Nh chúng ta đã biết xuất khẩu hàng hoá xuất hiện từ rất sớm. Nó là hoạt
động buôn bán trên phạm vi giữa các quốc gia với nhau(quốc tế). Nó không
phải là hành vi buôn bán riêng lẻ, đơn phơng mà ta có cả một hệ thống các
quan hệ buôn bán trong tổ chức thơng mại toàn cầu. Với mục tiêu là tiêu thụ
sản phẩm của một doanh nghiệp nói riêng cả quốc gia nói chung.
Hoạt động xuất khẩu là một nội dung chính của hoạt động ngoại thơng
và là hoạt động đầu tiên của thơng mại quốc tế. Xuất khẩu có vai trò đặc biệt
quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng nh trên
toàn thế giới.
Xuất khẩu hàng hoá nằm trong lĩnh vực lu thông hàng hoá là một trong
bốn khâu của quá trình sản xuất mở rộng. Đây là cầu nối giữa sản xuất và
tiêu dùng của nớc này với nớc khác. Có thể nói sự phát triển của của xuất
khẩu sẽ là một trong những động lực chính để thúc đẩy sản xuất.
Trớc hết, xuất khẩu bắt nguồn từ sự đa dạng về điều kiện tự nhiện của
sản xuất giữa các nớc, nên chuyên môn hoá một số mặt hàng có lợi thế và
nhập khẩu các mặt hàng khác từ nớc ngoài mà sản xuất trong nớc kém lợi thế
hơn thì chắc chắn sẽ đem lại lợi nhuần lớn hơn.
2.2 Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia
Xuất khẩu là một trong những tố tạo đà, thúc đẩy sự tăng trởng và phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Theo nh hầu hết các lý thuyết về tăng trởng và phát triển kinh tế đều
khẳng định và chỉ rõ để tăng trởng và phát triển kinh tế mỗi quốc gia cần có
bốn điều kiện là nguồn nhân lực, tài nguyên, vốn, kỹ thuật, công nghệ. Nhng
hầu hết các quốc gia đang phát triển (nh Việt Nam ) đều thiếu vốn, kỹ thuật
công nghệ. Do vậy câu hỏi đặt ra làm thế nào để có vốn và công nghệ
2.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp
hoá, hiện đại hoá đất nớc
5
Đối với nớc ta hiện nay để thực hiện để thực hiện đờng lối của Đảng và
nhà nớc đến năm 2020 thực hiện xong công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải
cần một nguồn vốn ngoại tệ lớn để nhập các trang thiết bị kỹ thuật công nghệ
hiện đại. Ngoài những nguồn vốn viện trợ chúng ta cần phải tăng cờng xuất
khẩu để đảm bảo cho khả năng thanh toán, cân bằng cán cân thanh toán quốc
tế, tạo đợc một khối lợng vốn cần thiết để đáp ứng nhu cầu hoạt động kinh tế
của nớc ta trong thời kỳ mới này.
Đối với mọi quốc gia đang phát triển thì bớc đi thích hợp nhất là phải
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc để khắc phục tình trạng nghèo làn lạc
hậu chận phát triển. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hoá phải có một lợng
vốn lớn để nhập khẩu công nghệ thiết bị tiên tiến.
Thực tế cho thấy, để có nguồn vốn nhập khẩu một nớc có thể sử dụng
nguồn vốn huy động chính nh sau:
+ Đầu t nớc ngoài, vay nợ các nguồn viện trợ
+ Thu từ các hoạt động du lịch dịch vụ thu ngoại tệ trong nớc
+ Thu từ hoạt động xuất khẩu
Tầm quan trọng của vốn đầu t nớc ngoài thì không ai có thể phủ nhận đ-
ợc, song việc huy động chúng không phải rễ dàng. Sử dụng nguồn vốn này,
các nớc đi vay phải chịu thiệt thòi, phải chịu một số điều kiện bất lợi và sẽ
phải trả sau này.
Bởi vì vậy xuất khẩu là một hoạt động tạo một nguồn vốn rất quan trọng
nhất. Xuất khẩu tạo tiền đề cho nhập khẩu, nó quyết định đến qui mô tốc độ
tăng trởng của hoạt động nhập khẩu. ở một số nớc một trong những nguyên
nhân chủ yếu của tình trạng kém phát triển là do thiếu tiềm năng về vốn do
đó họ cho nguồn vốn ở bên ngoài là chủ yếu, song mọi cơ hội đầu t vay nợ và
viện trợ của nớc ngoài chỉ thuận lợi khi chủ đầu t và ngời cho vay thấy đợc
khả năng sản xuất và xuất khẩu nguồn vốn duy nhất để trả nợ thành hiện
thực .
6
2.2.2 Xuất khẩu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy sản xuất
phát triển
Dới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã
và đang thay đổi mạnh mẽ. Xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của
các quốc gia từ nông nghiệp chuyển sang công nghiệp và dịch vụ.
Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Thứ nhất, chỉ xuất khẩu những sản phẩm thừa so với nhu cầu tiêu dùng
nội địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển sản xuất
về cơ bản cha đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự d thừa ra của sản xuất
thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi nhỏ và tăng trởng chậm, do đó các
ngành sản xuất không có cơ hội phát triển.
Thứ hai, coi thị trờng thế giới để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan
điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thúc đẩy xuất
khẩu. Nó thể hiện:
+ Xuất khẩu tạo tiền đề cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. Điều
này có thể thông qua ví dụ nh khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu, các
ngành khác nh bông, kéo sợi, nhuộm, tẩy sẽ có điều kiện phát triển.
+ xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trờng sản phẩm, góp phầnổn định
sản xuất, tạo lợi thế nhờ quy mô.
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, mở rộng thị trờng tiêu dùng của một quốc gia. Nó cho phép một quốc
gia có rthể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lơng lớn hơn nhiều lần giới
hạn khả năng sản xuất của quốc gia đó thậm chí cả những mặt hàng mà họ
không có khả năng sản xuất đợc.
+ Xuất khẩu góp phần thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cờng hiệu quả
sản xuất của từng quốc gia. Nó cho phép chuyên môn hoá sản xuất phát triển
cả về chiều rộng và chiều sâu. Trong nền kinh tế hiện đại mang tính toàn cầu
7
hoá nh ngày nay, mỗi loại sản phẩm ngời ta nghiên cứu thử nghiệm ở nớc thứ
nhất, chế tạo ở nớc thứ hai, lắp ráp ở nớc thứ ba, tiêu thụ ở nớc thứ t và thanh
toán thực hiện ở nớc thứ 5. Nh vậy, hàng hoá sản xuất ra ở mỗi quốc gia và
tiêu thụ ở một quốc gia cho thấy sự tác động ngợc trở lại của chuyên môn
hoá tới xuất khẩu.
Với đặc điêm quan trọng là tiền tệ sản xuất sử dụng làm phơng tiện
thanh toán, xuất khẩu góp phần làm tăng dự trữ ngoại tệ một quốc gia. Đặc
biệt với các nớc đang phát triển đồng tiền không có khả năng chuyển đổi thì
ngoại tệ có đợc nhờ xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc điều hoà về
cung cấp ngoại tệ, ổn định sản xuất, qua đó góp phần vào tăng trởng và phát
triển kinh tế.
2.2.3 Xuất khẩu có tác động tích cực tới việc giải quyết công ăn việc làm,
cải thiện đời sống nhân dân
Đối với công ăn việc làm, xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông
qua việc sản xuất hàng xuất khẩu. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra ngoại tệ để
nhập khẩu hàng tiêu dùng đáp ứng yêu cầu ngay càng đa dạng và phong phú
của nhân dân.
2.2.4 Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy sự phát triển các mối
quan hệ kinh tế đối ngoại
Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại, ngoại giao có tác động
qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là cơ sở tiền đề vững chắc
để xây dựng các mối quan hề kinh tế đối ngoại sau này, từ đó kéo theo các
mối quan hệ khác phát triển nh du lịch quốc tế, bảo hiểm quốc tế, tín dụng
quốc tế ng ợc lại sự phát triển của các ngành này lại tác động trở lại hoạt
động xuất khẩu làm cơ sở hạ tầng cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Có thể nói xuất khẩu nói riêng và hoạt động thơng mại quốc tế nói
chung sẽ dẫn tới những sự thay đổi trong sinh hoạt tiêu dùng hàng hoá của
nền kinh tế bằng hai cách:
8
+ Cho phép khối lợng hàng tiêu dùng nhiều hơn với số hàng hoá đợc sản
xuất ra.
+ Kéo theo sự thay đổi có lợi cho phù hợp với các đặc điểm của sản xuất
Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia mà các tác
động của xuất khẩu đối với các quốc gia khác nhau là khác nhau.
2.3 Vai trò của xuất khẩu đối với các doanh nghiệp
Cùng với sự bùng nổi của nền kinh tế toàn cầu thì xu hớng vơn ra thị tr-
ờng quốc tế là một xu hớng chung của tất cả các quốc gia và các doanh
nghiệp. Xuất khẩu là một trong những con đờng quen thuộc để các doanh
nghiệp thực hiện kế hoạch bành trớng, phát triển, mở rộng thị trờng của
mình.
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp mở rộng thị trờng tiêu
thụ sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra. Nhờ có xuất khẩu mà tên tuổi của
doanh nghiệp không chỉ đợc các khách hàng trong nớc biết đến mà còn có
mặt ở thị trờng nớc ngoài.
Xuất khẩu tạo nguồn ngoại tệ cho các doanh nghiệp, tăng dự trữ qua đó
nâng cao khả năng nhập khẩu, thay thế, bổ sung, nâng cấp máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu phục vụ cho quá trình phát triển.
Xuất khẩu phát huy cao độ tính năng động sáng tạo của cán bộ XNK
cũng nh các đơn vị tham gia nh: tích cực tìm tòi và phát triển các mặt trong
khả năng xuất khẩu các thị trờng mà doanh nghiệp có khả năng thâm nhập.
Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn luôn đổi mới và hoàn thiện
công tác quản trị kinh doanh. Đồng thời giúp các doanh nghiệp kéo dài tuổi
thọ của chu kỳ sống của một sản phẩm.
Xuất khẩu tất yếu dẫn đến cạnh tranh, theo dõi lần nhau giữa các đơn vị
tham gia xuất khẩu trong và ngoài nớc. Đây là một trong những nguyên nhân
buộc các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu phải nâng cao chất lợng hàng hoá
9
xuất khẩu, các doanh nghiệp phải chú ý hơn nữa trong việc hạ giá thành của
sản phẩm, từ đó tiết kiệm các yếu tố đầu vào, hay nói cách khác tiết kiệm các
nguồn lực.
Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc thu hút đợc
nhiều lao động bán ra thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân
viên và tăng thêm thu nhập ổn định cho đời sống cán bộ của công nhân viên
và tăng thêm lợi nhuận.
Doanh nghiệp tiến hành hoạt động xuất khẩu có cơ hội mở rộng quan hệ
buôn bán kinh doanh với nhiều đối tác nớc ngoài dựa trên cơ sở đôi bên cùng
có lợi.
II. Những nhân tố ảnh hởng tới xuất khẩu
1. Các nhân tố vĩ mô
Thực chất của chính sách thơng mại quốc tế của Nhà nớc bao gồm một
hệ thống các nguyên tắc và biện pháp thích hợp đợc áp dụng để điều chỉnh
các hoạt động ngoại thơng cho phù hợp với lợi ích chung của Nhà nớc trong
từng giai đoạn.
Chính sách thơng mại quốc tế là một hệ thống chính sách của Nhà nớc
nó phục vụ đắc lực cho đờng lối phát triển kinh tế trong từng thời kỳ. Nó ảnh
hởng tới quá trình tái sản xuất của xã hội và sự tham gia vào nền kinh tế quốc
dân vào quá trình phân công lao động quốc tế.
Chính sách thơng mại quốc tế có quan hệ mật thiết với chính sáchđối
ngoại của Đảng và Nhà nớc ta. Nó là công cụ có hiệu lực để thực hiện chính
sách đối ngoại mở mang quan hệ hợp tác hữu nghị với các nớc trong khu vực
và trên thế giới. Đồng thời chính sách đối ngoại tạo điều kiện giúp các tổ
chức kinh tế tiếp cận với thị trờng khách hàng để mở rộng hoạt động thơng
mại quốc tế. Đồng thời để thực hiện nhiệm vụ, chính sách thơng mại quốc tế
của Nhà nớc ta là tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức kinh doanh tham
gia vào phân công lao động quốc tế, mở mang hoạt động xuất nhập khẩu và
10
bảo vệ thị trờng nội địa nhằm đạt đợc mục tiêu, yêu cầu kinh tế, chính trị, xã
hội trong hoạt động kinh tế đối ngoại.
1.1 Thuế quan xuất khẩu
Trong hoạt động xuất khẩu, thuế quan xuất khẩu là một loại thuế đánh
vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu. Nó áp dụng cho hàng xuất khẩu từ nội
địa ra thị trờng nớc ngoài và nó làm cho giá cả hàng hoá bị đánh thuế vợt quá
giá trị trong nớc hay nói một cách khác, nó làm hạ thấp tơng đối mức giá cả
trong nớc của hàng hóa có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế.
Điều này phù hợp với thực tiễn thơng mại của các nớc nhỏ. ở nhiều nớc phát
triển khi nói tới thuế quan tức là đồng nhất với thuế nhập khẩu. Tuy nhiên ở
những nớc đang phát triển ngời ta vẫn sử dụng khá phổ biến thuế xuất khẩu
đặc biệt là đánh vào các sản phẩm truyền thống nhằm tăng thêm lợi ích cho
quốc gia. Ví dụ: Zambia đánh thuế đồng xuất khẩu của mình theo các mức
thuế khác nhau.
Thuế quan xuất khẩu cũng làm tăng nguồn thu cho Ngân sách, nhng nó
lại làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế cao hơn mức giá cả
trong nớc. Tuy nhiên tác động của thuế quan xuất khẩu nhiều khi lại trực tiếp
đa đến cho khả năng xuất khẩu. Do quy mô xuất khẩu của một nớc thờng là
nhỏ so với dung lợng của thị trờng thế giới cho nên thuế xuất khẩu sẽ làm hạ
thấp tơng đối mức giá cả trong nớc của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so
với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm sản lợng trong nớc của mặt hàng có
thể xuất khẩu sẽ giảm đi và sản xuất trong nớc sẽ thay đổi bất lợi cho những
mặt hàng này. Trong một số trờng hợp, việc đánh thuế xuất khẩu làm cho
khối lợng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi cho nớc xuất khẩu, nếu nh
họ có tác động đáng kể đến giá quốc tế. Ví dụ: có sự độc quyền việc xuất
khẩu sâm của Triều Tiên.
Nh vậy, thuế xuất khẩu sẽ làm giảm lợng cung quá mức trong nớc đối
với hàng có thể xuất khẩu, đồng thời chúng sẽ tác động đến hoạt đông thơng
mại khác cũng nh phân phối lại lợi ích. Vì vậy Nhà nớc tuỳ theo những mặt
hàng đợc khuyến khích xuất khẩu hay không khuyến khích xuất khẩu mà có
11
biểu thuế khác nhau do đó nó tác động rất lớn đến các mặt hàng xuất khẩu
của doanh nghiệp xuất khẩu.
1.2 Hạn ngạch
Các nớc thờng áp dụng hạn ngạch để bảo hộ sản xuất trong nớc. Ví dụ:
hạn ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam sang Mỹ, EU nó ảnh hởng
đến lợng hàng xuất khẩu của nớc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu. Để đảm bảo
cho mục tiêu phát triển của các ngành xuất khẩu mũi nhọn Nhà nớc thờng
phải đàm phán để nâng cao số lợng hàng hoá trong hạn ngạch hoặc xoá bỏ
hạn ngạch. Hạn ngạch đợc hiểu là quy định của Nhà nớc về số lợng còn giá
trị của một mặt hàng hoặc một nhóm mặt hàng đợc phép xuất khẩu sang hoặc
nhập khẩu từ một thị trờng nhất định. Ví dụ nh Nhà nớc có thể hạn chế mức
nhập khẩu xe hơi Nhật ở mức tối đa 100.000 xe trong một năm. Nh vậy hạn
ngạch nó hạn chế số lợng nhập khẩu đồng thời nó cũng ảnh hởng đến giá nội
địa của hàng hoá. Do mức cung thấp giá cân bằng sẽ cao hơn trong điều kiện
thơng mại tự do. Nh vậy hạn ngạch tơng đối giống với thuế nhập khẩu. Giá
hàng nhập nội địa đối với ngời tiêu dùng tăng lên và chính giá cao này cho
phép các nhà sản xuất nội địa kém hiệu quả sản xuất ra một sản lợng cao hơn
so với điều kiện thơng mại tự do. Hạn ngạch cũng dẫn tới sự lãng phí của xã
hội giống nh đối với thuế nhập khẩu.
Xét về ý nghĩa bảo hộ hạn ngạch cũng có tác động nh thuế quan. Hạn
ngạch nhập khẩu là công cụ quan trọng để thực hiện chiến lợc sản xuất thay
thế nhập khẩu, bảo hộ sản xuất nội địa. Đối với chính phủ và các nhà doanh
nghiệp, hạn ngạch cho biết trớc số lợng hàng nhập khẩu. Đối với thuế quan l-
ợng hàng nhập khẩu phụ thuộc vào mức độ linh hoạt của cung cầu và thờng
không thể biết trớc đợc. Nh vậy xét về mặt bảo hộ không có sự khác biệt chủ
yếu nào giữa thuế quan và hạn ngạch. Tuy nhiên sự tác động của hạn ngạch
nhập khẩu khác với sự tác động của thuế quan ở hai mặt. Mức thuế quan tối
thiểu ít nhất cũng mang lại thu nhập cho chính phủ, có thể cho phép giảm
những loại thuế khác và do đó nó bù đắp đợc một phần nào cho ngời tiêu
dùng trong nớc. Một hạn ngạch nhập khẩu lại đa lại lợi nhuận có thể rất lớn
12
cho những ngời may mắn xin đợc giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch. Vì
vậy thờng có sự "chạy chọt" và hối lộ để xin đợc hạn ngạch nhập khẩu. Sự
khác biệt thứ hai là hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp duy nhất trong
nớc thành một doanh nghiệp độc quyền có thể đặt mức giá bán cao để họ thu
lợi nhuận tối đa.
Từ sự khác nhau đó các nhà kinh tế nhìn nhận nói chung hạn ngạch có
hại nhiều hơn thuế quan. Nhng theo họ có thể giải quyết bằng cách là chính
phủ thực hiện bán đấu giá giấy phép nhập khẩu theo hạn ngạch thì sẽ khắc
phục đợc tình trạng nói trên.
Hạn ngạch nhập khẩu thờng đợc quy định theo một loại sản phẩm đặc
biệt hay sản phẩm và thị trờng đặc biệt. ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch nhập
khẩu chỉ áp dụng với 4 loại hàng: ô tô 12 chỗ ngồi, xe 2 bánh gắn máy, kinh
kiện điện tử dạng LKD, SKD, nguyên liệu phụ liệu sản xuất thuốc lá.
Để quản lý nhập khẩu các nớc cũng áp dụng hạn ngạch xuất khẩu. Hạn
ngạch xuất khẩu đợc quy định theo mặt hàng, theo nớc và thời gian nhất
định. ở Việt Nam hiện nay hạn ngạch xuất khẩu chỉ quy định đối với mặt
hàng gạo.
1.3 Trợ cấp xuất khẩu
Bên cạnh các công cụ nhằm hạn chế nhập khẩu còn có những công cụ
dùng để nâng đỡ hoạt động xuất khẩu. Chính phủ có thể áp dụng các biện
pháp trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu
trong nớc. Bên cạnh đó Chính phủ còn có thể thực hiện một khoản cho vay u
đãi đối với các bạn hàng nớc ngoài để họ có điều kiện mua các sản phẩm do
nớc mình sản xuất ra, và để xuất khẩu ra bên ngoài. Đây chính là các khoản
tín dụng "viện trợ" mà Chính phủ các nớc công nghiệp phát triển áp dụng, khi
cho các nớc đang phát triển vay (thờng có kèm theo các điều kiện chính trị).
Giả sử để nâng đỡ một ngành sản xuất nào đó, Chính phủ sẽ trợ cấp trực
tiếp một khoản tiền nhất định cho bộ phận sản phẩm đợc đem vào xuất khẩu.
13
Khi ấy các nhà sản xuất trong nớc sẽ thu lợi về chính khoản tiền trợ cấp đó.
Nhng tác động của việc trợ cấp sẽ lan tràn sang các khâu khác. Cụ thể là:
- Mức cung thị trờng nội địa bị giảm do giảm quy mô xuất khẩu, giá cả
thị trờng tăng lên, ngời tiêu dùng trong nớc sẽ bị thiệt một khoản tiền nhất
định.
- Chi phí ròng của xã hội phải bỏ ra để bảo hộ việc khuyến khích xuất
khẩu gây thiệt hại cho xã hội gồm có chi phí nội địa do sản xuất thêm nhiều
sản phẩm để xuất khẩu (chi phí cận biên nội địa tăng lên), đồng thời gồm cả
chi phí do giảm mức tiêu dùng trong nớc. Lu ý là lợi ích mà nhà sản xuất thu
đợc nhỏ hơn chi phí mà xã hội phải bỏ thêm. Nh vậy là trợ cấp xuất khẩu đa
đến cái hại nhiều hơn là cái lợi. Nhng trong thực tế nó vẫn đợc sử dụng để
phục vụ cho một mục đích cụ thể nào đó. Bởi vậy cần phải cân nhắc thận
trọng khi áp dụng các công cụ này.
1.4 Tỷ giá hối đoái và các chính sách đòn bẩy có liên quan nhằm đẩy
mạnh xuất khẩu
Đẩy mạnh xuất khẩu là một chơng trình kinh tế quan trọng của mỗi nớc.
Muốn đẩy mạnh xuất khẩu đòi hỏi phải có những chính sách và biện pháp
hữu hiệu để các nhà kinh doanh thu đợc lợi nhuận khi hớng hoạt động kinh
doanh ra thế giới.
Điều kiện cần thiết đầu tiên là duy trì tỷ giá hối đoái phù hợp để cho các
nhà sản xuất kinh doanh thơng mại trong nớc khi bán các sản phẩm, dịch vụ
của họ ra thị trờng thế giới. Kinh nghiệm của các nớc đang phát triển thực
hiện chiến lợc xuất khẩu (sản xuất hớng về xuất khẩu) cũng nh ở Việt Nam
trong thời gian qua là phải tiến hành phá giá thờng kỳ để đạt đợc mức tỷ giá
cân bằng đợc thị trờng chấp nhận và sau đó duy trì giá tơng quan với chi phí
và giá cả đang bị lạm phát ở trong nớc.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét