Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
Các công ty bảo hiểm là các trung gian tài chính thực hiện nhiệm vụ chi trả cho các
sự kiện không mong đợi xảy ra(với khoản phí hay giá cả nhất định).
Có 2 dạng công ty bảo hiểm:
2.1 Công ty bảo hiểm nhân thọ
Công ty bảo hiểm nhân thọ phát hành bảo hiểm chủ yếu cho cái chết và sức khỏe của
người chủ sở hữu bảo hiểm. Công ty bảo hiểm nhân thọ cam kết chi trả một lần hay nhiều
lần cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm. Thực sự bảo hiểm nhân mạng chưa hẳn là sản
phẩm tài chính chủ chốt của các công ty bảo hiểm, phần lớn công việc kinh doanh của
Công ty bảo hiểm nhân thọ là cung cấp các sản phẩm dịch vụ bảo hiểm liên quan đến quỹ
hưu trí và sức khỏe.
- Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential Việt Nam) với các
sản phẩm bảo hiểm nhân thọ như:
+ Phú - Hưng phúc Định kỳ (Mới)
+ Phú - Hưng thịnh (Mới)
+ Phú-An Bình
+ Phú-An Hưởng Thịnh Vuợng
+ Phú-An Gia Hưu Trí
+ Phú-Bảo gia Đầu tư
+ Phú-An Gia Tích Lũy Định Kỳ
+ Phú-An Gia Thành Tài
+ Phú-An Khang Thịnh Kỳ
+ Phú-An Khang Hưu Trí
+ Phú-Trường An
Lý thuyết tài chính tiền tệ 5
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
- Công ty TNHH bảo hiểm nhân thọ Hàn Quốc (Việt Nam) thì cung cấp các sản phẩm bảo
hiểm nhân thọ chính như:
+ An sinh giáo dục toàn diện.
+ An sinh tích lũy trọn đời.
+ An khang linh hoạt trọn đời.
2.2 Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn
Công ty bảo hiểm tài sản và tai nạn bảo hiểm cho một loạt các sự kiện không định
trước khác nhau liên quan đến tài sản như:
- Mất mát hư hỏng tài sản.
- Mất hay thiệt hại khả năng tạo thu nhập của tài sản.
- Thiệt hại hay thương tật gây ra cho chủ thể khác thứ 3.
- Thiệt hại hay thương tật do tai nạn nghề nghiệp.
* Vd: Ở Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam thì cung cấp những
sản phẩm bảo hiểm tài sản và tai nạn như:
+ Bảo hiểm nhà chung cư.
+ Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh khi có rủi ro về tài sản.
+ Bảo hiểm Mọi rủi ro tài sản.
+ Bảo hiểm Cháy, nổ bắt buộc.
+ Bảo hiểm cháy và các rủi ro đặc biệt.
+ Bảo hiểm xe ôtô.
+ Bảo hiểm môtô – xe máy…
Điểm khác biệt chủ chốt giữa công ty bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản là mức
độ khó khăn trong việc quyết định chi trả cho người giữ hợp đồng bảo hiểm hay không và
Lý thuyết tài chính tiền tệ 6
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
nếu có thì chi trả bao nhiêu và như thế nào. Đối với bảo hiểm nhân thọ thì phương diện xác
suất thống kê rủi ro là tương đối dễ dàng.Việc tính toán xác định quy mô và thời hạn nghĩa
vụ của công ty bảo hiểm tài sản là khó hơn do tính ngẫu nhiên thaát thường của các sự kiện
rủi ro,của thiên tai…Do vậy, tính không ổn định về quy mô và thời gian của các khoản chi
trả tiền để đáp ứng các nghĩa vụ có tác động lớn đến quyết định đầu tư của các công ty bảo
hiểm. Trong thực tế, phần lớn các công ty bảo hiểm lớn thường bán cả hai sản phẩm dịch
vụ bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm tài sản.
3. Các tính chất cơ bản của ngành công nghiệp bảo hiểm
3.1 Hợp đồng và phí bảo hiểm
3.1.1 Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng có bảo đảm luật pháp trong đó người giữ hợp đồng
hay người được bảo hiểm đóng các khoản phí nhất định để các công ty bảo hiểm ( hay nhà
phát hành bảo hiểm ) chi trả một khoản tiền bảo đảm cho các trường hợp rủi ro cụ thể trong
tương lai. Hoặc Hợp đồng bảo hiểm là hợp đồng giao kết về các quyền lợi và trách nhiệm
giữa Công ty và Chủ hợp đồng bảo hiểm cũng như các Thành viên được bảo hiểm tham gia
sản phẩm Bảo hiểm nhân thọ tử kỳ nhóm. Hợp đồng bảo hiểm bao gồm nhưng không hạn
chế các văn bản sau: Giấy chứng nhận bảo hiểm, Điều khoản bảo hiểm, Danh sách các
Thành viên được bảo hiểm, các giấy tờ và phụ lục khác có liên quan.
- Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp
bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo
hiểm hoặc người thụ hưởng.
- Doanh nghiệp bảo hiểm: là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo
quy định của pháp luật có liên quan để kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm.
Công ty bảo hiểm đứng ra gánh chịu rủi ro một phần hay toàn bộ đối với những sự
kiện rủi ro không định trước được trong cuộc sống. Tuy nhien bên cạnh việc đứng ra gánh
chịu rủi ro đó thì các công ty bảo hiểm cũng rất quan tâm đến những điệu kiện cụ thể của
các cá nhân, tổ chức sử dụng bảo hiểm; đánh giá những rủi ro có thể xảy ra cũng như xác
Lý thuyết tài chính tiền tệ 7
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
suất xảy ra của các rủi ro để có thể ký những hợp đồng bảo hiểm có lợi cho mình cũng như
người sử dụng bảo hiểm.
Hình thức của hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản. Bằng chứng giao kết
hợp đồng là giấy chứng nhận bảo hiểm hay đơn bảo hiểm.
3.1.2 Phí bảo hiểm
Khi công ty chấp nhận hợp đồng bảo hiểm thì hợp đồng bảo hiểm trở thành tài sản
cho người được bảo hiểm (là khách hàng của công ty bảo hiểm) và là khoản nghĩa vụ đối
với công ty bảo hiểm.
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà bên mua bảo hiểm phải đóng cho doanh nghiệp bảo
hiểm theo thời hạn và phương thức do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Phí
bảo hiểm có thể được chi trả cho công ty một lần hay nhiều lần.
Tương tự như các loại hợp đồng khác, hợp đồng bảo hiểm sẽ bị hủy bỏ khi người
được bảo hiểm không đóng phí, đóng phí không đủ, hoặc không đúng thời hạn.
3.2 Các nguyên tắc quản trị bảo hiểm
Với chức năng hoạt động tương tự như các ngân hàng, các công ty bảo hiểm là trung
gian tài chính chuyển từ một dạng tài sản tài chính này sang một dạng tài sản tài chính
khác. Sản phẩm của các công ty bảo hiểm là cá dịch vụ bảo hiểm, để thay vào đó các công
ty bảo hiểm nhận được phí bảo hiểm từ các hợp đồng và dùng chính phí bảo hiểm đó để
đầu tư vào các tài sản khác với mục tiêu lợi nhuận: chứng khoán, trái phiếu…rồi lại dùng
tài sản này để thanh toán hợp đồng bảo hiểm.
Trong nguyên tắc quản trị ngành công nghệp bảo hiểm cần quan tâm tới nguyên tắc
rủi ro lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức.
- Rủi ro lựa chọn nghịch là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng
thông tin phi đối xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt, đây là một loại
thất bại thị trường. Bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm chấp nhận mức trả bảo hiểm cao cho
khách hàng ít nguy cơ. Song họ lại có ít thông tin về thứ họ được đề nghị bảo hiểm hơn so
với người mua bảo hiểm. Nếu người mua bảo hiểm cung cấp những thông tin không trung
Lý thuyết tài chính tiền tệ 8
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
thực, thì công ty bảo hiểm có thể sẽ có thể ký hợp đồng trả tiền cao cho đối tượng bảo
hiểm nhiều nguy cơ. Ví dụ, người mua bảo hiểm nhân thọ có thể dấu thông tin về tình
trạng sức khỏe tồi (ung thư) của mình, cam đoan với công ty bảo hiểm rằng mình có sức
khỏe tốt, dẫn tới công ty bảo hiểm có thể đi ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho một người
sắp chết.
- Rủi ro đạo đức là một thuật ngữ kinh tế học và tài chính được sử dụng để chỉ một
loại rủi ro phát sinh khi đạo đức của chủ thể kinh tế bị suy thoái. Rủi ro đạo đức xảy ra sau
khi hợp đồng bảo hiểm đã được ký. Rủi ro đạo đức là một kiểu thất bại thị trường nảy sinh
trong môi trường thông tin phi đối xứng.Trong hợp đồng bảo hiểm, rủi ro đạo đức xảy ra
khi hợp đồng bảo hiểm khuyến khích được bên nhận lấy rủi ro để tăng khả năng được
thanh toán tiền bảo hiểm theo hợp đồng. Hầu hết những người mua bảo hiểm đều mua
những hợp đồng có lợi cho mình nhất, nghĩa là khi họ gặp rủi ro thì đa phần rủi ro được
chuyển cho các công ty bảo hiểm. Nên khi bán hợp đồng bảo hiểm cho những người này,
công ty bảo hiểm có khả năng tổn thất tiềm năng lớn. Rủi ro lựa chọn nghịch và rủi ro đạo
đức tạo ra các khoản chi phí thanh toán hợp đồng cao từ khiếu nại đòi bồi thường bảo
hiềm.
Do vậy, để có thể giảm thiểu rủi ro đối với các công ty bảo hiểm, cần có ác nguyên
tắc chung sau:
3.2.1 Sàng lọc
Công ty bảo hiểm tập hợp bằng nhiều phương pháp, phân tích thông tin để có thể
chọn lọc những khách hàng tốt khỏi các đối tác kém, để có thể quyết định chấp nhận hay
bác bỏ yêu cầu bảo hiểm từ phía người mua. Tùy theo từng loại bảo hiểm thì có những
phương pháp cũng như cách tiếp cận khác nhau để lấy thông tin, nhưng tất cả đều vì mục
đích tránh rủi ro đạo đức và rủi ro lựa chọn nghịch.
3.2.2 Phí bảo hiểm rủi ro hợp lý
Đối với công ty bảo hiểm, việc thu phí đối với từng mức độ rủi ro của người được
bảo hiểm là nguyên tắc quản lý bắt buộc. Lựa chọn mức thu phí tương ứng với từng mức
độ rủi ro ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty bảo hiểm. Vd mức giá bảo hiểm
Lý thuyết tài chính tiền tệ 9
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
trách nhiệm xe cơ giới hiện nay được pháp luật bảo hiểm (Bộ Tài Chính) quy định với các
loại xe cơ giới khác nhau là khác nhau như:
+ Xe ôtô không kinh doanh vận tải dưới 6 chỗ là 379.500 VNĐ, trên 6 chỗ là 759.000
VNĐ (đã có VAT)
+ Xe máy 50cc là 55.000 VNĐ, trên 50cc là 66.000 (đã có VAT)…
3.2.3 Các điều khoản cam kết
Các điều khoản cam kết có thể áp đặt nhằm đòi hỏi hành vi cư xử hợp lý từ phía
người được bảo hiểm, làm cho người giữ hợp đồng bảo hiểm nản lòng mà không thực hiện
các hoạt động rủi ro để khó xảy ra khiếu nại đòi bồi thường và các công ty bảo hiểm phải
bồi thường. VD về nguyên tắc người mua bảo hiểm không được đàm phán, thỏa thuận về
việc sửa đổi, bổ sung điều khoản của hợp đồng bảo hiểm; hoặc người được bảo hiểm phải
để ý, sao cho sự việc bảo hiểm không xảy ra và làm tất cả để nó không xảy ra hoặc làm
giảm đến mức tối đa hậu quả của nó (đặc biệt là không chậm chễ đi khám bác sĩ); hoặc
phải cung cấp cho hãng bảo hiểm tất cả những thông tin trung thực về sự hình thành, quá
trình và hậu quả của sự vụ có bảo hiểm và trong trường hợp có nghi ngờ, chứng minh cho
hãng bảo hiểm quyền đòi bồi thường bảo hiểm.
3.2.4 Phòng ngừa gian lận
Để giảm thiểu rủi ro, ngoai các biện pháp trên các công ty bảo hiểm cũng cần phải
quan tâm đến gian lận của bên mua bảo hiểm để có biện pháp phòng ngừa, chỉ có những
người được bảo hiểm hợp lý và có căn cứ mới được thanh toán. Tránh những trường hợp
như không thực hiên đúng hợp đồng mà vẫn đòi bồi thường, hoặc khiếu nại đòi bồi thường
với những việc mà thực tế không xảy ra, hoặc rủi ro nhỏ thiệt hai không đáng kể nhưng
làm phóng đại lên để đòi được bồi thường lớn hơn…
3.2.5 Hủy bỏ hợp đồng
Các công ty bảo hiểm luôn sẵn sàng hủy bỏ hợp đồng khi có sự vi phạm các điều
khoản của hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên đây là chỉ biện pháp hạn chế rủi ro đạo đúc bằng
cách đe dọa, nó mang y nghĩa là biện pháp chủ động phòng ngừa hơn là biện pháp chế tài
Lý thuyết tài chính tiền tệ 10
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
để đối phó. Nó phần nào làm người sử dụng bảo hiểm giảm bớt vi phạm các diều khoản
của hợp đồng bảo hiểm.
3.2.6 Khấu trừ
Công ty bảo hiểm sẽ khấu trừ một phần tiền bảo hiểm dưới dạng số tiền cố định hay
là phần trăm của số tiền bảo hiểm. Biện pháp này phần nào đó thể hiện chế tài của công ty
bảo hiểm đối với các vi phạm của bên tham gia bảo hiểm với các điều khoản trong hợp
đồng mà chưa đến mức phải hủy bỏ hợp đồng, biện pháp này làm cho người tham gia bảo
hiểm cùng gánh chịu với công ty khi thực hiện hợp đồng, làm cho người được bảo hiểm
cùng thực hiện hoạt động phù hợp với hướng của hoạt động công ty, vì nếu có hành động
gây tổn thất đến hoạt động của công ty bảo hiểm thì cũng chính họ phải chung chịu trách
nhiệm do sự khấu trừ của công ty bảo hiểm.
3.2.7 Đồng bảo hiểm
Cũng tương tự như khấu trừ bảo hiểm, đồng bảo hiểm là khi có sự dàn xếp giữa
người được bảo hiểm va bên bảo hiểm để người được bảo hiểm cùng gánh chịu một tỷ lệ
phần trăm tổn thất với công ty bảo hiểm.
3.2.8 Giới hạn số tiền thanh toán bảo hiểm
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong quản trị bảo hiểm. cần phải quy định số tiền
bảo hiểm để công ty tránh phải thanh toán những số tiền bảo hiểm vượt quá khả năng có
thể dẫn đến phá sản. Dễ xảy ra rủi ro đạo đức cho công ty. Đồng thời làm cho những người
được bảo hiểm cẩn thận hơn với chính mình, vì khi họ co rủi ro thiệt hại lớn đến thế nào
thì số tiền bảo hiểm vẫn là cố định. Trong khi đó các công ty bảo hiểm luôn bảo đảm rằng
tiền bồi thường bảo hiểm có thể nằm trong khả năng của họ và nó không cao đến mức làm
cho rủi ro đạo đúc có thể xảy ra.
Tóm lại, toàn những nguyên tắc quản trị bảo hiểm nói trên, từ sàng lọc khách hàng,
quy định phí bảo hiểm, các khoản cam kết, đến ngăn nhừa gian lận, các biện pháp mag một
ít tính chất chế tài như đồng bảo hiểm, khấu trừ… tất cả đều giúp công ty bảo hiểm lựa
chọn đối tác và tránh các rủi ro co thể gặp, tăng tính sinh lợi của các hoạt động bảo hiểm,
thu hút người lao động tham gia vào ngành công nghiệp bảo hiểm nhưng ngược lại làm
Lý thuyết tài chính tiền tệ 11
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
giảm khả năng kiếm lợi của người sử dụng bảo hiểm thông qua hợp đồng đã ký với công ty
bảo hiểm, có thể dẫn đến số người sử dụng bảo hiểm giảm đi.
Tuy nhiên, để có thể đạt được mục tiêu cao nhất thì trong quá trình quản trị bảo hiểm
cần thực hiện nghiêm túc các biện pháp và cân nhắc trong giới hạn có thể c1 của chúng.
Không những quan tâm đến lợi nhuận, doanh thu mà cũng cần quan tâm đến số lượng
khách hàng tham gia bảo hiểm, nếu quá khắc khe thì có thể dẫn đến mất khách hàng. Do đó
nhiệm vụ quan trọng của quản trị bảo hiểm là tìm ra chiến lược phát triển phù hợp đối với
từng thời kỳ phát triển của công ty, cũng như phù hợp với phát triển của xã hội.
3.3 Thặng dư và các khoản dự trữ
Thặng dư (thặng dư pháp lý) của công ty bảo hiểm là khoản chênh lệch giữa tài sản
và nghĩa vụ của công ty, được thực hiện bởi các quy định của pháp luật dành cho các công
ty bảo hiểm. Trong quá trình xác định giá trị thặng dư đó thì cần phải xác định giá trị của
các tài sản và các nghĩa vụ, ma đặc biệt là giá trị nghĩa vụ, vì nó khá phức tạp và phải chi
trả ở thời diểm nhất định trong tương lai, nó không chắc chắn, phụ thuộc vào sự xảy ra của
các sự kiện dẫn đến các rủi ro. Do vậy các công ty bảo hiểm cần có một tài khoản dự trữ để
có thể thể hiện chính xác và phù hợp các nghĩa vụ không chắc chắn có thể gặp này.
Tài khoản dự trữ cảu công ty bảo hiểm là một dạng tài khoản mà các công ty bảo
hiểm sử dụng một phần vốn hay doanh thu mình kiếm được lập ra một tài khoản để góp
phần giúp công ty tránh khỏi tình trạng khủng hoảng tài chính khi có rủi ro nằm ngoài tầm
kiểm soát.
Thặng dư đóng vai trò quan trọng trong việc xác định kết quả hoat động kinh doanh
của công ty bảo hiểm, xác định tổng số quỹ cuối cùng của công ty để từ đó công ty dựa
trên cơ sở này để xác định mức chi trả cho người được bảo hiểm, xác định dạng hoat động
kinh doanh nào có thể được bảo hiểm rủi ro khi khoản thặng dư tăng lên.
Và để đánh giá khả năng nhận các rủi ro của các công ty bảo hiểm liên quan tới các
hợp đồng bảo hiểm, ta dựa vào tỷ lệ sau đây:
Khả năng nhậ nr ủi ro=
T ổng ph í t hu h àngn ăm
T hặ ngd ư phá pquy
Lý thuyết tài chính tiền tệ 12
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
Thông thường tỷ lệ này là 2:1 hay 3:1. Nghĩa là khi thu phí 2 hay 3 đồng thì sẽ được
hỗ trợ bảo hiểm bằng 1 đồng thặng dư pháp quy.
3.4 Doanh thu của công ty bảo hiểm
Thông qua các hoạt động của công ty, dựa vào những nguyên tắc để giảm thiểu rủi ro
thì doanh thu một năm của một công ty bảo hiểm được huy động từ 2 nguồn chủ yếu sau:
3.4.1 Thu phí bảo hiểm
Thu phí bảo hiểm là số tiền thu được thông qua hoạt động bán hợp đồng bảo hiểm của
công ty.
Trong tính toán thu phí cũng có những quy định riêng của nó, chẳng hạn không phải
hầu hết tất cả phí thu được trong năm đều là thu nhập của năm đó. Chỉ tính những khoản
thu nhập mà nhận được trong năm tài chính đó, không thể lấy giá trị của hợp đồng bảo
hiểm hay những khoản thu nhập mà trong tương lai chắc chắn có (trừ những trường hợp
khách quan) nhưng không thuộc năm tài chính đó để tính vào thu nhập của năm đó. Vd ông
A ký hợp đồng bảo hiểm với công ty bảo hiểm B về bảo hiểm sinh mạng với giá 30 triệu
VNĐ vào ngày 15/12/2009 nhưng bắt đầu thực hiện hợp đồng là ngày 1/1/2010 (giả sử
năm tài chính của công ty B kết thúc vào 31/12 hàng năm) thi số tiền 30 triệu VNĐ vẫn
không được tính vào khoản thu phí năm 2009 của công ty bảo hiểm B, mà sẽ tính vào
khoản phí của năm 2010 của công ty B.
3.4.2 Thu nhập đầu tư
Thông thường khi thu được phí bảo hiểm, hầu hết các công ty chỉ giữ lại một phần
trong số tiền để thu được để phòng khi thanh toán hợp đồng hoặc chi trả bảo hiểm, vì các
hợp đồng sẽ không thanh toán cùng một lúc, cũng như các rủi ro sẽ không ít khi xảy ra
cùng một lúc. Số tiền còn lại, các công ty bảo hiểm sẽ đầu tư để sinh lợi nên thu nhập của
công ty ngoài thu nhập từ thu phí bảo hiểm thì còn thu nhập đầu tư từ các tài sản đầu tư.
Và để xác định lợi nhuận của công ty bảo hiểm, ngoài xác định doanh thu, ta cần xác
định chi phí. Chi phí được xác định dưới 2 hạng:
- Chi phí bù vào khoản bổ sung cho dự trữ.
Lý thuyết tài chính tiền tệ 13
Các tổ chức tài chính phi ngân hàng Nhóm 12.1
- Chi phí liên quan đến quá trình bán các hợp đồng bảo hiểm.
Lợi nhuận được xác định:
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí
+ Nếu doanh thu > chi phí, tức lợi nhuận > 0 công ty hoạt động có lời, tuy nhiên
khoản lợi nhuận đó không được chia cho các chủ sở hữu mà phải nhập vào thặng dư pháp
quy.
+ Nếu doanh thu < chi phí, tức lợi nhuận < 0 công ty hoạt động thua lỗ, khoản thua lổ
đó sẽ được cắt ra từ thặng dư pháp quy để bù vào.
3.5 Bảo đảm Chính phủ
Không giống như các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính khác, hoat động của
các công ty bảo hiểm là hoạt động của các doanh nghiệp khác và chịu tác động của luật
doanh nghiệp, không được bất kỳ cơ quan nhà nước hay chính quyền nào bảo đảm. hợp
dồng bảo hiểm dựa trên nguyên tắc tự nguyện giữa người mua dịch vụ (người được bảo
hiểm) với người bán dịch vụ (công ty bảo hiểm). Tuy vậy, hệ thống xếp hạng chuyên
nghiệp đánh giá mức phí bảo hiểm và sức mạnh bảo hiểm của từng công ty. Các tổ chức
lớn trong hệ thống xếp hạng bảo đảm tín nhiệm của thế giới hiện nay: Moody’s, Standart &
Poor’s Corporation (S&P), Fitch’s…
3.6 Chính sách điều hành tác động lên các quyết định đầu tư của công ty bảo hiểm
Để đảm bảo độ tin cậy, tính an toàn cũng như bảo vệ lợi ích của người mua bảo hiểm,
hoạt động của công ty bảo hiểm đều được điều hành bởi chính phủ các nước, các khu vực,
điều hành từ chính quyền trung ương đến các cơ quan chuyên ngành.
Cũng giống như các công ty thuộc các lĩnh vực khác, các công ty bảo hiểm muốn hoạt
dộng phải được cơ quan chức năng trung ương cấp giấy phép, trong quá trình hoạt động
phải báo cáo cụ thể từ hoạt động đến doanh thu, phải thực hiện đúng các quy định của nhà
nước.
Có 3 lĩnh vực chính tác động lên quyết định đầu tư của các công ty bảo hiểm:
Lý thuyết tài chính tiền tệ 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét