Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty XDCTGT 889 - Tổng công ty XDCTGT 8

Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động
sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Nh vậy chỉ đ-
ợc tính vào chi phí của kỳ hạch toán những hao phí về tài sản và lao động có liên
quan về khối lợng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ.
Cần thấy rõ sự khác nhau giữa chi phí và chi tiêu. Chi tiêu là sự giảm đi đơn
thuần các loại vật t, tài sản, tiền vốn của doanh nghiệp, bất kỳ nó đợc sử dụng vào
mục đích gì. Chi tiêu là cơ sở phát sinh của chi phí, không có chi tiêu thì không có
chi phí, nhng có những khoản chi tiêu kỳ này cha đợc tính vào chi phí (chi mua
nguyên vật liệu về nhập kho nhng cha sử dụng) và có những khoản tính vào chi
phí kỳ này nhng thức tế cha chi tiêu (chi phí trích trớc).
Từ việc xem xét chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp nói chung ta có thể
rút ra : chi phí sản xuất của đơn vị xây lắp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi
phí về lao động sống và lao động vật hoá phát sinh trong quá trình sản xuất và cấu
thành nên giá thành sản phẩm xây lắp (công trình nhà ở, công trình giao thông,
nhà máy công nghiệp ).
Đối với các nhà quản lý, thông tin về chi phí hết sức quan trọng vì nó phản
ánh trong kỳ doanh nghiệp đã tiết kiệm hay làm tăng chi phí và nguyên nhân do
đâu. Vì vậy để thuận lợi cho công tác quản lý và hạch toán cần thiết phải phân loại
chi phí.
2.1.2. Phân loại chi phí sản xuất
Phân loại chi phí là việc sắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng nhóm
khác nhau theo những đặc trng nhất định. Trong thực tế có rất nhiều cách phân
loại chi phí, mỗi cách đều đáp ứng ít nhiều cho mục đích quản lý, hạch toán, kiểm
tra, kiểm soát chi phí phát sinh ở các góc độ . Vì thế các cách phân loại đều tồn tại
bổ sung cho nhau và giữ vai trò nhất định trong quản lý chi phí sản xuất và giá
thành sản phẩm.
ở doanh nghiệp xây lắp có một số cách phân loại sau:
a-Phân loại theo yếu tố chi phí:
Thực chất của cách phân loại này là chỉ chi tiết hoá ba yếu tố chi phí đó là
chi phí về sức lao động, chi phí về đối tợng lao động và chi phí về t liệu lao động
nhằm cung cấp thông tin về chi phí một cách cụ thể hơn phục vụ cho việc xây
dựng và phân tích định mức vốn lu động, lập và liểm tra dự toán chi phí sản xuất.
Theo quy định hiện hành chi phí đợc chia làm các yếu tố sau:
5
- Yếu tố nguyên liệu, vật liệu: bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu
chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ sử dụng vào sản xuất kinh
doanh(loại trừ giá trị vật liệu dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố nhiên liệu, động lực sử dụng vào qúa trình sản xuất kinh doanh
tronh kỳ(trừ số dùng không hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi).
- Yếu tố tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng: phản ánh tổng số tiền lơng và
phụ cấp mang tính chất lơng phải trả cho toàn bộ công nhân viên chức.
- Yếu tố BHXH, BHYT, KPCĐ : phản ánh phần BHXH, BHYT, KPCĐ
trích theo tỷ lệ quy định trên tổng số tiền lơng và phụ cấp lơng phải trả cho công
nhân viên chức.
- Yếu tố khấu hao TSCĐ: phản ánh tổng số khấu hao TSCĐ phải trích
trong kỳ của tất cả các TSCĐ sử dụng cho sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua
ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh.
- Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền
cha phản ánh vào các yếu tố trên dùng vào sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Phân loại theo cách này cho ta biết tỷ trọng và kết cấu của từng loại chi phí
sản xuất mà doanh nghiệp đã chi ra trong kỳ.
b - Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Cách phân loại này dựa vào công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí
cho từng đối tợng nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý chi phí sản xuất theo định
mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm, phân tích tình hình
thực hiện kế hoạch giá thành, làm tài liệu tham khảo để lập định mức chi phí sản
xuất và kế hoạch giá thành sản phẩm kỳ sau. Giá thành của sản phẩm xây lắp đợc
hình thành từ các khoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp: là chi phí của các vật liệu chính, vật
liệu phụ, các cấu kiện hoặc các bộ phận rời, vật liệu luân chuyển tham gia cấu
thành thực thể sản phẩm xây lắp hoặc giúp cho việc thực hiện và hoàn thành khối
lợng xây lắp (không kể vật liệu phụ cho máy móc, phơng tiện và vật liệu tính trong
chi phí sản xuất chung).
Chi phí nhân công trực tiếp: Là toàn bộ tiền lơng chính, lơng phụ, phụ cấp
có tính chất lơng phải trả cho công nhân trực tiếp xây lắp các công trình, công
nhân phục vụ thi công (kể cả công nhân vận chuyển, bốc dỡ vật t trong phạm vi
mặt bằng thi công, công nhân chuẩn bị thi công và thu dọn hiện trờng). Trong số
đó tính cả lao động trong biên chế và lao động thuê ngoài. Khoản mục này không
6
bao gồm tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng của công nhân điều khiển máy thi
công và công nhân viên vận chuyển ngoài phạm vi công trình.
Chi phí máy thi công: gồm chi phí thờng xuyên và chi phí tạm thời
Chi phí thờng xuyên sử dụng máy thi công gồm: lơng chính, lơng phụ của
công nhân điều khiển máy, phục vụ máy , chi phí vật liệu, chi phí công cụ,
dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài (chi phí sửa chữa
nhỏ, điện, nớc, bảo hiểm xe, máy ), chi phí khác bằng tiền.
Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: chi phí sửa chữa lớn máy thi
công (đại tu, trung tu ), chi phí công trình tạm thời cho máy thi công (lều, lán,
bệ, đờng ray chạy máy ). Chi phí này đợc phân bổ trong thời gian sử dụng
máy.
Chi phí sản xuất chung: phản ánh chi phí của đội, công trờng xây dựng
gồm: lơng nhân viên quản lý đội xây dựng, khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ đợc
tính theo tỷ lệ quy định (19%) trên lơng phải trả công nhân trực tiếp xây lắp (thuộc
danh sách lao động của doanh nghiệp) và nhân viên quản lý đội , khấu hao TSCĐ
dùng chung cho hoạt động của đội và những chi phí khác liên quan đến hoạt động
của đội.
c - Phân loại theo cách ứng xử của chi phí
Cách phân loại này có tác dụng đối với quản trị kinh doanh, phân tích điểm
hoà vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành sản
phẩm tăng hiệu quả kinh doanh.
Tổng chi phí của doanh nghiệp đợc chia thành : biến phí và định phí
- Biến phí: là những khoản mục chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với biến
động về mực độ hoạt động. Biến phí bao gồm các khoản nh: chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp Biến phí tính cho đơn vị thì ổn định nh-
ng tổng biến phí thay đổi khi sản lợng thay đổi.
- Định phí: là những khoản chi phí không biến đổi khi mức độ hoạt động
thay đổi. Định phí bao gồm các khoản nh: chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí thuê
mặt bằng, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí nghiên cứu Khi sản lợng thay đổi,
tổng định phí giữ nguyên còn định phí tính cho đơn vị thay đổi.
2.2. Khái niệm và phân loại giá thành sản phẩm xây lắp
2.2.1. Khái niệm
Quá trình sản xuất là quá trình thống nhất bao gồm hai mặt: mặt hao phí sản
xuất và mặt kết quả sản xuất. Chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí sản xuất, giá
thành sản phẩm phản ánh mặt kết quả sản xuất. Tất cả những khoản chi phí phát
7
sinh trong kỳ, kỳ trớc chuyển sang và các chi phí trích trớc có liên quan đến khối
lợng sản phẩm hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí về
lao động sống, lao động vật hoá liên quan đến khối lợng hoàn thành trong kỳ.
Cũng nh bất kỳ các ngành sản xuất kinh doanh khác, giá thành của sản
phẩm xây lắp cũng thực hiện hai chức năng chủ yếu: đó là bù đắp chi phí và tái
sản xuất mở rộng. Số tiền thu về khi bàn giao công trình phải đủ để bù đắp toàn bộ
chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra từ khi khởi công đến khi tiêu thụ. Mặt khác,
trong cơ chế thị trờng mục đích và nguyên tắc kinh doanh là ngày càng đầu t phát
triển quy mô, muốn vậy hoạt động của doanh nghiệp phải đem lại lợi nhuận.
Để đáp ứng nhu cầu quản lý, hạch toán, thực hiện kế hạch hạ giá thành sản
phẩm tăng sức cạnh tranh trên thị trờng doanh nghiệp cần tiến hành phân loại giá
thành theo nhiều tiêu thức khác nhau.
2.2.2. Phân loại giá thành
a - Căn cứ vào thời điểm tính và nguồn số liệu
Theo cách phân loại này giá thành của sản phẩm xây lắp đợc chia thành :
giá thành dự toán, giá thành kế hoạch, giá thành thực tế.
Giá thành dự toán
Giá thành dự toán là tổng chi phí để hoàn thành khối lợng xây lắp công
trình, đợc xác định theo khung giá quy định áp dụng theo từng vùng lãnh thổ.
Giá thành dự toán = Giá trị dự toán - Lợi nhuận định mức
Trong đó, giá trị dự toán là chỉ tiêu dùng làm căn cứ cho các doanh nghiệp
xây lắp xây dựng kế hoạch sản xuất đồng thời là căn cứ để các cơ quan nhà nớc
giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xây lắp. Các khoản
tính vào giá trị dự toán gồm các chi phí trực tiếp, chi phí chung và lợi nhuận định
mức. Lợi nhuận định mức là chỉ tiêu nhà nớc quy định để tích luỹ cho xã hội do
ngành xây dựng sáng tạo ra.
Giá thành kế hoạch
Giá thành kế hoạch sản phẩm xây lắp đợc lập dựa vào định mức chi phí nội
bộ của doanh nghiệp xây lắp. Giá thành kế hoạch phải đợc tính trớc khi bớc vào
chu kỳ sản xuất kinh doanh và là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là căn cứ
để so sánh, phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch
hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp.
Giá thành kế hoạch đợc xác định theo công thức:
Giá thành kế hoạch = Giá thành dự toán - Mức hạ giá thành kế hoạch
8
Mức hạ giá thành kế hoạch thể hiện trình độ và năng lực quản lý sản xuất của
doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong cùng ngành.
Giá thành thực tế xây lắp
Giá thành thực tế sản phẩm xây lắp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các chi
phí thực tế mà doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành một khối lợng xây lắp nhất
định và đợc xác định theo số liệu kế toán cung cấp.
Giá thành thực tế sản phẩm xây lắp không chỉ bao gồm những chi phí trong
định mức mà còn bao gồm những chi phí thực tế không cần thiết nh: chi phí về
thiệt hại phá đi làm lại, thiệt hại ngừng sản xuất, mất mát hao hụt vật t do những
nguyên nhân chủ quan của doanh nghiệp
Việc chia thành ba loại giá trên cho phép doanh nghiệp so sánh giữa giá
thành thực tế với giá thành dự toán để đánh giá trình độ quản lý của doanh nghiệp
mình với các doanh nghiệp xây lắp khác; so sánh giữa giá thành thực tế với giá
thành kế hoạch cho phép ta đánh giá sự tiến bộ hay non yếu của doanh nghiệp xây
lắp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất, trình độ tổ chức quản lý của doanh
nghiệp đó.
Một doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cần đảm bảo nguyên tắc:
Giá thành thực tế <= Giá thành kế hoạch <= Giá thành dự toán
b - Căn cứ vào giai đoạn tính giá
Do quá trình thi công, sản xuất sản phẩm xây lắp kéo dài, chi phí phát sinh
lớn nên để có thể kiểm soát đợc chi phí ngời ta xác định các điểm dừng kỹ thuật
để tiến hành tính giá.
Theo cách phân loại này có hai loại giá thành:
Giá thành hoàn chỉnh:
Giá thành hoàn chỉnh là giá thành của những công trình, hạng mục công
trình đã hoàn chỉnh, đảm bảo kỹ thuật, đúng thiết kế và hợp đồng, đã bàn giao cho
chủ đầu t và họ chấp nhận thanh toán.
Giá thành thực tế công tác xây lắp
Giá thành thực tế công tác xây lắp phản ánh tổng chi phí doanh nghiệp chi
ra cho xây dựng công trình đạt đến một điểm dừng kỹ thuật nhất định. Nhà quản
trị có thể dựa vào chỉ tiêu này thu thập thông tin kịp thời về chi phí cho từng giai
đoạn thi công từ đó so sánh với dự toán thiết kế, phát hiện kịp thời những chênh
lệch bất hợp lý, tìm hiểu nguyên nhân để điều chỉnh cho phù hợp với giai đoạn sau.
Ngoài ra, trong xây dựng cơ bản còn sử dụng một số chỉ tiêu giá thành sau:
9
Giá đấu thầu xây lắp: là giá dự toán mà chủ đầu t đa ra để các đơn vị xây lắp
làm căn cứ xác định giá đấu thầu của mình dảm bảo nguyên tắc:
Giá đấu thầu xây lắp < = Giá dự toán.
Có nh vậy mới đáp ứng mục đích tiết kiệm vốn đầu t, hạ thấp chi phí lao
động xã hội góp phần thúc đẩy tăng năng suất lao động xã hội.
Giá hợp đồng xây lắp: là loại giá thành dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng
kinh tế đợc ký kết giữa đơn vị xây lắp và chủ đầu t sau khi thoả thuận giao
nhận thầu, đảm bảo nguyên tắc:
Giá hợp đồng xây lắp < = Giá đấu thầu xây lắp.
Vận dụng hai loại giá thành này là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện cơ
chế quản lý kinh tế trong xây dựng. Nó sử dụng quan hệ tiền hàng, tạo ra sự mềm
dẻo nhất định trong mối quan hệ giữa chủ đầu t và doanh nghiệp xây lắp trong
việc định ra giá thành sản phẩm xây lắp cũng nh chủ động trong kinh doanh, thích
nghi với cơ chế thị trờng cạnh tranh lành mạnh.
2.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là hai mặt thống nhất của quá
trình xây lắp. Chi phí sản xuất thể hiện mặt hao phí còn gía thành sản phẩm thể
hiện kết quả của quá trình sản xuất. Do đó chúng giống nhau về chất, đều là biểu
hiện bằng tiền của các hao phí về lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp bỏ ra. Tuy nhiên giữa chúng lại có sự khác nhau cơ bản: nếu nói chi phí
sản xuất là tổng hợp tất cả những khoản chi phí phát sinh trong kỳ thì giá thành lại
là sự tổng hợp của các khoản phí gắn liền với việc sản xuất và hoàn thành một
khối lợng công việc xây lắp nhất định để nghiệm thu và bàn giao. Giá thành không
bao gồm chi phí dở dang cuối kỳ, những khoản chi phí thực tế đã chi ra nhng còn
chờ phân bổ cho kỳ sau, nhng giá thành lại bao gồm chi phí dở dang đầu kỳ, chi
phí đã trích trớc nhng thực tế cha chi và những khoản chi phí kỳ trớc phân bổ cho
kỳ này.
Việc tập hợp chi phí đầy đủ, đúng đắn sẽ tạo cơ sở cho công tác tính giá
thành chính xác - đó là hai bớc công việc kế tiếp nhau của quy trình hạch toán.
2.4. Nhiệm vụ của công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm
Vai trò của công tác này là cung cấp thông tin cho các nhà quản trị phục vụ
cho việc ra quyết định, vì vậy việc tổ chức hạch toán chi phí sản xuất và tính giá
10
thành sản phẩm trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp kinh
doanh xây lắp nói riêng phải đảm bảo các yêu cầu sau:
- Phải phán ánh kịp thời, đầy đủ và chính xác toàn bộ chi phí sản xuất phát
sinh trong quá trình sản xuất.
- Xác định đối tợng hạch toán và tính giá thành một cách chính xác, phân
bổ chi phí theo đúng đối tợng.
- Liên tục đối chiếu kiểm tra giữa các chi phí thực tế phát sinh với dự toán,
cung cấp thông tin kịp thời cho các nhà quản lý để đa ra các quyết định điều chỉnh.
- Tính toán giá thành sản phẩm một cách chính xác cho từng đối tợng từ đó
đánh giá hiệu quả của việc tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh.
III. Đối tợng, phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong doanh nghiệp xây lắp
3.1. Đối tợng, phơng pháp, trình tự hạch toán chi phí sản xuất
3.1.1. Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất
Để phục vụ cho việc tính giá thành chính xác công việc đầu tiên đòi hỏi nhà
quản lý phải làm là xác định đúng đối tợng hạch toán chi phí sản xuất. Xác định
đối tợng hạch toán chi phí sản xuất là xác định giới hạn tập hợp chi phí sản xuất
thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí. Sản phẩm của ngành
xây lắp thờng là đơn chiếc và có giá trị lớn, mỗi sản phẩm đợc tiến hành theo hợp
đồng riêng với yêu cầu kỹ thuật, tiến độ thi công bàn giao, chi phí khác nhau.
Ngoài ra phơng thức khoán gọn cũng thờng đợc các đơn vị xây lắp áp dụng, khi có
hợp đồng khoán gọn các tổ, đội sản xuất tiến hành tổ chức cung ứng vật t, nhân
lực thi công cho tới lúc hoàn thành bàn giao công trình. Do đó đối tợng tập hợp chi
phí sản xuất ở doanh nghiệp xây lắp đợc xác định theo công trình hoặc hạng mục
công trình kết hợp với các tổ, đội xây lắp.
3.1.2. Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất
Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một phơng pháp hay hệ thống các
phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm
vi giới hạn của đối tợng hạch toán chi phí. Thực tế có nhiều phơng pháp hạch toán
chi phí khác nhau cần dựa vào điều kiện cụ thể của doanh nghiệp nh đặc điểm tổ
chức sản xuất, yêu cầu quản lý để lựa chọn phơng pháp thích hợp cho doanh
nghiệp. Trong doanh nghiệp xây lắp có những phơng pháp hạch toán chi phí sau:
11
+ Ph ơng pháp hạch toán chi phí theo công trình hay hạng mục công trình :
Hàng tháng chi phí phát sinh liên quan đến công trình, hạng mục công trình nào
thì tập hợp cho công trình, hạng mục công trình đó. Phơng pháp này đợc sử dụng
khi đối tợng tập hợp chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ công trình hay hạng mục
công trình.
+ Ph ơng pháp tập hợp chi phí theo đơn đặt hàng : chi phí phát sinh hàng
tháng sẽ đợc phân loại cho từng đơn đặt hàng riêng biệt. Khi đơn đặt hàng hoàn
thành thì tổng chi phí đợc tập hợp theo đơn đặt hàng đó chính là giá thành sản
phẩm. Phơng pháp này đợc sử dụng trong trờng hợp doanh nghiệp xác định đối t-
ợng tập hợp chi phí là đơn đặt hàng.
+ Ph ơng pháp tập hợp chi phí theo tổ đội thi công : các chi phí phát sinh trong
kỳ đợc tập hợp theo từng tổ đội thi công công trình, trong từng tổ đội đó chi phí lại
đợc tập hợp theo từng đối tợng chịu chi phí nh hạng mục công trình, nhóm hạng
mục công trình. Thực tế có nhiều chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tợng,
cuối kỳ kế toán tiến hành phân bổ chi phí đã tập hợp cho các đối tợng chịu phí một
cách chính xác và hợp lý theo phơng pháp phân bổ trực tiếp hoặc gián tiếp. Phơng
pháp này thờng đợc sử dụng trong các doanh nghiệp xây lắp có thực hiện khoán.
3.1.3. Trình tự hạch toán chi phí sản xuất
Trình tự hạch toán chi phí sản xuất là bớc công việc cần tiến hành để tập hợp
chi phí sản xuất phục vụ cho việc tính giá thành kịp thời, chính xác. Cũng nh các
ngành sản xuất khác, chi phí sản xuất của ngành xây lắp đợc tập hợp qua các bớc
cơ bản sau:
Bớc 1: Tập hợp chi phí cơ bản (chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân
công trực tiếp) có liên quan đến đối tợng sử dụng(công trình, hạng mục công trình,
tổ đội thi công).
Bớc 2: Tính toán và phân bổ lao vụ của các ngành sản xuất kinh doanh phụ
các liên quan trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình trên cơ sở khối l-
ợng lao vụ phục vụ và đơn giá thành lao vụ.
Bớc 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình có liên
quan theo tiêu thức thích hợp.
Bớc 4: Xác định chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ, tính ra giá
thành sản phẩm xây lắp hoàn thành.
3.2. Đối tợng, phơng pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp
3.2.1. Đối tợng tính giá thành
12
Xác định đối tợng tính giá thành là công việc đầu tiên trong bớc hai của quy
trình hạch toán đó là tính ra giá thành của sản phẩm, bán thành phẩm, công vụ, lao
vụ hoàn thành trong kỳ. Đối tợng tính giá thành có thể là sản phẩm cuối cùng của
quả trình sản xuất hay đang trên dây chuyền công nghệ sản xuất.
Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tợng tính giá thành là các hạng mục công
trình đã hoàn thành, các giai đoạn công việc đã hoàn thành, các khối lợng xây lắp có
tính dự toán riêng đã hoàn thành. Xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí là căn cứ
để kế toán tổ chức ghi sổ chi tiết, tổ chức ghi chép ban đầu và tổ chức tập hợp phân
bổ chi phí sản xuất hợp lý giúp cho doanh nghiệp tăng cờng công tác kiểm tra tiết
kiệm chi phí, thực hiện tốt hạch toán kinh doanh. Còn xác định đối tợng tính giá
thành là căn cứ để kế toán giá thành tổ chức các bảng tính giá thành sản phẩm (chi
tiết giá thành), lựa chọn phơng pháp tính giá thích hợp, tổ chức công việc tính giá
thành hợp lý, phục vụ cho việc quản lý, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch giá
thành và tính toán hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
3.2.2. Phơng pháp tính giá thành
Đối với doanh nghiệp xây lắp chu kỳ sản xuất sản phẩm dài, sản phẩm đơn
chiếc và chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản xuất. Hàng tháng kế toán vẫn tiến
hành tập hợp chi phí sản xuất theo từng đối tợng có liên quan, khi nhận đợc chứng
từ xác minh công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành (biên bản bàn giao
công trình) kế toán giá thành sử dụng số liệu đã tập hợp để tính ra giá thành sản
phẩm.
Các phơng pháp tính giá thành mà doanh nghiệp xây lắp thờng sử dụng là:
phơng pháp tính giá thành trực tiếp, phơng pháp tổng cộng chi phí, phơng pháp
tính giá theo đơn đặt hàng, phơng pháp tính giá theo định mức
+ Phơng pháp tính giá thành trực tiếp
Phơng pháp này đợc áp dụng chủ yếu trong doanh nghiệp xây lắp phù hợp
đặc điểm sản phẩm đơn chiếc và chi phí sản xuất đợc tập hợp riêng cho từng đối t-
ợng. Theo phơng pháp này công thức tính giá thành nh sau:
Z = d
đk
+ C - d
ck
Trong đó:
Z : Giá thành sản phẩm
D
ĐK
: Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ
C : Tổng chi phí phát sinh trong kỳ
13
D
CK
: Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ
+ Phơng pháp tổng cộng chi phí:
Phơng pháp này thờng đợc áp dụng trong doanh nghiệp xây lắp có quy mô
lớn, quá trình xây lắp đợc chia thành các tổ, đội sản xuất hay từng giai đoạn công
trình. Trong đó đối tợng tập hợp chi phí là từng tổ đội sản xuất hoặc từng giai đoạn
thi công còn đối tợng tính giá thành là các công trình xây lắp hoàn thành.
Theo phơng pháp này giá thành đợc nh sau:
Z = D
ĐK
+ C
1
+ C
2
+ + C
N
- D
CK
Trong đó: C
1
, C
2
, , C
N
là chi phí phát sinh ở từng tổ đội hay từng giai đoạn
thi công.
+ Phơng pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng:
Phơng pháp này thờng áp dụng trong trờng hợp bên giao thầu ký hợp đồng
với doanh nghiệp xây lắp thi công bao gồm nhiều công việc khác nhau mà không
cần hạch toán riêng cho từng công việc. Khi đó đối tợng tập hợp chi phí sản xuất
và tính giá thành sản phẩm là đơn đặt hàng. Chi phí thực tế phát sinh đợc tập hợp
riêng cho từng đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành công trình.
Toàn bộ chi phí đã tập hợp là giá thành của đơn đặt hàng đó.
+ Phơng pháp tính giá thành theo định mức:
Mục đích của phơng pháp này là kịp thời vạch ra mọi chi phí sản xuất thoát
ly nhằm tăng cờng tính chất kiểm tra và phân tích các số liệu chi phí sản xuất và
giá thành . Đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính toán giản đơn và
cung cấp số liệu giá thành kịp thời.
Nội dung của phơng pháp này là:
- Căn cứ vào định mức kỹ thuật hiện hành và dự toán chi phí sản xuất đợc
duyệt để tính ra giá thành định mức cho sản phẩm.
- Tổ chức công tác hạch toán chi phí sản xuất thực tế phù hợp với định mức
và số chi phí sản xuất chênh lệch thoát ly định mức.
- Giá thành thực tế của sản phẩm đợc tính theo công thức:
Z
TTSP
= Z
ĐMSP
+ Chênh lệch do thay + Chênh lệch do thoát
đổi định mức ly định mức
Trong đó giá thành định mức đợc xác định căn cứ vào mức quy định của Bộ
Tài Chính cấp. Chênh lệch do thay đổi định mức đợc xác định căn cứ vào chứng từ
báo động do thay đổi định mức.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét