưa đến kết luận tương
đối chủ nghĩa thì Công Tôn Long lại nhấn mạnh tính tuyệt đối, tính không biến
đổi và sự tồn tại độc lập của những khái niệm so với cái được phản ánh trong
khái niệm ấy. Công Tôn Long đã tách rời cái chung, cái phổ biến ra khỏi những
cái riêng, cái cá biệt đi tới phủ nhận sự tồn tại của những cái cụ thể trong hiện
thực.
d. Triết học của phái Pháp gia
Hàn phi là một đại biểu của phái Pháp gia. Kiên quyết phủ nhận lý luận
chính trị thần quyền, Hàn Phi được coi là một nhà vô thần luận nổi tiếng của
Trung Quốc cổ đại. Các tư tưởng triết học của ông biểu hiện rõ tính chất duy
vật và biện chứng tự phát về lịch sử và phương pháp trị nước. Về lịch sử, Hàn
Phi cho rằng lịch sử xã hội loài người luôn biến đổi, từ trước tới nay không có
chế độ xã hội nào vĩnh viễn tồn tại. Mặt khác, ông cho rằng động lực căn bản
quyết định sự biến đổi của lịch sử là do sự thay đổi dân số và của cải xã hội
nhiều ít. Do vậy, khi bàn về phương pháp trị nước, ông cho rằng kẻ thống trị
phải căn cứ vào nhu cầu khách quan của lịch sử, tuỳ đặc điểm, hoàn cảnh thời
thế mà lập ra chế độ, đặt chính sách và phương pháp trị nước mới cho phù hợp.
Không có thứ luật nào luôn luôn đúng với mọi thời đại. Tuy Hàn Phi chưa thấy
được động lực thực sự của lịch sử, nhưng ông đã cố gắng đi tìm nguyên nhân
biến đổi của đời sống xã hội trong điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội.
Tóm lại, do sự hạn chế của trình độ hoạt động thực tiễn và trình độ nhận
thức, triết học Trung Quốc cổ đại mới chỉ dừng lại ở chủ nghĩa duy vật chất
phác, cảm tính và phép biện chứng tự phát, sơ khai. Song với các quan điểm
biện chứng trong cách kiến giải về vũ trụ quan, có thể nói triết học Trung Quốc
cổ đại đã đặt cơ sở rộng lớn cho sự phát triển các tư tưởng biện chứng của triết
học nhân loại.
3. Phép biện chứng trong triết học Hy Lạp cổ đại
Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI trước CN. Cơ sở
kinh tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất
8
và người nô lệ. Khoa học lúc đó chưa phân ngành, các nhà triết học đồng thời
là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ
đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai. Đời sống chính trị
của Hy Lạp bấy giờ sôi động, những quan hệ thương mại với nhiều nước khác
nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức
muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự quan sát các hiện tượng tự nhiên một
cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một
cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát triển thế giới quan duy vật và
biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại. Có thể tìm hiểu các tư tưởng biện chứng
nổi bật của triết học Hy Lạp cổ đại qua một số đại diện tiêu biểu sau đây:
a. Talét
Thành tựu nổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng
tự phát. Ông cho rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong
thế giới. Mọi vật đều sinh ra từ nước và khi phân huỷ lại biến thành nước. Theo
Talét, vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không
ngừng, sinh ra và chết đi. Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong
đó mọi vật biến đổi không ngừng mà nền tảng là nước. Tuy nhiên, các quan
điểm triết học duy vật của Talét mới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ,
cảm tính. Ông chưa thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo
nguyên thuỷ khi ông cho rằng thế giới đầy rẫy những vị thần linh.
b. Anaximăngđrơ
Ông là người Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc vấn đề phát sinh và
phát triển của các loài động vật. Theo ông, động vật phát sinh dưới nước và sau
nhiều năm biến hoá thì một số giống loài dần thích nghi với đời sống trên cạn,
phát triển và hoàn thiện dần; con người hình thành từ sự biến hoá của cá. Phỏng
đoán của ông còn chưa có căn cứ khoa học song đã manh nha thể hiện yếu tố
biện chứng về sự phát triển của các giống loài động vật. Khi giải quyết vấn đề
bản thể luận triết học, Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở hình thành vạn vật trong
vũ trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh
9
viễn mà người ta không thể trực quan thấy được. Nếu so với Talét thì
Anaximăngđrơ có bước tiến xa hơn trong sự khái quát trừu tượng về phạm trù
vặt chất.
c. Hêraclít
Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác-Lênin, Hêraclít là người sáng
lập ra phép biện chứng, hơn nữa, ông là người xây dựng phép biện chứng trên
lập trường duy vật. Phép biện chứng của Hêraclít chưa được trình bày dưới
dạng một hệ thống các luận điểm khoa học như sau này, nhưng hầu như các
luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đã được ông đề cập dưới dạng các câu
danh ngôn mang tính thi ca và triết lý. Các tư tưởng biện chứng của ông thể
hiện trên các điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất. Theo Hêraclít,
không có sự vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả
đều trong trạng thái biến đổi và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại.
Thứ hai, quan niệm về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi
sự vật, hiện tượng. Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò
của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi
của những mặt đối lập, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập.
Thứ ba, theo Hêraclít, sự vận động và phát triển không ngừng của thế
giới do quy luật khách quan (logos) quy định. Logos khách quan là trật tự
khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ. Logos chủ quan là từ ngữ,
học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người. Logos chủ quan phải phù hợp với
logos khách quan.
Lý luận nhận thức của Hêraclít còn mang tính chất duy vật và biện chứng
sơ khai, nhưng về cơ bản là đúng đắn. Ở thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống
triết học khác không có tư tưởng biện chứng nào sâu sắc như vậy. Heraclít đã
đưa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểm duy
vật và những yếu tố biện chứng. Học thuyết của ông đã được nhiều nhà triết
học cận đại, hiện đại kế thừa và phát triển sau này. Mác và Ăngghen đã đánh
10
giá một cách đúng đắn giá trị triết học của Hêraclít, coi ông là đại biểu xuất sắc
của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại. Tuy nhiên, Mác và Ăngghen cũng vạch rõ
những hạn chế, sai lầm của Hêraclít về mặt chính trị. Đó là tính chất phản dân
chủ, thù địch với nhân dân và ông chủ trương dùng chính quyền để dập tắt
nhanh chóng phong trào dân chủ.
d. Pácmênít
Khái niệm trung tâm trong triết học của Pácmênít là tồn tại hết sức trừu
tượng song cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng tự phát. Ông cho rằng với
cách nhìn cảm tính thì thế giới vô cùng đa dạng, phong phú, biến đổi không
ngừng và vô cùng sinh động. Nhưng bằng con đường cảm tính đơn thuần
không thể khám phá ra bản chất đích thực của thế giới. Chỉ với cách nhìn triết
học phù hợp với trí tuệ lý tính mới khám phá ra bản chất đích thực của thế giới.
Ông cho rằng bản chất của mọi vật trong thế giới là tồn tại. Học thuyết về tồn
tại của Pácmênít đánh dấu một bước tiến mới trong sự phát triển tư tưởng triết
học Hy Lạp, mang tính khái quát cao. Tuy nhiên, hạn chế trong học thuyết về
tồn tại của ông là ở chỗ ông đã đồng nhất tuyệt đối giữa tư duy và tồn tại và
mang tính chất siêu hình vì ông cho rằng tồn tại là bất biến.
e. Dênông
Dênông là học trò của Pácmênít. Công lao của ông là đã đặt ra nhiều vấn
đề biện chứng sâu sắc về mối liên hệ giữa tính thống nhất và tính nhiều vẻ của
thế giới, giữa vận động và đứng im, giữa tính gián đoạn của thời gian và không
gian, giữa tính hữu hạn và tính vô hạn, và về sự phức tạp trong việc thể hiện
quá trình vận động biện chứng của sự vật vào tư tưởng, vào lôgíc của khái
niệm. Tuy nhiên, những nghịch lý Apôria của ông chỉ có thể được giải quyết
nếu đứng trên lập trường duy vật biện chứng trong nhận thức sự vật.
f. Empêđôcơlơ
Empêđôcơlơ cho rằng nguồn gốc vận động của mọi sự vật là do sự tác
động của hai lực đối lập là Tình yêu và Căm thù. Quan điểm này là một bước
thụt lùi so với Hêraclít, bởi vì triết học Hêraclít giải thích nguồn gốc vận động
11
của vật chất là do sự xung đột của những mặt đối lập nội tại của sự vật. tuy
nhiên, Empêđôcơlơ cũng có một số phỏng đoán thiên tài về sự tiến hoá của giới
hữu cơ. Sự giải thích này của ông tuy còn ngây thơ nhưng đã manh nha hình
thành tư tưởng biện chứng về quá trình tiến hoá của sinh vật theo con đường từ
thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp.
g. Đêmôcrít
Đêmôcrít là một trong những người đã phát triển thuyết nguyên tử lên
một trình độ mới. Một mặt, ông tán thành lý thuyết tồn tại duy nhất và bất biến
của Pácmênít khi coi các nguyên tử là bất biến, mặt khác, ông kế thừa quan
điểm của Hêraclít cho rằng mọi sự vật biến đổi không ngừng. Đêmôcrít đã nêu
ra lý thuyết về vũ trụ học. Lý thuyết này được xây dựng trên cơ sở lý luận
nguyên tử về cấu tạo của vật chất, thấm nhuần tinh thần biện chứng tự phát và
có một ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử triết học. Đêmôcrít khẳng định: vũ trụ là
vô tận và vĩnh viễn, có vô số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu
diệt. Quan điểm của Đêmôcrít về vận động gắn liền với vật chất là một phỏng
đoán có giá trị đặc biệt. Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông
đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử ở bản thân nguyên
tử, ở động lực tự thân, tự nó. Tuy nhiên ông đã không lý giải được nguồn gốc
của vận động. Dựa trên học thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đã đi tới quan điểm
quyết định luận. Đó là thừa nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên
và khách quan của các hiện tượng tự nhiên. Đây là một quan điểm có giá trị của
Đêmôcrít đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại. Về mặt bản thể luận,
Đêmôcrít đã có công đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới. Khác
với nhiều nhà triết học trước đó, phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt
đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã chia nhận thức thành hai
dạng là nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý. Mặc dù triết học của
Đêmôcrít còn mang tính chất thô sơ, chất phác song những đóng góp của ông
về các tư tưởng biện chứng và thế giới quan duy vật là rất đáng ghi nhận.
h. Xôcrát và Platôn
12
Xôcrát và Platôn là hai đại diện tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm
Hy Lạp cổ đại. Triết học Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra bước
tiến mới trong sự phát triển triết học Hy Lạp cổ đại. Nếu các nhà triết học trước
Xôcrát chủ yếu bàn về vấn đề khởi nguyên thế giới, về nhận thức luận thì
Xôcrát là người đầu tiên đưa đề tài con người trở thành chủ đề trọng tâm
nghiên cứu của triết học phương Tây. Theo Xôcrát, ý thức về sự vật của những
người trong đàm thoại, ngoài những yếu tố chủ quan còn có nội dung khách
quan, có tri thức phổ biến mang tính tổng quát. Ông cho rằng nếu không hiểu
cái chung, cái phổ biến thì người ta không thể phân biệt được cái thiện - cái ác,
cái tốt - cái xấu. Muốn phát hiện ra cái thiện phổ biến thì phải có phương pháp
tìm ra chân lý thông qua các cuộc tranh luận, toạ đàm, luận chiến. Đây chính là
yếu tố biện chứng trong triết học Xôcrát, song nó lại dựa trên lập trường duy
tâm vì Xôcrát cho rằng giới tự nhiên là do thần thánh an bài.
Platôn là học trò của Xôcrát. Các quan điểm triết học của ông chứa đựng
những yếu tố biện chứng. Ông thừa nhận sự vận động của thế giới song đó chỉ
là vận động theo sự điều khiển của ý niệm. Ông chia thế giới thành hai loại:
- Thế giới của những ý niệm: là thế giới tồn tại chân thực, bất biến, vĩnh
viễn, tuyệt đối và là cơ sở tồn tại của thế giới các sự vật cảm tính.
- Thế giới của các sự vật cảm tính: là thế giới tồn tại không chân thực,
thường xuyên biến đổi và phụ thuộc vào thế giới của những ý niệm.
Lý luận nhận thức của Platôn cũng chứa đựng những yếu tố biện chứng
thông qua các khái niệm đối lập và phương pháp đối chiếu những mặt đối lập.
Nhưng đó là biện chứng duy tâm - biện chứng của các khái niệm, tách rời hiện
thực, từ bỏ cảm giác, chỉ nhận thức bằng tư duy thuần tuý.
Tóm lại, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát và Platôn còn nhiều hạn
chế do chịu sự tác động của điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội đương thời.
Song sự xuất hiện của hệ thống triết học Platôn cùng với phép biện chứng duy
tâm đã để lại dấu ấn trong lịch sử triết học bằng cuộc đấu tranh giữa hai đường
lối triết học Đêmôcrít và Platôn, tạo điều kiện cho tư duy triết học Hy Lạp cổ
13
đại có cơ hội khám phá và phát triển.
i. Arixtốt
Xu hướng duy vật và tư tưởng biện chứng trong triết học tự nhiên của
Arixtốt thể hiện ở ông thừa nhận tự nhiên là toàn bộ sự vật có một bản thể vật
chất mãi mãi vận động và biến đổi, không có bản chất của sự vật tồn tại bên
ngoài sự vật, hơn nữa sự vật nào cũng là một hệ thống và có quan hệ với các sự
vật khác. Ông cho rằng, vận động gắn liền với các vật thể, với mọi sự vật hiện
tượng của giới tự nhiên. Ông cũng khẳng định, vận động là không thể bị tiêu
diệt, đã có vận động và mãi mãi sẽ có vận động. Trong lập luận này, ông đã
tiến gần đến quan niệm vận động là tự thân của vật chất. Song cuối cùng ông
lại rơi vào duy tâm khi cho rằng thần thánh là nguồn gốc của mọi vận động.
Tuy nhiên, nếu như trước đây Hêraclít và Đêmôcrít chưa phân biệt được các
hình thức của vận động thì đến Arixtốt là người đầu tiên đã hệ thống hoá các
hình thức vận động thành sáu dạng khác nhau. Lý thuyết về vận động của
Arixtốt là một thành quả có giá trị cao của khoa học cổ Hy Lạp. Về lôgíc học,
Arixtốt đã cố gắng giải quyết mối quan hệ thống nhất biện chứng giữa cái
chung và cái riêng nhưng ông không giải quyết được vấn đề chuyển hoá từ cái
riêng thành cái chung. Lôgíc học hình thức của Arixtốt tuy chưa hoàn hảo song
ông đã để lại cho nhân loại một môn khoa học về tư duy. Chính ông đã nghiên
cứu những hình thức căn bản nhất của tư duy biện chứng mà không tách rời
chúng khỏi hiện thực. Tuy nhiên, do hạn chế về lịch sử và là nhà tư tưởng của
giai cấp chủ nô Hy Lạp cho nên về bản thể luận triết học, ông dao động giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm nên ông lại rơi vào phái nhị nguyên
luận.
Tóm lại, triết học Hy Lạp cổ đại đã thể hiện rất rõ nét cuộc đấu tranh giữa
biện chứng và siêu hình mà song song với nó là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Với các thành tựu nổi bật như thuyết nguyên tử
của Đêmôcrít, phép biện chứng duy tâm của Xôcrát, Platôn và phép biện chứng
chất phác của Arixtốt, triết học Hy Lạp cổ đại đã bao chứa mầm mống của tất
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét