Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

431 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cổ phần hoá Ngân hàng thương mại cổ phần hoá ở Việt Nam

3.3.2 Xây dựng lộ trình cho quá trình CPH NHTMNN 63
3.3.3 Giải pháp xác đònh giá trò thực tế ngân hàng 63
3.3.4 Xây dựng cơ chế quản trò nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình
CPH NHTMNN 66
3.3.5 Cổ phần hóa các NHTMNN cần gắn với niêm yết cổ phiếu trên thò
trường chứng khoán 69
3.3.6 Xây dựng lộ trình chiến lược sau khi CPH 71
Kết luận 74
Danh mục tài liệu tham khảo 75

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT


• CPH: Cổ phần hóa
• CTCP: Công ty cổ phần.
• DNNN: Doanh nghiệp nhà nước.
• NHNN: Ngân hàng nhà nước.
• NHNT: Ngân hàng ngoại thương.
• NHNTVN: Ngân hàng ngoại thương Việt Nam.
• NHTM: Ngân hàng thương mại.
• NHTMCP: Ngân hàng thương mại cổ phần.
• NHTMNN: Ngân hàng thương mại nhà nước.
• TCTD: Tổ chức tín dụng.
• TTCK: Thò trường chứng khoán.
• VCB: Vietcombank (Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam)






1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Hội nhập kinh tế quốc tế trở thành một xu thế thời đại và diễn ra mạnh mẽ
trên nhiều lónh vực, biểu hiện xu hướng tất yếu khách quan của nền kinh tế. Để
bắt nhòp với xu thế đó, Việt Nam đã chủ động tham gia vào quá trình hội nhập
quốc tế: gia nhập khối ASEAN, tham gia vào khu vực mậu dòch tự do ASEAN
(AFTA), ký kết hiệp đònh thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, gia nhập vào tổ chức
thương mại thế giới (WTO), và tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế quốc tế cũng
như các hiệp đònh thúc đẩy quan hệ thương mại song phương khác. Trong bối
cảnh chung đó của cả nền kinh tế, các ngân hàng thương mại Việt Nam sẽ phải
đối mặt với những thách thức như thế nào, tận dụng cơ hội ra sao để biến thách
thức thành cơ hội Điều này đòi hỏi hệ thống NHTM phải chủ động nhận thức
và sẵn sàng tham gia vào quá trình hội nhập và cạnh tranh này.
Có thể nói, ngân hàng là một trong những lónh vực hết sức nhạy cảm và
phải mở cửa gần như hoàn toàn theo các cam kết gia nhập tổ chức thương mại
thế giới WTO, hệ thống ngân hàng Việt Nam được xếp vào diện các ngành chủ
chốt, cần được tái cơ cấu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. Để giành thế chủ
động trong tiến trình hội nhập, Việt Nam cần phải xây dựng một hệ thống ngân
hàng có uy tín, đủ năng lực cạnh tranh, hoạt động có hiệu quả cao, an toàn, có
khả năng huy động tốt hơn các nguồn vốn trong xã hội và mở rộng đầu tư. Đặc
biệt đối với các NHTM nhà nước, năng lực tài chính nhìn chung là kém, các chỉ
số đều còn thấp so với các nước trong khu vực. Do đó một trong những đònh
hướng nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTM nhà nước là cổ phần hóa các
NHTM NN.

2
Cổ phần hóa không phải là một vấn đề mới mẻ, nhưng đối với ngành ngân
hàng, việc cổ phần hóa NHTMNN mới có chủ trương từ năm 2004 và bắt đầu thí
điểm với NHNT Việt Nam. Việc cổ phần hóa một NHTMNN không đơn thuần
như việc CPH một doanh nghiệp nhà nước nhưng cũng không phải là vấn đề quá
khó khăn không thể thực hiện được. Điều quan trọng hiện nay là xác đònh được
mục tiêu cổ phần hóa, xác đònh điều kiện cần và đủ để giải quyết những vấn đề
trong quá trình CPH và phải đảm bảo một ngân hàng sau CPH đáp ứng được các
chuẩn mực hội nhập kinh tế quốc tế, đủ năng lực cạnh tranh với các ngân hàng
trong nước và trên thế giới. Vì vậy việc tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra những
giải pháp thúc đẩy tiến trình CPH NHTMNN ở Việt Nam có ý nghóa quan trọng.
Vì lý do đó tôi đã chọn đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cổ
phần hóa ngân hàng thương mại nhà nước ở Việt Nam” làm luận văn tốt
nghiệp cao học kinh tế ngành Kinh tế Tài chính Ngân hàng.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Làm rõ quan điểm về cổ phần hóa và rút ra những bài học kinh nghiệm
về cổ phần hóa của các nước trên thế giới.
- Phân tích thực trạng cổ phần hóa các NHTM nhà nước thông qua điển
hình cụ thể là NHNT Việt Nam, từ đó đưa ra một số giải pháp thúc đẩy và
nâng cao hiệu quả cổ phần hóa các NHTMNN ở Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về cổ phần hóa.
- Nghiên cứu vấn đề cổ phần hóa nói chung và cổ phần hóa ngân hàng nói
riêng của một số nước trên thế giới và trong khu vực.

3
- Nghiên cứu thực trạng cổ phần hóa NHTMNN ở Việt Nam, tìm ra những
nguyên nhân ảnh hưởng đến tiến trình cổ phần hóa.
- Về không gian, chỉ nghiên cứu được thực trạng cổ phần hóa của NHNT
Việt Nam.
- Về thời gian, đây là vấn đề mang tính thời sự nên chỉ cập nhật được thực
trạng cổ phần hóa và các văn bản liên quan đến thời điểm hoàn thành
luận văn (30/09/2007).
4. Ý nghóa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Cổ phần hóa NHTMNN ở Việt Nam là vấn đề thu hút sự quan tâm không
chỉ của các nhà kinh tế mà cả các nhà đầu tư tổ chức, cá nhân trong và ngoài
nước. Luận văn này nghiên cứu và đưa ra một số giải pháp nhằm góp phần thúc
đẩy và nâng cao hiệu quả cổ phần hóa của NHTMNN ở Việt Nam.
5. Kết cấu luận văn:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn này chia làm 3 chương, cụ thể:
- Chương 1: Tổng quan về cổ phần hóa.
- Chương 2: Thực trạng tiến trình cổ phần hóa NHNT Việt Nam.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả cổ phần hóa NHTMNN ở
Việt Nam.





4
CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN VỀ CỔ PHẦN HOÁ

1.1 Quan điểm về cổ phần hoá.
Thực chất của cổ phần hóa là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau về cổ
phần hoá. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng cổ phần hóa là tư nhân hoá. Loại ý kiến
thứ hai cho rằng cổ phần hóa là nhằm xác đònh chủ sở hữu cụ thể với doanh
nghiệp. Loại ý kiến thứ ba cho rằng thực chất cổ phần hoá là quá trình xã hội
hóa doanh nghiệp nhà nước.
Trước hết tư nhân hóa (privatization) là quá trình chuyển sở hữu Nhà nước
sang sở hữu tư nhân và chuyển các lónh vực mà lâu nay nhà nước độc quyền
sang cho các thành phần kinh tế khác đảm nhiệm. Để thực hiện quá trình này có
thể sử dụng nhiều cách như: bán cho tư nhân, cho không công nhân viên chức
hoặc toàn dân, giải thể và bán đấu giá tài sản, cổ phần hóa Như vậy, cổ phần
hóa (corporatization) là một trong những hình thức của tư nhân hóa.
Vào những năm 1950-1960, theo quan điểm của nhiều nước đặc biệt là ở
các nước Châu Á, Nhà nước phải giữ một vai trò quan trọng trong việc công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân . Nhưng ngược lại từ những năm
1980 trở lại đây thì các quốc gia trên thế giới có sự xem xét lại mối quan hệ giữa
Nhà nước và tư nhân đối với tiến bộ xã hội . Một trong những lý do dẫn đến sự
thay đổi đó là khu vực Kinh tế quốc doanh hoạt động yếu kém và đã gặp khó
khăn ngày càng nhiều. Từ đó hầu hết các quốc gia trên thế giới đã vạch đònh ra
chương trình tư nhân hóa, CPH các DNNN.
Ở Âu Châu, từ năm 1978 Anh quốc đã bắt đầu nghiên cứu về chương trình
tư nhân hóa các công ty. Và ngay từ năm 1979 cũng đã bắt đầu chương trình tư

5
nhân hóa bằng cách làm thí điểm một số công ty quốc doanh đang gặp khó khăn
về mặt quản lý tài chính . Ở Pháp, Renault là xí nghiệp quốc doanh hạng nhất ở
u Châu thuộc ngành công nghệ sản xuất xe hơi, và là một trong ba xí nghiệp
sản xuất xe hơi lớn nhất của Pháp. Nhưng do kỹ nghệ sản xuất xe hơi ở u Châu
đang đứng trước sự đe dọa cạnh tranh của Nhật, Renault đã đi đến quyết đònh
liên hợp với xí nghiệp Volvo của Thụy Điển và chuyển xí nghiệp quốc doanh
Renault thành một công ty cổ phần .
Lý do cơ bản nhất để các quốc gia trên thế giới thi hành chương trình tư
nhân hóa là vì phải bao cấp quá nhiều và các DNNN hoạt động kém hiệu quả,
làm cho ngân sách Nhà nước bò thiếu hụt nặng nề. Vì vậy, giải pháp chung là
chuyển một phần kinh tế quốc doanh vào tay tư nhân để nhẹ bớt gánh nặng của
ngân sách .
Theo quan điểm chung nhất, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá
trình chuyển một DNNN thuộc sở hữu nhà nước, thành một công ty cổ phần với
nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
1.2 Sự cần thiết khách quan của cổ phần hoá.
Trong nền kinh tế thò trường thực thụ thì xu hướng cổ phần hóa các doanh
nghiệp nhà nước diễn ra như một quy luật, tất yếu khách quan. Thực tiễn nhiều
thập kỷ đã chứng minh là về kinh doanh đơn thuần mà xét thì kinh tế quốc
doanh kém hiệu quả hơn so với kinh tế tập thể và kinh tế tư nhân. Cũng có
trường hợp cá biệt, trong những điều kiện đặc biệt, với một thời gian ngắn, kinh
tế quốc doanh vẫn có thể làm ăn có lãi, phát triển. Nhưng nhìn tổng quát lâu dài
thì kinh tế quốc doanh kém hiệu quả.
Lòch sử phát triển kinh tế đã cho thấy: sau đại chiến thế giới thứ II, các
nước đua nhau thành lập DNNN, đặc biệt là các nước xã hội chủ nghóa và các

6
nước muốn bắt chước mô hình của Liên Xô cũ. Nhưng đến 1970 thì đa số các
nước trên thế giới đã nhận ra rằng kinh tế quốc doanh là kém hiệu quả và chứa
đựng nhiều tiêu cực. Từ đó đến nay, ở những mức độ khác nhau, các nước đang
tìm cách cải tổ khu vực kinh tế quốc doanh, mà cổ phần hóa được coi là một giải
pháp quan trọng và phổ biến.
Cổ phần hóa là xu hướng tất yếu khách quan còn bởi vì những ưu thế đặc
biệt của công ty cổ phần so với DNNN và các loại hình khác:
- Có khả năng huy động những số vốn khổng lồ qua việc phát hành cổ
phiếu, trái phiếu công ty để mở rộng qui mô theo nhu cầu sản xuất- kinh
doanh , mà không nhà kinh doanh riêng lẻ nào có thể thực hiện được.
Kiểu tích tụ tư bản dựa vào cá nhân riêng lẻ diễn ra vô cùng chậm chạp,
còn tập trung tích tụ theo kiểu công ty cổ phần bằng cách thu hút được các
nguồn vốn của đông đảo các nhà đầu tư, và tiết kiệm của quảng đại quần
chúng, cho phép tăng qui mô rất nhanh .
- Trong CTCP, chức năng sử dụng vốn tách rời quyền sở hữu cho phép sử
dụng các nhà quản lý chuyên nghiệp. Giám đốc kinh doanh trở thành một
nghề, không cần phải mang chức vụ hành chính. Đại hội cổ đông bầu ra
hội đồng quản trò, hội đồng quản trò đề cử giám đốc hay thuê ngoài. Giám
đốc chòu sự kiểm soát của hội đồng quản trò, Giám đốc có thể bò bãi
nhiệm nếu thiếu năng lực. Thu nhập của Giám đốc doanh nghiệp tùy
thuộc vào năng lực của họ, do đó họ buộc phải năng nổ, sáng tạo, luôn đề
ra những chiếc lược, phù hợp, hệ quả là công ty hoạt động có hiệu quả
hơn .
- CTCP tạo ra một cơ chế phân bổ rủi ro đặc thù : Chế độ trách nhiệm hữu
hạn đối với các khoản nợ trong mức vốn của công ty là san sẻ rủi ro cho

7
các chủ nợ khi công ty bò phá sản . Vốn tự có của công ty huy động thông
qua phát hành cổ phiếu là vốn của nhiều cổ đông khác nhau, do đó san sẽ
rủi ro cho nhiều cổ đông . Chính vì cách thức huy động vốn của công ty cổ
phần đã tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tài chính có thể mua cổ phiếu,
trái phiếu của các công ty ở nhiều ngành khác nhau để phân tán rủi ro khi
công ty bò phá sản so với việc đầu tư tài chính vào một hay một số công ty
của cùng một ngành.
Ở Việt Nam, sự cần thiết phải tiến hành cổ phần hóa DNNN cũng bắt
nguồn từ thực trạng hoạt động yếu kém của hệ thống DNNN. Các DNNN ở Việt
Nam được hình thành sau năm 1954 ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam,
từ những nguồn gốc khác nhau như: tiếp quản các doanh nghiệp của chế độ cũ
thông qua việc quốc hữu hóa; xây dựng mới sau chiến tranh. Do đó hệ thống
DNNN có đặc trưng khác biệt so với nhiều nước trên thế giới:
• Quy mô doanh nghiệp nhỏ bé, cơ cấu phân tán. Theo báo cáo của Bộ tài
chính, trong năm 1992 cả nước có khoảng 2/3 tổng số DNNN với số lao động
không quá 200 người. Lao động trong khu vực DNNN chiếm tỷ trọng khá nhỏ
so với tổng lao động xã hội.
• Trình độ kỹ thuật công nghệ lạc hậu. Ngoại trừ một số ít chiếm khoảng 18%
số DNNN được đầu tư mới sau năm 1986, phần lớn các DNNN đã thành lập
khá lâu có trình độ kỹ thuật thấp. Theo báo cáo điều tra của bộ khoa học
công nghệ môi trường thì trình độ công nghệ trong các DNNN kém các nước
phát triển từ 5-6 thế hệ, thậm chí có doanh nghiệp còn sử dụng công nghệ từ
trước những năm 1930. Mặt khác phần lớn các DNNN được xây dựng bằng
kỹ thuật của nhiều nước khác nhau nên tính đồng bộ của DNNN là thấp.

8
• Việc phân phối các DNNN còn có những bất cập, không hợp lý về ngành và
vùng. Nhiều nhà máy được xây dựng, bố trí không thích hợp về vùng nguyên
liệu điều kiện giao thông và thò trường tiêu thụ sản phẩm dẫn đến hiệu quả
sản xuất kinh doanh thấp, hoạt động cầm chừng.
• Trình độ quản lý trong các DNNN là thấp, chậm được đổi mới. Đại đa số cán
bộ quản lý chưa được đào tạo lại và chưa được trang bò những kiến thức quản
lý tiên tiến đặc biệt là trong lónh vực quản trò tài chính doanh nghiệp.
• Hoạt động yếu kém của các DNNN còn được thể hiện thông qua hiệu quả sử
dụng vốn thấp (tỷ suất sinh lời thấp). Theo báo cáo của ban đổi mới DNNN
năm 1996, tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu là 11,2%, một đồng vốn Nhà
nước chỉ còn tạo ra 2,8 đồng doanh thu, 0,11 đồng lợi nhuận và 0,32 đồng nộp
ngân sách. Tỷ lệ DNNN thua lỗ là khá cao, năm 1996 chiếm khoảng 24%
tổng số DNNN, tính đến tháng 6 năm 1997 trong số 5790 DNNN chỉ có
khoảng 3000 DNNN làm ăn có hiệu quả và đóng góp cho ngân sách khoảng
78% tổng số nộp ngân sách Nhà nước của tất cả các DNNN, số còn lại ở tình
trạng làm ăn kém hiệu quả thậm chí nhiều DNNN đang bên bờ vực của sự
phá sản với công nợ chồng chất (nợ phải trả chiếm 125% vốn Nhà nước trong
doanh nghiệp).
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng hoạt động yếu kém của hệ thống
DNNN.
- Nguyên nhân thứ nhất đó là ảnh hưởng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung “thái quá” với tư duy sai lệch không vận dụng đúng tư tưởng kinh tế
cơ bản của mô hình Chủ nghóa xã hội.
- Nguyên nhân thứ hai đó là sự yếu kém của lực lượng sản xuất được biểu
hiện thông qua kết cấu hạ tầng lạc hậu của toàn bộ nền kinh tế cũng như
của mỗi doanh nghiệp. Các doanh nghiệp rất chậm trễ với tư tưởng “ỷ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét