Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

Lãi suất và vai trò của lãi suất trong việc huy động vốn

Lời nói đầu
Lãi suất là một phạm trù kinh tế,phản ánh mối quan hệ giữa ngời cho vay và
ngời đi vay,phản ánh mối quan hệ giữa cung và cầu về tiền tệ, thực trạng kinh tế
của một nớc.Thông qua sự biến động của lãi suất,ngời ta có thể dự đoán đợc nền
kinh tế đang phát triển hay suy thoái.
Lãi suất là một trong những biến số đợc theo dõi một cách chặt chẽ nhất
trong nền kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trờng. Sự dao động của lãi suất
đợc đatrên các phơng tiện thông tin đại chúng nó trực tiếp tác động đến đời sống
hàng ngày của mỗi ngời ,đến các quyết định của Chính phủ, doanh nghiệp, cũng
nh hoạt động của các tổ chức tín dụng và toàn bộ nền kinh tế.
Việt Nam trong hơn 10 năm đổi mới. Những chính sách lãi suất ngân hàng
nhà nớc sử dụng đã có tác động mạnh mẽ tới việc huy động vốn và hoạt động sản
xuất kinh doanh của các ngân hàng thơng mại và các doanh nghiệp. Để tăng hiệu
quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thơng mại và thúc đẩy sự phát triển của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế đòi hỏi NHNN phải tiếp tục đổi mới hơn nữa cơ
chế điều hành lãi suất.
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó em xin chọn đề tài Lãi suất và vai trò của
lãi suất trong việc huy động vốn làm tiểu luận môn học.
Nghiên cứu đề tài này đem lại giá trị khoa học to lớn và thực tiễn sâu sắc
không chỉ về mặt lý luận mà còn góp phần nhỏ đến việc thực hiện các chính sách
lãi suất ở nớc ta hiện nay.
Bố cục của tiểu luận đợc kết cấu bởi hai phần lớn.
Phần I : Lý luận chung về lãi suất.
Phần II: Vai trò, tác động của lãi suất đến việc huy động vốn trong nền
kinh tế trị trờng.
1
Nội dung
Phần I:Lý luận chung về lãi suất
I. L i suấtã
1.Khái niệm về lãi suất
-Lãi suất là tỷ số giữa tổng số lợi tức hàng năm và tổng số vốn đã bỏ ra cho
vay trong năm.Nói khác đi,lãi suất và giá cả mà con nợ phải trả cho chủ nợ để đợc
sử dụng khoản tiền vay trong một kỳ hạn nhất định.
-Lãi suất cao hay hạ do quan hệ cung cầu vốn quyết định.Khi cung lớn hơn
cầu thì lãi suất giảm,khi cầu lớn hơn cung thì lãi suất tăng.Giới hạn cao nhấtc ủa
lãi suất vbao giờ cũng fải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân,nếu bằng thì không
có ngời đi vay.Giới hạn thấp nhất của lãi suất bao giờ cũng fải lớn hơn số 0,nếu
bằng thì không có ngời cho vay.Theo Máhall:Lãi suất là cái giá fải trả cho việc sử
dụng vốn trên một thị trờng bất kỳ;lãi suất vơn tới một mức cân bằng sao cho tổng
cầu về vốn trên thị trờng đó với lãi suất đó,bằng tổng cung về vốn đợc cung ứng
trên thị trờng đó với lãi suất đó.
2. Các nhân tố tác động đến lãi suất:
2.1. Sự thay đổi của tổng cầu (viết tắt là GNP).
Khi GNP tăng lên, nền kinh tế đòi hỏi phảI tăng khối lợng tiền cung ứng(nếu
tốc đọ lu thông tiền tệ không thay đổi)để đảm bảo cung cầu tơng ứng.Nừu trong
điều kiện đó khối lợng cung ứng tiền(M1 hoặcM2)tăng quá cầu thì MV>PQ cung
vốn đầu t lớn hơn cầu vốn đầu t làm cho lãI suất giảm.Ngợc lạI khi GNP giảm thì
khối tiền cung ứng thực tế cũng giảm theo,nếu tốc đọ lu thông tiền tệ không thay
đổi mà giảm khối lợng tiền tệ xuống quá thấp sẽ đa đến tình trạng MV<PQ.Lúc
đó,cung vốn đầu t nhỏ hơn cầu vốn đầut thì lãI suất sẽ tăng.
2.2. Sự chi tiêu của chính phủ.
Trong khi lợng cung ứng tiền tệ(M1 hoặcM2)không thay đổi mà chính phủ
chi tiêu nhiều hơn sẽ làm giảm bớt nhu cầu chi cho đầu t và tiêu dùng của cá nhân
2
nhu cầu tiền của nhân dân trở nên khan hiếm, nguồn cung ứng vốn nhỏ hơnnhu
cầu vốn,lãI suất sẽ tăng.
2.3 Chính sách tiền tệ của chính phủ.
Chính sách tiền tệ của Chính phủ ban hành là nhằm mục đích kiểm soát lợng
cung ứng tiền tệ, kiểm soát tình trạng lạm phát và các tác động đến lãi suất để thực
hiện các mục tiêu đã định.
2.4. Nhu cầu tiêu dùng và đầu t.
Trong thực tiễn khi nhu cầu tiêu dùng tăng thì kéo theo lãi suất tăng và ngợc
lại. Cũng giống nh nhu cầu đầu t, khi mà ngời dân đổ xô vào đầu t kinh doanh
kiếm lợi nhuận thì cầu về khối lợng tiền, tài sản lớn dẫn đến lãi suất tăng. Khi nhu
cầu tiêu dùng, đầu t giảm thì lãi suất sã giảm xuống.
II. Vai trò, tác động của l i suất đến việc huy động vốn trong nền ã
kinh tế thị thờng.
1. Lãi suất với sự phân bổ các nguồn lực
Lãi suất là một loại giá cả, nó có vai trò phân bổ hiệu quả các nguồn lực khan
hiếm của xã hội. Để quyết định đầu t vào một ngành kinh tế, một dự án hay một
tài sản nào đó chúng ta đều phải quan tâm đến sự chênh lệch giữa giá trị tỷ suất lợi
tức thu đợc từ ngành kinh tế đó, dự án đó hay tài sản đó với chi phí ban đầu. Nh
vậy lãi suất là tín hiệu, là căn cứ để có sự phân bổ hiệu quả của các nguồn lực
khan hiếm trong xã hội, lãi suất là yếu tố cần thiết ban đầu trớc khi đi đến quyết
định đầu t.
2. Lãi suất với tiêu dùng và tiết kiệm
Thu nhập của các hộ gia đình thờng đợc chia làm hai bộ phận: tiêu dùng và
tiết kiệm. Tỷ lệ phân chia nàyphụ thuộc vào nhiều nhân tố nh thu nhập, vấn đề
hàng lâu bền và tín dụng tiêu dùng, hiệu quả của tiết kiệm trong đó tiền tệ và lãi
suất có tác dụng tích cực tới các nhân tố khác.Khi lãi suất thấp, chi phí tín dụng
tiêu dùng thấp, ngời ta vay nhiều hơn cho việc mua sắm các hàng hoá, nghĩa là
tiêu dùng nhiều hơn. Ngợc lại, khi lãi suất cao đem lại thu nhập từ khoản tiền để
dành nhiều hơn sẽ khuyến khích tiết kiệm, do đó tiết kiệm tăng.
3
3. Lãi suất với đầu t
Hoạt động đầu t chịu nhiều ảnh hởng của nhiều nhân tố nh thu nhập, chi phí
kỳ vọng trong kinh doanh.Khi lãi suất ở mức cao, ít khoản đầu t vào vốn hiện vật
sẽ mang lại thu nhập nhiều hơn chi phí lãi trả cho các khoản đi vay, do vậy chi
tiêu cho đầu t giảm, ngợc lại khi lãi suất giảm các doanh nghiệp sẽ quyết định đầu
t cho vốn hiện vật nhiều hơn, chi tiêu đầu t sẽ tăng.
4. Lãi suất với tỷ giá hối đoái và hoạt động xuất nhập khẩu
Tỷ giá trong ngắn hạn chịu ảnh hởng của lãi suất: lãi suất tiền gửi nội tệ và
ngoại tệ. Sự thay đổi lãi suất tiền gửi nội tệ ở đây là sự thay đổi lãi suất danh
nghĩa. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi suất tăng do tỷ lệ lạm phát dự tính
tăng( lãi suất thực không đổi) thì tỷ giá giảm. Nếu lãi suất danh nghĩa tăng do lãi
suất thực tế tăng (tỷ lệ lạm phát không đổi) thì giá đồng tiền trong nớc tăng, tỷ giá
tăng. Khi lãi suất tiền gửi ngoại tệ tăng, đồng nội tệ giảm giá (tỷ giá giảm) và ngợc
lại.
5. Lãi suất với lạm phát
Trong thời kỳ lạm phát, tăng lãi suất sẽ cho phép hệ thống ngân hàng có thể
thu hút phần lớn số tiền có nhiều trong lu thông khiến cho đồng tiền trong lu thông
giảm, cơ số tiền và lợng tiền cung ứng giảm, lạm phát đợc kiềm chế. Nh vậy, lãi
suất cũng góp phần chống lạm phát.
6. Vai trò của lãi suất đến việc huy động vốn
Lãi suất là chi phí huy động vốn của doanh nghiệp và ngân hàng. Các doanh
nghiệp phải xem xét khả năng lợi nhuận thu đợc với chi phí huy động vốn bỏ ra để
quyết định huy động vốn từ nguồn nào và đầu t vào đâu để có lợi cho doanh
nghiệp nhất. Còn ngân hàng phải xem xét giữa lãi xuất huy động với khả năng cho
vay ở mức lãi suất cao hơn để đa ra phơng hớng hoạt động đảm bảo mục tiêu của
ngân hàng tồn tại và phát triển.
4
Phần II: vai trò, tác động của lãi suất đến việc huy
động vốn ở Việt Nam trong thời gian qua.
i. Giai đoạn từ tháng 3/1989 trở về trớc
Đây là thời kỳ điều hành lãi suất theo cơ chế lãi suất âm, chính sách lãi suất
cứng nhắc, có lạm phát phi mã nên khiến lãi suất luôn trong tình trạng âm, nghĩa
là:
-Lãi suất tiền gửi < mức lạm phát.
-Lãi suất cho vay < lãi suất huy động < mức lạm phát.
1. Đối với NHTM
-Chính sách lãi suất cứng nhắc khiến cho các NHTM không linh hoạt trong
hoạt động tín dụng trớc mọi biến động của nền kinh tế.
-Lãi suất tín dụng luôn ở mức qui định bắt buộc nên không khuyết khích
cạnh tranh lành mạnh giữa các NHTM.
-Lãi suất tiền gửi < lạm phát nên không khuyến khích ngời dân và các tổ
chức gửi tiền vào ngân hàng hoặc gửi một thơì gian ngắn. Do đó chỉ huy động đợc
vốn huy động ngắn hạn, sử dụng vốn ngắn hạn cho vay đầu t trung và dài hạn. Kết
quả là NHTM bị lỗ.
-Lãi suất cho vay< lãi suất huy động vốn và mức lạm phát nên ngân hàng
trong tình trạng bao cấp đối với doanh nghiệp vay vốn thông qua hệ thống tín
dụng lãi suất thấp, ngân hàng luôn trong tình trạng lỗ,và hoạt động không bình th-
ờng.
2.Đối với doanh nghiệp
-Vì lãi suất cho vay < lạm phát nên các DN thi nhau vay vốn, tìm mọi cơ hội
vay vốn để đợc hởng bao cấp.
-DN vay nhiều nhng lợi nhuận thu đợc không phải do sản suất kinh doanh mà
do hởng bao cấp của NHTM tạo mức lợi nhuận giả cho các doanh nghiệp.
Ii. Giai đoạn từ tháng 3/1989 đến 1993
5
Chính sách lãi suất thực dơng đã phát huy hiệu quả với lãi suất tiết kiệm không
kỳ hạn là 109%/ năm, lãi suất tiết kiệm 3 tháng là 12% / tháng tức 144%/ năm huy
động đợc nguồn vốn nhàn rỗi trong dân c, tạo thế ổn định tơng đối về tiền tệ -một
điều kiện tiền đề quan trọng để ổn định và phát triển kinh tế xã hội .
Tác động tích cực của chính sách lãi suất dơng.
1.1. Đối với NHTM
Lãi suất cho vay tín dụng> lãi suất tiền gửi tiết kiệm > tỷ lệ lạm pháp. Do
đó NHTM không còn phải bao cấp đối với các DN vay vốn thông qua tín dụng
nữa.
-Lãi suất thực dơng cao đã thu hút một số lợng tiền gửi lớn vào các ngân
hàng làm lợng tiền dự trữ của các ngân hàng tăng cao đáp ứng đợc nhu cầu vay
vốn của DN.
1.2. Đối với DN
-Lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao buộc các DN phải cân
nhắc việc vay vốn đầu t, phải xem xét và lựa chọn các phơng án đầu t có hiệu quả
tốt nhất.
-Cơ cấu tổ chức của các DN đợc tổ chức một cách hợp lý hơn, giảm thiểu
bộ phận quản lý cồng kềnh để giảm thiểu chi phí.
2. Tác động tiêu cực của chính sách lãi suất thực dơng quá cao đến hoạt động
của NHTM và DN.
2.1. Đối với NHTM
Do lãi suất tiền gửi cao dẫn đến lãi suất cho vay cao nên càng khuyến khích
gửi tiền hơn là vay tiền, lãi suất thực dơng cao của ngân hàng đem lại khả năng thu
đợc lợi nhuận lớn hơn là đa tiền vaò đầu t mà rủi ro lại thấp nên cũng khuyến
khích các DN gửi tiền vào ngân hàng hơn là vay vốn để kinh doanh. Đến một lúc
do lợng tiền gửi vẫn tăng, khối lợng vay giảm dẫn đến tài sản nợ trong bảng cân
đối của NHTM lớn hơn tài sản có.
6
2.2 . Đối với DN
-Lãi suất vay vốn không khuyến khích các DN đầu t mà các DN tích cực
gửi tiền vào ngân hàng hơn. Bên cạnh đó, các DN cũng giảm quy mô đầu t dẫn
đến một lực lợng lớn thất nghiệp không có lợi cho sự phát triển chung của nền
kinh tế.
-Trong tổng số vốn đầu t sản xuất kinh doanh, một phần lớn là đi vay của
ngân hàng, bởi lãi suất vốn cao dẫn đến chi phí sản xuất kinh doanh lớn do đó giá
thành phẩm cao, giá hàng hoá cao và nh vậy hàng hoá sẽ giảm tính cạnh tranh trên
thị trờng.
Iii. Giai đoạn 1993-1996
Thời gian này ngân hàng Nhà nớc vừa cầu lãi suất trần ,lãi suất thoả thuận.
-Thoả thuận trờng hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo
lãi suất qui định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì đợc cầu lãi suất
thoả thuận. Lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời hạn là
0.2% tháng và cho vay cao hơn mức lãi suất trần là 2.1% tháng.
1- Tác động tích cực
-NHTM cũng dần cân bằng giữa tài sản nợ và tài sản có, đảm bảo đợc lợi
nhuận. Các DN cũng có thêm cơ hội vay vốn kinh doanh, mở rộng quy mô đầu t.
-Nhờ có lãi suất thoả thuận mà hoạt động tín dụng giữa NHTM và DN linh
hoạt hơn, phù hợp với các đặc điểm hoạt động và tình hình cung cầu vốn.
2- Tác động tiêu cực
Do những bất hợp lý đó các NHTM và cả kho bạc Nhà nớc đã phải nâng lãi
suất huy động bằng cách phát hành kỳ phiếu, tín phiếu trả lãi trớc. Thực chất việc
trả lãi trớc chỉ là hành động phá rào vợt khung lãi suất khống chế một cách hợp
pháp. Kỳ phiếu ngân hàng kỳ hạn 6 tháng lãi suất 1.7 %/tháng trả lãi trớc tơng đ-
ơng 2% /tháng nếu trả lãi khi đến kỳ hạn thanh toán.
-Trần lãi suất cho vay đối với DNNN 1.8% tháng, kinh tế ngoài quốc doanh
là 2.1% tháng.
7
-Thoả thuận trờng hợp ngân hàng không huy động đủ vốn để cho vay theo
lãi suất qui định phải phát hành kỳ phiếu với lãi suất cao hơn thì đợc cầu lãi suất
thoả thuận. Lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng thời hạn là
0.2% tháng và cho vay cao hơn mức lãi suất trần là 2.1% tháng.
Trên thực tế khoảng 30-60% tổng d nợ lúc bấy giờ là từ các khoản vay bằng
lãi suất thoả thuận mà phần lớn là cho vay DN ngoài quốc doanh và hộ nông dân
với lãi suất phổ biến là 2.3-3.3 % tháng.
2.1- Đối với NHTM
Thời gian này, do thiếu nguồn vốn cho vay trung hạn, ngân hàng Đầu t và
Phát triển và Ngân hàng nông nghiệp đã lần lợt phát hành trái phiếu dài hạn lãi
suất 21%/ năm, trả lãi trớc tơng đơng với 26.6% nếu trả lãi sau. Nếu trừ chỉ số lạm
phát năm 1994 là 14.4% thì lãi suất thực của trái phiếu NHTM là 12.6%. Đây là
lực hấp dẫn mạnh mẽ đối với khách hàng. Ngày 6/10/1994 ngân hàng Đầu t và
phát triển phát hành thí điểm trái phiếu đợt đầu với tổng số vốn cần huy động 100
tỷ đồng, dự kiến phát hành trong 2 tháng mà chỉ sau 5 ngày đã bán đợc 95 tỷ
đồng. Với lãi suất 21%/năm trả lãi trớc làm cho NHTMQD triệt tiêu việc huy
động vốn của doanh nghiệp.
2.2- Đối với doanh nghiệp
-Cơ chế lãi suất hiện hành thật sự gây khó khăn cho các DN trong việc vay
vốn sản xuất nhất là đầu t sản xuất trong trung và dài hạn do ngay chính ngân
hàng cũng khó huy động đợc vốn trung và dài hạn nếu cho vay với mức lãi suất
thoả thuận lại ở mức cao.
-Lãi suất cao làm cho ngời kinh doanh chủ yếu đầu t vào các lĩnh vực sản
xuất có lợi nhận cao tức thời và thu hồi vốn nhanh nh: dich vụ, thơng mại, sản xuất
nhỏ tạo nên sự mất cân bằng trong nền kinh tế.
Iv. Giai đoạn thực hiện l i suất trầnã
Sau khi có nghị quyết số 381/QĐ NH1 ngày 28/12/1995 của thống đống
ngân hàng nhà nớc Việt Nam, từ ngày 1/1/1996 chính sách lãi suất trần đợc đa vào
thực hiện.
8
1- Chính sách lãi suất trần tác động đến các NHTM.
1.1- Tích cực
-Việc tổ chức quản lý lãi suất trần cho phép các tổ chức tín dụng đợc tự do
ấn định các mức lãi suất cho vay và tiền gửi trong phạm vi trần do NHNN cho
phép,chính sách lãi suất trần đã chấm dứt thời kỳ NHNN qui định các mức lãi suất
cụ thể, xoá bỏ lãi suất cho vay theo thoả thuận và từng bớc tiến hành tự do hoá lãi
suất.
-Để nâng cao lợi nhuận các NHTM phải nâng cao mức d nợ cho vay và huy
động vốn gấp nhiều lần.
-Sau thời gian khá ngắn, hệ thống NHTM tự điều chỉnh nhằm tối đa hoá cơ
cấu tín dụng và cân đối tài chính để sẵn sàng thay đổi linh hoạt lãi suất theo sự
tăng giảm lãi suất của ngân hàng nhà nớc.
1.2 Hạn chế
ảnh hởng đến cơ cấu nguồn vốn trung và dài hạn.
-Tỷ lệ vốn trung và dài hạn trong tổng số vốn huy động của NHTM hiện tại
là rất nhỏ vì cần có lãi suất cao trong khi NHNN liên tục cắt giảm lãi suất,NHTM
sử dụng quá nhiều vốn ngắn hạn vào trung và dài hạn. Hậu quả là làm suy yếu khả
năng an toàn thanh toán khi có một dòng tiền gửi bị rút ra.
-Khoảng cách chênh lệch lãi suất cho vay tiền gửi không đáng kể 0.15%
tháng nơi nào cao lắm là 0.2% tháng, nên không đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi.
-Lãi suất cho vay trung hạn > vay ngắn hạn là 0.05% tháng. Mức chênh
lệch tạo động lực khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay trung và dài
hạn.
1 Xuất hiện khả năng tiềm tàng về rủi ro lãi suất bất khả kháng.
-Do lãi suất cho vay và lãi suất huy động (ngắn, trung, dài hạn) liên tục
giảm, nhiều ngân hàng thơng mại không lờng trớc đợc đã huy động vốn có thời
hạn 1-3 năm để cho vay trung và dài hạn. Năm 1999 NHNN 5 lần cắt giảm lãi suất
9
trần cho vay tối đa, có lần NHNN còn buộc NHTM giảm ngay cả lãi suất d nợ đã
cho vay khi đó vốn huy động theo lãi suất thời kỳ trớc vẫn đợc giữ nguyên cho tới
khi hết hạn, đồng thời chênh lệch lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn nhỏ
(bằng không hoặc thấp hơn). Vậy rủi ro lãi suất luôn đặt gánh nặng lên các
NHTM.
Thời kỳ đầu NHNN đã qui định chênh lệch lãi suất 0.35% tháng gây ra nhiều
khó khăn cho NHTM.
Các NHTMQD đang còn phải bao cấp cho lãi suất cho vay.
-NHTM tăng lãi suất tiền gửi lên quá cao so lãi suất huy động vốn bình
quân,lãi suất trong nớc thấp. Sự cạnh tranh quyết liệt giữa các tổ chức tín dụng
trong nớc cũng nh các nớc trên thế giới diễn ra gay gắt. Kết quả đó đợc giải quyết
bằng giảm lãi suất.Ngày 6/12/1999 bốn NHTMQD( NHNT, NHCT, NHNN và
PTNT,NHĐT và PT) đã thống nhất sàn lãi suất cho vay không < 0.75% tháng,
thực tế đã có một số ngân hàng cho vay lãi suất 0.68% tháng. NHCTVN giảm lãi
suất cho vay đối công ty là 90, 91 xuống 1.02% tháng ngắn hạn, 1.062 tháng đối
với trung và dài hạn.
-Tổng vốn của toàn ngành NH không tăng mà nó chỉ từ NH này sang NH
khác. Sự bất ổn định trong kinh doanh, cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn
cho NH nhỏ, NHCP đã xảy ra. NHTM cổ phần do huy động vốn khó khăn, do
căng thẳng về khả năng thanh toán đã đã phải nâng lãi suất tiền gửi 12 tháng lên
1.05-1.1% tháng, tăng lãi suất trái phiếu NH trả lãi trớc lên tới 1.16%-1.356%
tháng.
3. Chính sách lãi suất trần đối với các DN.
3.1. Tích cực
Đáp ứng tốt nhu cầu vốn sản xuất cho doanh nghiệp.
-Doanh nghiệp không phải vay với mức lãi suất vợt trần, tức là các doanh
nghiệp không bị các ngân hàng ép khi đi vay tiền.
-Do lãi suất trần đợc đa ra, các NHTM cạnh tranh dẫn đến giảm lãi suất:
10
+DN tích cực vay vốn đầu t phát triển sản xuất.
+DN tích cực hoạt động tái đầu t thay vì gửi tiền vào ngân hàng.
+Nguồn vốn cho vay trung và dài hạn tăng.
Trong thời kỳ này cả nớc có 6000 doanh nghiệp nhà nớc hơn 1000 doanh
nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài, 23000 doanh nghiệp t nhân, công ty cổ phần, công
ty trách nhiệm hữu hạn. (Phát biểu của thủ tớng Phan Văn Khải tại cuộc gặp các
nhà DN tại Hà Nội 1/1998), hầu hết các DN này đợc vốn ngân hàng hỗ trợ 80-
90% trong sản xuất kinh doanh cải tiến và đổi mới công nghệ.
a. Tạo cơ hội giảm chi phí bình đẳng đối với mọi thành phần DN, ở các vùng,
tăng cờng thêm động lực cho guồng máy tăng trởng kinh tế, phát triển kinh tế
đồng đều giữa các vùng, các ngành.
b. Hớng dẫn tiêu dùng ảnh hởng sản xuất của doanh nghiệp.
Khi lãi suất tăng làm giá thành sản phẩm đắt tơng đối nên tiêu dùng giảm và
dẫn đến sản xuất giảm.Khi lãi suất giảm làm giá thành sản phẩm rẻ tơng đối , kết
quả là tiêu dùng tăng và sản xuất tăng.
3.2. Hạn chế
Việc giảm lãi suất là điều kiện cần nhng không đủ để tạo vốn cho DN.
-Lãi suất còn cao, khó khăn trong thủ tục vay NH. Cho dù lãi suất cho vay
đã giảm khá mạnh song các DN vẫn không dám vay tiền vì tỷ lệ lãi suất cho vay
ngân hàng vào khoảng 10%-11% năm
-Nhiều DN làm ănkhông cóhiệuquả do trang thiết bị cũ kỹ, công nghệ lạc
hậu nhng muốn cơ cấu lại sản suất, đổi mới trang thiết bị phải có cơ cấu vốn lớn,
bắt buộc phải đi vay. Với số vốn lớn DN phải trả lãi lớn trong khi lợi nhuận thu đ-
ợc lại cha ổn định do vậy lãi suất giảm DN vẫn không dám vay.
-Các ngân hàng cạnh tranh dẫn đến tăng mức lãi suất tiền gửi các DN cắt
giảm tất cả những khoản đầu t không đa lại lợi nhuận cao bằng gửi tiếp vào ngân
hàng.
11
-Việc vay vốn trung và dài hạn của các DN không thuận lợi vì các NH cho
vay dễ gặp rủi ro từ việc huy động vốn NH cho vay trung và dài hạn trong khi mức
chênh lệch giữa lãi suất cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn bị xoá bỏ.
v. Giai đoạn thực hiện chính sách l i suất cơ bản.ã
1.Định nghĩa về lãi suất cơ bản.
Khoá 12 điều 9 luật NHNN VN giải thích lãi suất cơ bản là lãi suất cho do
NHNN công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.
2. Tác động của lãi suất cơ bản đến hoạt động của NHTM và DN.
-Chính sách lãi suất cơ bản đợc thực hiện trong hơn một năm qua đã phát
huy phần nào tác dụng đối với NHTM và các DN.
2.1.Đối với các NHTM:
Cơ chế lãi suất linh hoạt càng tạo điều kiện cạnh tranh giảm chi phí hoạt
động ngân hàng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ: thẻ tín dụng Lãi suất giảm
Tuy nhiên cuối tháng 8/2001 lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ
tăng đột biến, nhất là các NHTM cổ phần. So với cuối tháng 6/2001 lãi suất huy
động 6 tháng VNĐ tăng từ 0.05%/ tháng lên 0.17% /tháng, đa lãi suất huy động
bằng VNĐ xấp xỉ lãi suất cho vay cơ bản do NHNN công bố , thậm chí còn cao
hơn 0.02%/ tháng nh NHTM cổ phần VPB. Đó là do các NHTM đang gặp khó
khăn về chi trả và cho vay bằng tiền mặt.
2.2-Đối với các DN:
Lãi suất giảm đã khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn.Tuy nhiên có sự
chênh lệch lãi suất giữa đồng nội tệ và ngoại tệ (USD), và xu hớng tăng giá của
đồng đô la nên nhiều DN găm giữ ngoại tệ do đó mà thiếu VND để phục vụ sản
xuất kinh doanh. Điều này làm cho tình trạng đô la hoá của nền kinh tế càng thêm
trầm trọng. Cuối năm 2000 đầu năm 2001 các NHTM đã đa ra các mức lãi suất
tiền gửi nh nhau đối VND và USD. Việc mặt bằng lãi suất của VND và USD bằng
nhau nh vừa qua đã khuyến khích thêm quá trình USD hoá và về lâu dài có thể dẫn
tới việc VND bị lấn át hoàn toàn.
12
VI- Hớng tới tự do hoá l i suất và Thực tế tự do hoá l i suất ở Việt ã ã
Nam hiện nay.
Hiện nay ở Việt Nam mới chỉ thực hiện cơ chế tự do hoá lãi suất cho vay
ngoại tệ.
Theo nghị quyết số 718 ngày 29/5/2001, kể từ ngày 1/6/2001 thống đốc
ngân hàng nhà nớc đã bãi bỏ cơ chế lãi suất cho vay USD bằng lãi suất sibov và
biên độ cho phép. Các tổ chức tín dụng đợc ấn định lãi suất cho vay bằng USD
trên cơ sở lãi suất thị trờng quốc tế và cung cầu vốn tín dụng bằng ngoại tệ ở trong
nớc. Thực hiện tự do hoá lãi suất cho vay ngoại tệ lúc này là một bớc tiếnphù hợp
với thông lệ quốc tế, đó là một quyết định đúng đắn, phù hợp với mục tiêu đợc thể
hiện ngày càng rõ ràng hơn của NHNN trong việc tiến tới xoá bỏ những hạn chế
không cần thiết đối với hoạt động ngân hàng, điều này sẽ mang lại những tác động
lớn đối với thị trờng vốn của Việt Nam, đối với hệ thống NHVN cũng nh nền kinh
tế Việt Nam nói chung.

C.Kết Luận
Chính sách lãi suất là một bộ phận cấu thành của chính sách tiền tệ quốc
gia, là mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia: ổn định tiền tệ, đảm bảo mức lạm
phát hợp lý (4-5%), kích thích tăng trởng kinh tế.Chính sách tiền tệ quốc gia nớc
13

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét