Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Công tác kế hoạch hoá tại Việt nam

Nhóm X
Đại hội lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định Cơ chế kinh
tế áp dụng ở Việt Nam là cơ chế thị trờng có sự điều tiết của Chính phủ theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa.
Khác với nhiều nớc có nền kinh tế chuyển đổi, đổi mới kinh tế ở Việt Nam
không có nghĩa là từ bỏ hoặc coi nhẹ KHH kinh tế vĩ mô, mà yêu cầu đặt ra là phải
có những những thay đổi cần thiết, đáp ứng đợc những đòi hỏi và điều kiện mới của
nền kinh tế. Muốn đáp ứng đợc các yêu cầu đó, đòi hỏi phải đổi mới mạnh hơn nữa
các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô, trong đó đặc biệt là phải đổi mới công tác KHH.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ t Ban chấp hành Trung ơng khoá VIII đã khẳng định
chủ trơng đổi mới quản lý nhà nớc về kinh tế xã hội là Chuyển mạnh sang
quản lý kinh tế xã hội bằng tổ chức, luật pháp, chính sách, chế độ, quy hoạch,
giáo dục, thuyết phục, thanh tra, kiểm tra và rất quan trọng là bằng các công cụ
quản lý vĩ mô và sức mạnh kinh tế của Nhà nớc( ), đẩy mạnh công tác hoạch định
và hớng dẫn thực hiện chiến lợc, quy hoạch, kế hoạch phảt triển .
Nh vậy, đối với Việt Nam, KHH là một công cụ quản lý kinh tế vĩ mô hết
sức quan trọng. Vì vậy, cần phải tiến hành đổi mới công tác KHH trên tất cả các ph-
ơng diện, từ t duy, quan điểm định hớng, nội dung, phơng pháp cho đến cơ cấu tổ
chức và cách thức chỉ đạo kế hoạch nhằm đáp ứng đợc đầy đủ hơn các nhu cầu của
sự phát triển kinh tế.
Nhóm X
Chơng 2:
quá trình đổi mới kế hoạch hoá ở việt nam
2.1. Thực trạng đổi mới công tác kế hoạch hoá ở Việt Nam.
Kế hoạch hoá trong cơ chế cũ đợc coi là công cụ chủ yếu nhất để quản ký
kinh tế. Thông qua hệ thống các cơ quan kế hoạch nhà nớc từ trung ơng đến địa ph-
ơng để xây dựng kế hoạch, giao chỉ tiêu kế hoạch cho các cơ sở kinh tế, điều hành,
theo dõi và xét duyệt việc hoàn thành kế hoạch hoá mà nhà nớc có thể chỉ huy đợc
nền kinh tế. Việc thực hiện cơ chế đó đến đầu thập kỷ 80 đã trở thành lực cản đối
với sự phát triển kinh tế.
Công tác kế hoạch hoá trong thời kì này đợc cải tiến dần theo hớng chuyển
từ hoạch hoá tập trung mang tính chất pháp lệnh trực tiếp sang kế hoạch hoá gián
tiếp. Nhà nớc xây dựng chiến lợc phát triển với các mục tiêu lớn, các chỉ tiêu kinh
tế chủ yếu và điều tiết nền kinh tế bằng các chính sách, các công cụ kinh tế vĩ mô
để dẫn đến nền kinh tế theo định hớng đề ra cho từng giai đoạn. Các cơ quan nhà n-
ớc chú trọng hơn vào việc nghiên cứu chiến lợc, xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài
hạn, trung hạn, bảo đảm các quan hệ cân đối tổng hợp nền kinh tế và xây dựng
chính sách, biện pháp để xây dựng kế hoạch nhà nớc đề ra. Nhà nớc cũng có thể
triển khai thực hiện kế hoạch thông qua các chơng trình mục tiêu, các dự án cụ thể.
2.1.1. Xây dựng chiến lợc phát triển kinh tế-xã hội.
Nét nổi bật trong công tác kế hoạch hoá hơn 10 năm qua là kế hoạch hoá
đã chuyển dần từ kế hoạch hoá pháp lệnh sang kế hoạch hoá định hớng với việc tập
trung nỗ lực xây dựng chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng quy hoạch
phát triển. Việc tăng cờng nghiên cứu xây dựng chiến lợc và quy hoạch phát triển
đã tạo ra cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác kế hoạch hoá trung hạn và kế
hoạch hoá hàng năm.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của đảng (1991) lần đầu tiên đã đa
ra bản chiến lợc phát triển kinh tế xã hội thời kì 1991 - 2000 với mục tiêu tổng quát
là đa đất nớc ta ra khỏi tình trạng khủng hoảng, ổn định tình hình chính trị xã
hội phấn đấu vợt qua tình trạng nghèo và kém phát triển, cải thiện đời sống, củng cố
quốc phòng an ninh, tạo điều kiện cho đất nớc phát triển nhanh hơn vào đầu thế kỷ
XXI. Quan điểm phát triển của chiến lợc 1991-2000:
Phát triển kinh tế xã hội theo con đờng củng cố độc lập dân tộc và xây
dựng CNXH ở nớc ta là quá trình thực hiện dân giàu, nớc mạnh, tiến lên hiện đại
trong một xã hội mà nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hoá, có kỷ cơng, xóa bỏ áp
bức bất công tạo điều kiện cho mọi ngời có cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc; Mọi
ngời đợc tự do kinh doanh theo pháp luật, đợc bảo hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp
Nhóm X
pháp. Nền kinh tế có nhiều thành phần với nhiều dạng sở hữu và hình thức tổ chức
kinh doanh; Nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc;
Mở rộng quan hệ kinh tế; Hiệu quả kinh tế xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất;
Phát triển giáo dục - đào tạo, khoa học công nghệ; Tăng trởng kinh tế phải gắn với
tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển văn hoá, bảo vệ môi trờng; Dân chủ hoá đời
sống xã hội; Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế xã hội với ổn định và đổi mới
về chính trị, tăng cờng củng cố quốc phòng an ninh, giữ vững an ninh chính trị, trật
tự an toàn xã hội .
Kết quả đạt đợc là nền kinh tế có bớc phát triển về lực lợng sản xuất. Quan
hệ sản xuất và hội nhập kinh tế quốc tế đời sống vật chất, tinh thần của nhân đân ta
đợc cải thiện rõ rệt, văn hoá xã hội không ngừng tiến bộ; Thế và lực của đất nớc hơn
hẳn 10 năm trớc, khả năng tự chủ đợc nâng lên, tạo thêm điều kiện đẩy mạnh CNH
- HĐH đất nớc.
Nguyên nhân của những kết quả này là đờng lối đổi mới đúng đắn của
Đảng cùng những cố gắng và tiến bộ trong công tác quản lý của nhà nớc đã phát
huy đợc nhân tố có ý nghĩa quyết định là ý chí kiên cờng, tính năng động, sáng tạo
và nỗ lực phấn đấu của nhân dân ta.
Chiến lợc này đợc điều chỉnh thông qua đại hội Đảng lần thứ VIII (1996)
với trọng tâm đẩy mạnh CNH - HĐH đất nớc. Đây là sự mở đầu giai đoạn áp dụng
phối hợp chiến lợc với quy hoạch, giữa quy hoạch với kế hoạch trung hạn và ngắn
hạn trong hệ thống kế hoạch hoá. Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội đề ra mục
tiêu tăng trởng kinh tế phù hợp có nội dung đáp ứng đợc yêu cầu của công cuộc đổi
mới đất nứơc, phát huy tiềm lực trong nớc và thu hút nguồn lực bên ngoài, tạo điều
kiện thuận lợi cho việc xây dựng các chính sách kinh tế phù hợp với điều kiện
chuyển sang nền kinh tế thị trờng.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2004) đã đề ra chiến lợc phát triển
kinh tế - xã hội 10 năm 2001-2010 với mục tiêu tổng quát là: Đa nớc ta thoát khỏi
tình trạng kém phát triển; Nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của
nhân dân; Tạo nền tảng đến năm 2020 nớc ta cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
theo hớng hiện đại. Nguồn lực con ngời, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu
hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh đợc tăng cờng, thể chế kinh tế thị tr-
ờng định hớng XHCN đợc hình thành về cơ bản; Vị thế của nớc ta trên trờng quốc
tế đợc nâng cao. Chiến lợc phát triển KT-XH 2001-2010 đã đề ra năm quan điểm
phát triển: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trởng kinh tế đi đôi với thực
hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trờng; Coi phát triển kinh tế là nhiệm
vụ trung tâm, xây dựng đồng bộ nền tảng cho một nớc công nghiệp là yêu cầu cấp
thiết; Đẩy mạnh công cuộc đổi mới, tạo động lực giải phóng và phát huy mọi nguồn
Nhóm X
lực; Gắn chặt việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với chủ động hội nhập kinh
tế quốc tế; Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế xã hội với quốc phòng an ninh.
Sự xuất hiện của bản chiến lợc đầu tiên đã giúp chúng ta có đợc cái nhìn rõ
nét hơn về tơng lai của đất nớc, về cái đích mà đất nớc ta sẽ hớng tới, từ đó, sẽ xác
định đợc hớng đi của mình một cách có cơ sở hơn và thêm tin tởng vào những chính
sách Nhà nớc đề ra.
2.1.2. Về công tác quy hoạch phát triển:
Không thể thiếu đợc quy hoạch trong lý thuyết và thực tiễn của KHH. Nêú
chiến lợc phát triển là vạch ra các đờng nét hớng đạo cho sự phát triển trong một
thời gian dài thì quy hoạch phát triển thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lựơc về thời
gian va không gian lãnh thổ, xây dựng khung vĩ mô về tổ chức không gian để chủ
động hớng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững.
Trên thực tế, tập trung sức xây dựng chiến lợc và quy hoạch phát triển, các
chơng trình dự án lớn trong cả nớc và cho từng ngành, từng vùng, từng lĩnh vực.
Thực hiện phơng châm này, trong những năm qua Nhà nớc đã thực hiện quy hoạch
một số ngành nh: điện lực, bu chính viễn thông, giao thông vận tải các khu công
nghiệp, khu chế xuất, tạo cơ sở cho sự phát triển chung của nền kinh tế, đóng góp
một phần không nhỏ cho công cuộc cải cách kinh tế.
Việc hình thành các vùng kinh tế trọng điểm ở miền Bắc, miền Nam và miền
Trung đã tạo ra những khu vực phát triển tập trung thu hút các nhà đầu t, đặc biệt là
các nhà đầu t nớc ngoài, đã làm thay đổi không những bộ mặt KT - XH ở những
vùng này mà còn góp phần quan trọng cho tăng trởng của toàn nền kinh tế, tạo điều
kiện thúc đẩy các vùng lân cận phát triển thành vệ tinh của những cực phát triển
trên.
Nhìn chung công tác quy hoạch đã có những cố gắng và chuyển biến bớc
đầu, đã gắn đợc mục tiêu chiến lợc vào nội dung quy hoạch, xác định đợc tiềm
năng, định hớng phát triển cho từng vùng, từng địa phơng. Tài liệu quy hoạch đã b-
ớc đầu giúp cho các cấp lãnh đạo ở trung ơng và địa phơng xác định mục tiêu,
nhiệm vụ và tăng cờng sự chỉ đạo phát triển KT-XH ở từng địa phơng cũng nh cả n-
ớc.
Công tác phân vùng quy hoạch đã có sự đổi mới và phát triển từ thấp đến
cao. Lúc đầu, chúng ta chia cả nớc thành bốn vùng và sau đó đã đợc thay đổi và
chia cả nớc thành bẩy vùng.
Sự đổi mới trong công tác quy hoạch là một trong những điểm đổi mới
trong công tác làm kế hoạch ở nớc ta. Từ đó góp phần không nhỏ vào sự phát triển
kinh tế của đất nớc, cũng nh sự phát triển kinh tế của chính vùng đó thông qua thu
hút vốn đầu t nớc ngoài.
Nhóm X
2.1.3. Về công tác kế hoạch phát triển.
Kế hoạch phát triển là sự cụ thể hoá của chiến lợc và quy hoạch phát triển,
là một công cụ định hớng đợc thể hiện bằng hệ thôngs các chỉ tiêu mục tiêu, các chỉ
biện pháp và các giải pháp chính sách cơ bản áp dụng trong một khoảng thời gian
nhất định.
2.1.3.1. Chuyển dần trọng tâm sang KHH định hớng phát triển năm năm.
Trên cơ sở chiến lợc phát triển KT-XH và quy hoạch phát triển, các kế
hoạch năm:1991-1995 và 1996-2000 đã đợc xây dựng vơí những thay đổi lớn về nội
dung nh: tăng cờng KHH vĩ mô; Từng bớc xoá bỏ KHH mệnh lệnh và giảm đến
mức tối thiểu các chỉ tiêu pháp lệnh, chuyển sang KHH định hớng, chú ý hơn đến
các chỉ tiêu trên các lĩnh vực xã hội, khoa học và công nghệ; Đã có nhiều cố gắng
xây dựng và điều hành đảm bảo các cân đối lớn trong KHH giá trị; Xây dựng và
thực hiện các chơng trình dự án quốc gia; Chú trong xây dựng cơ sở hạ tầng KT-
XH; Mở rộng quan hệ đối ngoại và hợp tác quốc tế.
Phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm bớc đầu có sự đổi mới
trong lĩnh vực ngân sách, chuyển từ phơng pháp truyền thống hay phơng pháp xây
dựng và quản lý kế hoạch năm năm thời kỳ cố định sang phơng pháp đổi mới hay
phơng pháp xây dựng và quản lý kế hoạch năm năm theo mô hình cuốn chiếu. Cụ
thể:
Chuyển từ việc thời kỳ của năm năm là cố định sang thời gian của kỳ kế
hoạch là năm năm nhng thời kỳ kế hoạch có sự thay đổi tức là luân chuyển theo
kiểu cuốn chiếu.
Chuyển từ việc các chỉ tiêu đựơc xây dựng là các chỉ tiêu đợc tính bình quân
cho một năm của cả kỳ kế hoạch hoặc là tính cụ thể đích đạt đợc cho năm cuối
cùng sang xây dựng chỉ tiêu cụ thể cho năm đầu tiên, sau đó dự tính chỉ tiêu cho
năm tiếp theo và dự báo cáo chỉ tiêu cơ bản cho ba năm còn lại; Sau một năm, trên
cơ sở kết quả thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch của năm đó kết hợp với những tình
hình cụ thể của thị trờng mà chúng ta dự kiến đợc; Từ đó các nhà kế hoạch sẽ xây
dựng kế hoạch cụ thể cho năm thứ hai và năm thứ hai sẽ là năm đầu của thời kỳ mới
và xây dựng chỉ tiêu cho năm th ba tức là năm thứ hai của thời kỳ mới và dự báo các
chỉ tiêu cơ bản cho năm cuối mới.
2.1.3.2. Về kế hoạch hàng năm.
Kế hoạch hàng năm cũng đã chú trọng đến những cân đối lớn, đặc biệt là cân
đối tài chính- tiền tệ, cân đối cán cân thanh toán quốc tế, cân đối vốn đầu t toàn xã
hội. Chính sách tài khoá, tiền tệ và chinh sách tỷ giá đã đợc nghiên cứu hoạch định
và đợc sử dụng tơng đối hợp lý trở thành nhân tố quan trọng đối với việc duy trì ổn
định kinh tế vĩ mô. Thực tế nói trên đã chứng tỏ ý tởng chuyển dần việc điều hành
Nhóm X
kế hoạch từ can thiệp vi mô sang chú trọng các vấn đề vĩ mô, các cân đối lớn hơn
ngày càng thể hiện rõ và phát huy hiệu lực thực tế.
Về trình tự của việc xây dựng kế hoạch một năm cũng đã có sự đổi mới. Nếu
trớc kia là quy trình ba xuống hai lên thì hiện nay quy trình này đợc cải tiến nh sau:
Từ tháng 4 tới tháng 6: hình thành khung định hớng.
Tháng 7: tổ chức hội nghị hớng dẫn làm kế hoạch trên cơ sở khung
định hớng xây dựng kế hoạch.
Tháng 8 tới tháng 9: các bộ ngành địa phơng xây dựng kế hoạch và Bộ
KH & ĐT tiến hành tổng hợp bản kế hoạch KTQD.
Tháng 10 tới tháng 11: bản kế hoạch tổng hợp KTQD đợc trình, duyệt
qua chính phủ, ban chấp hành trung ơng Đảng và Quốc hội duyệt.
Tháng 12: hoàn chỉnh và đa kế hoạch xuống các cấp thực hiện.
2.1.3.2: Đổi mới hệ thống chỉ tiêu kế hoạch.
Hệ thống chỉ tiêu pháp lệnh đã đợc rút gọn đáng kể chỉ còn chỉ tiêu thu, chi
ngân sách nhà nớc, phân bổ vốn đầu t xây dựng cơ bản thuộc về nguồn vốn ngân
sách nhà nớc. Xoá bỏ việc giao chỉ tiêu pháp lệnh về sản xuất và chỉ duy từ một số
chỉ tiêu về lu thông vật t, hàng hoá quan trọng nhằm ổn định cung cầu.
Phần lớn các chỉ tiêu kế hoạch hiện nay là chỉ tiêu giá trị, các chỉ tiêu kế
hoạch hiện vật nói chung đã đợc giảm bớt đáng kể đồng thời duy trì một số cân đối
hiện vật thiết yếu. Hệ thống cân đối hiện vật thiết yếu nh xăng dầu, lơng thực đã tỏ
ra là cần thiết cho ổn định kinh tế xã hội, các bảng cân đối giá trị ngày càng đợc mở
rộng và nâng cao.
Ngoài xu hứơng "giá trị hoá ", trọng tâm của các chỉ tiêu kế hoạch đang
chuyển dần sang điều tiết kinh tế vĩ mô và các chỉ tiêu xã hội .
2.1.3.3. Đổi mới quy trình lập kế hoạch:
Trong thời gian qua, quy trình lập kế hoạch đã có nhiều thay đổi căn bản.
Hình thức giao số kiểm tra đã đợc thay thế bằng việc cung cấp thông tin cần thiết
nhằm hớng các ngành, địa phơng và đơn vị cơ sở xây dựng, tổng hợp kế hoạch theo
hớng mục tiêu chung của nhà nớc. Bên cạnh việc cung cấp những thông tin hớng
dẫn, Bộ kế hoạch và đầu t còn cử các đoàn đến các địa phơng để hỗ trợ, giúp đỡ và
giải quyết các vớng mắc mà các địa phơng gặp phải trong khi xây dựng kế hoạch.
Quy trình lập kế hoạch mới đã hạn chế sự áp đặt hành chính chủ quan của cấp trên
với cấp dới, phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của các ngành, các cấp chính
quyền địa phơng cũng nh doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch .
Trong khi xây dựng và tổng hợp kế hoạch đã chú ý nhiều hơn đến các kế
hoạch KH-CN, GD-ĐT, văn hoá- thông tin, y tế, xã hội, thể dục thể thao, xoá đói
giảm nghèo mà tr ớc đây thờng bị xem nhẹ và cha gắn với các kế hoạch phát triển
Nhóm X
kinh tế. Công tác kế hoạch hoá ở các lĩnh vực này sau một thời gian dài xuống cấp,
trì trệ thì nay đã có nhiều thay đổi, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát
triển kinh tế.
Công tác dự báo, thông tin đã bớc đầu đợc tăng cờng, phơng pháp tính toán
kế hoạch đợc sửa đổi phù hợp dần với thông lệ quốc tế.
2.1.3.4. Đổi mới phơng thức điều hành kế hoạch:
Đổi mới công tác điều hành kế hoạch trong thời gian qua không chỉ đợc thể
hiện ở tính kịp thời, mà còn đợc thể hiện rõ nét ở việc sử dụng các công cụ quản lý
kinh tế vĩ mô gián tiếp nh lãi suất, tỉ giá, thuế suất, định hớng đầu t của nhà nớc
Do đó, một mặt sự có thể thiệp trực tiếp của các cơ quan nhà nớc vào công việc kinh
doanh của các cơ sở kinh tế đã giảm bớt; mặt khác các cơ sở kinh tế đã có nhiều cố
gắng trong việc phát huy khả năng tự chủ, xác định những lợi thế cạnh tranh phù
hợp với điều kiện thay đổi của thị trờng .
Quá trình điều hành kế hoạch hoá (KHH) cũng đã chú ý nhiều hơn đến việc
dự báo ngắn hạn, điều chỉnh kịp thời các mục tiêu cũng nh các biện pháp kinh tế, sử
dụng các công cụ quản lý kinh tế vĩ mô cũng nh sử dụng các cơ chế, chính sách và
lực lợng vật chất để đảm bảo các cân đối lớn trong nền kinh tế, định hớng và thúc
đẩy thực hiện kế hoạch. Nếu trớc đây kế hoạch chủ yếu tập trung vào kinh tế quốc
doanh với kế hoạch hoá trực tiếp là chính, thì nay đã bớc đầu mở rộng kế hoạch
định hớng phát triển toàn bộ nền kinh tế và xã hội, chủ yếu thông qua các KHH
gián tiếp.
Công tác điều hành kế hoạch đã có những chuyển biến rõ rệt từng bớc đáp
ứng yêu cầu đặt ra, các công cụ pháp luật và chính sách kinh tế đợc phối hợp để tạo
ra hành lang cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế chủ động hoạt
động và hoạt động một cách có trật tự, đúng pháp luật góp phần ổn định kinh tế vĩ
mô.
Việc điều hành của chính phủ trong qúa trình thực hiện mục tiêu kế hoạch
hàng năm đã có hiệu quả và tác dụng thiết thực, kịp thời xử lý những diễn biến bất
thờng ở trong nớc và quốc tế, góp phần quan trọng cho sự ổn định kinh tế đất nớc .
2.2. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình đổi mới công tác kế hoạch
hoá ở Việt Nam:
Mặc dù việc đổi mới KHH trong thời gian qua có tiến bộ đáng kể nhng do
nhiều lý do, kết quả của đổi mới KHH còn hạn chế, thậm chí cả ở trung ơng và địa
phơng xu hớng giữ lại hoặc trở lại KHH kiểu cũ vẫn còn khá mạnh, ngay trong một
bộ phận của nhà nớc và một phần d luận của công chúng không khí bao cấp còn
nặng.
Những hạn chế chủ yếu là:
Nhóm X
2.2.1. Về những cơ sở lý luận và phơng pháp luận cho việc đổi mới công
tác KHH:
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, chúng ta cha xây dựng đợc một cơ
sở lý luận và phơng pháp luận về KHH phù hợp với thực tế đổi mới của đất nớc, do
vậy không khỏi lúng túng khi thiết kế nội dung kế hoạch cũng nh phơng thức điều
hành kế hoạch .
Vai trò của nhà nớc với t cách là ngời điều tiết vĩ mô nền kinh tế nhiều khi bị
nhầm lẫn với vai trò nhà nớc là chủ đầu t đã dẫn tới kết quả đó là nội dung kế hoạch
còn nặng về phân bổ đầu t nhà nớc mà cha coi trọng đúng mức việc vận dụng chính
sách để huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế khác cũng nh nguồn lực
từ nớc ngoài. Vì thế, KHH cha bao quát, cha phát huy hiệu lực đầy đủ đvới tổng thể
nền kinh tế .
Công tác kế hoạch chỉ đợc quan tâm đến nhiều ở cấp trung ơng, trong khi bộ
máy kế hoạch không đủ khả năng có đợc hệ thống thông tin giám sát ở mọi cấp từ
cơ sở, do vậy việc thực hiện nhiều khi diễn ra sai lệch với ý đồ của kế hoạch .
Mối quan hệ giữa bộ KH&ĐT với các bộ khác cha đợc tăng cờng và đổi mới
kịp thời để đáp ứng yêu cầu đổi mới chung của nền kinh tế .
2.2.2. Về nội dung phơng pháp KHH:
Việc xây dựng chiến lợc phát triển và kế hoạch 5 năm thờng đợc thực hiện
nhằm phục vụ mỗi kỳ đại hội Đảng; Sau đó việc thực hiện triển khai các mục tiêu
chiến lợc và kế hoạch 5 năm thờng bị phân cấp, phân tán và chia cắt theo từng
ngành, địa phơng, cha có khâu nối đồng bộ chung. Các cấp các ngành quan tâm
nhiều nhất đến chỉ tiêu vốn, các chỉ tiêu khác thờng bị coi nhẹ.
Mục tiêu kế hoạch vừa nhiều vừa cao hơn khả năng đảm đơng cả về năng lực
thực hiện lẫn lực lợng vật chất. Nguồn lực hạn chế của nhà nớc bị dàn mỏng ra, quá
nhiều mục tiêu mang nặng dấu ấn bao cấp và vì vậy đợc sử dụng kém hiệu quả.
Nhiều nội dung của kế hoạch, đặc biệt là kế hoạch phát triển theo vùng , lãnh
thổ còn cha tính đến đầy đủ các yếu tố hội nhập, quốc tế hoá, cũng nh cha phân
tích kỹ lỡng đến thị trờng tiêu thụ trong nớc, ngòai nớc và năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp. Phần nghiên cứu và vận dụng cơ chế chính sách còn cha thật t-
ơng xứng, cha cụ thể hoá đợc chiến lợc, cha bao quát đợc các thành phần kinh tế,
cha chú ý đúng mức tới đặc thù của các vùng, địa phơng. Nhiều vấn đề trong chính
sách vĩ mô còn cha đợc xác định rõ và nhất quán, các chính sách đòn bẩy còn nhiều
lúng túng. Cách thức thực hiện chính sách vẫn mang nặng tính can thiệp hành
chính, áp đặt mà cha chú trọng đến cơ chế thị trờng để thiết kế và thực hiện chính
sách.
Nhóm X
Và một hạn chế lớn nữa đó là sự tham gia quá ít của cộng đồng vào công tác
lập kế hoạch. Do đó cha phát huy đợc hết những khả năng vốn có trong dân chúng.
2.2.3. Về phối hợp và điều hoà kế hoạch:
Hệ thống kế hoạch theo ngành, theo địa phơng và vùng lãnh thổ vẫn cha liên
kết và phối hợp chặt chẽ với nhau đợc trở thành hệ thống kế hoạch tổng thể kinh tế
quốc dân. Sự phân cấp giữa trung ơng và địa phơng cũng nh phân công giữa các
ngành với nhau là cha rõ ràng dẫn đến hậu quả khi gặp phải diễn biến bất thờng thì
hầu hết là đều đa lên chính phủ, vì vậy chính phủ luôn phải xử lý công việc trong
thế bị động do đó là không có lợi cho nền kinh tế nói chung.
Sự can thiệp trực tiếp thờng xuyên của các cơ quan nhà nớc nhiều khi lại làm
giảm tính ổn định của các chính sách và gây khó khăn cho các nhà kinh doanh.
Việc xây dựng quy hoạch ở nhiều địa phơng đạt chất lợng cha cao, tính thực
tế thể hiện cha rõ nét. Sự phối hợp giữa trung ơng và địa phơng trong công tác quy
hoạch còn kém đã làm cho nhiều địa phơng làm lại quy hoạch mặt bằng của mình.
Nhiều chơng trình quốc gia cha đợc xây dựng chu đáo, không xác định rõ
mục tiêu, đối tợng cụ thể đợc hởng lợi; Cha có cơ chế phù hợp cho việc tổ chức thực
hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá cụ thể. Số lợng chơng trình quá nhiều, chồng
chéo cả về đối tợng hởng lợi và địa bàn thực hiện. Trong khi tính lồng ghép của
các chơng trình cha cao thì xu hớng chia đều đã làm giảm đáng kể hiệu quả của
các chơng trình.
2.2.4. Về cơ chế điều hành xã hội :
Mọi việc trong công tác xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và
đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch hầu nh nằm trong tay chính phủ và một số cơ
quan tổng hợp, vì vậy khả năng điều hành cần đợc tăng cờng thích đáng, nếu không
thì tính khả thi một số mục tiêu sẽ bị hạn chế.
Cơ chế điều hành cân đối một số sản phẩm chủ yếu, mà thực chất là cân đối
hiện vật đã tỏ ra có giới hạn rõ rệt nhất là trong xuất khẩu và kinh tế đối ngoại.
Tình hình thế giới và khu vực đang và sẽ diễn biến phức tạp hơn nhiều trong
thời gian tới đòi hỏi công tác KHH, đặc biệt là khâu điều hành kế hoạch phải linh
hoạt hơn, đa ra các quyết sách kịp thời, phù hợp trên cơ sở những luận cứ khoa học
và thực tiễn xác đáng.
2.2.5. Về thông tin và dự báo:
Thực tế đã chứng minh đó là có đợc thông tin kịp thời và chính xác là một
yếu tố quyết định lớn đến thành công.
Tuy vậy nhng hệ thông thông tin hiện nay của ta còn rất nhiều hạn chế . Đó
là:Thứ nhất, các thông tin là không thống nhất. Do mỗi nơi đều có một cơ quan thu
thập, xử lý và cung cấp thông tin riêng do đó dẫn tới việc tổng hợp thông tin này
Nhóm X
gặp nhiều khó khăn.Thứ hai, các thông tin là không đầy đủ. Vì hệ thống biểu mẫu
báo cáo còn cha thay đổi kịp thời và phù hợp với cơ chế mới dẫn tới việc thiếu
thông tin. Thứ ba, độ chính xác của các thông tin là cha cao. Do luồng thông tin đợc
thu thập ở nhiều cấp và mỗi cấp có một cách xử lý riêng nên khi tổng hợp lại đã có
sự khác nhau.
Hiện nay, hệ thống thông tin đợc hình thành từ các thông tin cục bộ nên cha
có sự phối hợp ăn khớp với nhau do đó cha nắm bắt đợc các diễn biến trên thị trờng
trong và ngoài nớc. Do cơ sở thông tin còn quá yếu đồng thời cũng cha tìm đợc
những mô hình phù hợp nên kết quả phân tích và dự báo cha cao, mức độ tin cậy
thấp. Mặc dù công tác phân tích và dự báo đã và đang đợc nhiều tổ chức quan tâm,
song sự phối hợp giữa các tổ chức còn cha tốt.
2.2.6. Về bộ máy tổ chức và cán bộ:
Nhìn chung là trình độ cán bộ và bộ máy tổ chức vẫn cha đáp ứng đợc những
đòi hỏi của công tác KHH trong tình hình mới. Các phòng kế hoạch huyện cũng nh
các sở kế hoạch tỉnh ở nhiều nơi vẫn đang gặp lúng túng trong việc xác định chức
năng của mình . Kiến thức về công tác kế hoạch trong nền kinh tế thị trờng của cán
bộ nói chung là cha đáp ứng đợc đòi hỏi mới.
Việc chuyển đổi điều hành nền kinh tế theo khiểu mệnh lệnh sang điều hành
kiểu gián tiếp là một sự thay đổi rất lớn, đòi hỏi phải sử dụng nhiều phơng tiện kỹ
thuật và kiến thức mới. Do vậy, lực lợng cán bộ cần đợc nâng cao hơn cả về số lợng
và chất lợng, bộ máy tổ chức cần đợc sắp xếp lại để có thể tạo ra sự phối hợp hài
hoà giữa các ngành các cấp. Bộ máy tổ chức trong ngành kế hoạch cha đa ra đợc
một hệ thống đánh giá kết quả công việc của mỗi bộ phận cũng nh của mỗi thành
viên phù hợp với cơ chế quản lý mới. Cơ chế xử phạt còn có xu hớng bình quân,
trách nhiệm cha rõ ràng.
2.3. Nguyên nhân của những hạn chế trong đổi mới công tác KHH trong
những năm qua ở Việt Nam:
2.3.1. Nguyên nhân:
Thứ nhất, những sai lầm của cơ chế quản lý sơ cứng cũ đã kéo dài trong
nhiều năm, làm đứt mối liên hệ khách quan giữa sản xuất kinh doanh với thị trờng.
Bộ máy quản lý vẫn rất cồng kềnh, nhiều tầng, nấc. Đây là miếng đất nảy
sinh lối quản lý hành chính quan liêu tham nhũng và là gánh nặng đối với các đơn
vị kinh tế cơ sở. Trong những năm vừa qua, Việt Nam đã tích cực thực hiện tinh
giảm biên chế gián tiếp, đổi mới bộ máy tổ chức, thực hiện cải cách hành chính nh-
ng kết quả cha đợc là bao.
Thứ hai, Đội ngũ cán bộ lập kế hoạch có trình độ cha cao và cha nhạy bén
với tình hình thực tế. Đội ngũ cán bộ đông đảo hiện nay ở các cấp , các ngành có

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét