Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014
349 Một số giải pháp để phát triển Công ty Điện lực TP.HCM đến năm 2010 và 2020
CHƯƠNG I
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY ĐIỆN LỰC TP.HỒ CHÍ MINH
1.1. Giới thiệu tổng quát về công ty điện lực Tp.Hồ Chí Minh.
- Công ty Công ty Điện lực Tp.Hồ Chí Minh (CTĐLHCM) là doanh nghiệp
Nhà nước hạch toán kinh doanh độc lập, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam
(EVN). CTĐLHCM được thành lập năm 1994, tiền thân là Sở điện lực Tp.Hồ Chí
Minh.
CTĐLHCM có chức năng chính là sản xuất và kinh doanh điện năng trên
đòa bàn Tp.Hồ Chí Minh, phương châm của công ty là "Chất lượng ngày càng cao,
dòch vụ ngày càng hoàn hảo". Ngoài ra CTĐLHCM còn có các chức năng tư vấn
thiết kế, tư vấn giám sát các công trình điện trên phạm vi toàn quốc, sản xuất, kinh
doanh, xuất nhập khẩu các loại vật tư thiết bò điện.
- Từ khi thành lập, công ty chỉ có hơn 500.000 khách hàng, đến giữa năm
2004 số khách hàng của công ty tăng lên 1,21 triệu. Trong những năm qua,
CTĐLHCM đã không ngừng đầu tư đổi mới nhiều mặt, từ cơ sở vật chất kỹ thuật
đến nâng cao trình độ của người làm công tác kinh doanh - dòch vụ khách hàng,
nhằm đáp ứng được nhu cầu điện năng của Tp.Hồ Chí Minh và tích cực phục vụ
khách hàng ngày hơn. Chính sách đổi mới kinh tế và tính năng động của Tp.Hồ Chí
Minh đã làm tốt thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, các khu chế xuất, khu công
nghiệp, khu dân cư không ngừng gia tăng đã làm cho khách hàng của CTĐLHCM
gia tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Nếu như năm 1995 sản lượng điện thương
phẩm chỉ đạt 2,815 tỉ KWH thì đến cuối năm 2003 sản lượng điện thương phẩm đã
tăng lên 8,363 tỉ KWH. Trung bình mỗi năm số khách hàng tăng 10% và điện
thương phẩm tăng 12,5%.
- Hằng năm CTĐLHCM đã đầu tư trên 500 tỉ đồng để nâng cấp và mở rộng
lưới điện Tp.Hồ Chí Minh. Trong những năm qua, công ty đã tập trung thực hiện
việc phủ kín lưới điện đến khắp các xã vùng sâu, vùng xa của thành phố và đã
hoàn thành việc điện khí hoá nông thôn ngoại thành, Tp.Hồ Chí Minh. Nhờ sự đầu
tư có hiệu quả, đến cuối năm 2003 khả năng tiếp nhận của lưới điện Tp.Hồ Chí
Minh đã đạt 1700. MW và sản lượng điện nhận tối đa 28,78 triệu KWH mỗi ngày.
5
Sản lượng điện tiêu thụ bình quân đầu người đạt 1487 KWH/năm. Song song với
việc mở rộng lưới điện, nâng cao khả năng truyền tải và phân phối, CTĐLHCM
còn đầu tư tự động hoá mạng lưới điện phân phối để tự động cô lập vùng bò sự cố,
tự động chuyển tải nguồn để hạn chế vùng mất điện và giảm thời gian mất điện.
Tất cả điều đó làm nâng cao độ tin cậy cung cấp điện, đáp ứng được yêu cầu chất
lượng điện ngày càng cao cho các dây chuyền công nghiệp hiện đại. CTĐLHCM
đang mở rộng công nghệ GIS để xây dựng các trạm biến thế truyền tải trong trung
tâm thành phố, giải quyết được khó khăn trong việc giải toả mặt bằng, chi phí đền
bù đất cao. Các tuyến dây 110KV dự kiến cũng sẽ đi ngầm dưới đất để tăng tính
mỹ quan đô thò và độ tin cậy cung cấp điện.
- Lực lượng lao động của CTĐLHCM đến cuối năm 2003 là 6394 người,
trong đó lao động trực tiếp và công nhân kỹ thuật chiếm 73,6%, các cán bộ có trình
độ đại học và sau đại học chiếm 18,1%, phần còn lại là các lực lượng chuyên môn
khác. Nguồn nhân lực của CTĐLHCM luôn được chú trọng đào tạo phát triển để
đáp ứng được nhu cầu sản xuất kinh doanh và phát triển của công ty. Hằng năm
công ty đều thực hiện đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nghiệp vụ, đào tạo tại
chức, hội thảo, hội nghò kỹ thuật, tham quan, khảo sát học tập trao đổi kinh nghiệm
trong và ngoài nước. Đối với cán bộ quản lý được công ty phối hợp với các trường
Đại học, Viện, Trung tâm nghiên cứu để tổ chức các lớp học bồi dưỡng, nâng cao
nghiệp vụ quản lý, tài chính, ngoại ngữ. Nhờ đó năng lực của đội ngũ cán bộ quản
lý được nâng lên đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành. Đối với công nhân kỹ
thuật và nhân viên kinh doanh hằng năm đều tổ chức cho ôn tập, bồi dưỡng qui
phạm quản lý kỹ thuật, qui trình kinh doanh điện năng, sau đó tổ chức thi kiểm tra
đạt yêu cầu mới cho tiếp tục công tác.
- Bộ máy tổ chức của công ty gồm Giám đốc công ty, giúp việc cho giám
đốc có 3 phó giám đốc, kế toán trưởng. Công ty có 13 phòng chức năng, 1 trạm y
tế, 15 điện lực khu vực, 3 xí nghiệp, 4 trung tâm, 1 ban quản lý dự án và nhà máy
điện. Các đơn vò trực thuộc công ty đều hạch toán phụ thuộc theo kế hoạch của
công ty.
Sơ đồ tổ chức của CTĐLHCM được trình bày trong phụ lục 1.
- Quá trình sản xuất kinh doanh điện năng gồm 3 khâu chủ yếu có liên quan
mật thiết với nhau. Đó là khâu sản xuất điện, truyền tải điện (chuyển điện năng từ
các nhà máy điện đến nơi tiêu thụ) và phân phối điện (nhận điện từ trạm truyền tải
6
điện đến cung cấp cho các hộ sử dụng điện). Quá trình sản xuất kinh doanh điện
năng có thể tóm tắt trong hình 1.4 sau đây:
Khâu sản xuất
điện
Khâu truyền
tải điện
Khâu phân
phối điện
Hộ sử dụng
điện
Các nhà máy
điện
Các công ty
truyền tải
Các công ty
điện lực
Hộ tiêu dùng
Hộ SXKD
Hình 1.4.1. Quá trình sản xuất kinh doanh điện năng
- Tại Việt Nam Tổng Công ty Điện lực Việt Nam chòu trách nhiệm quản lý
điều hành cả 3 khâu nói trên. Từ trước 2000, chính phủ độc quyền và sở hữu kiểm
soát cả 3 khâu, không có sự cạnh tranh và khách hàng không có sự chọn lựa người
cung cấp. Nhà nước can thiệp trực tiếp vào việc xây dựng giá bán điện, thực hiện
chính sách bù chéo giữa các mục đích và các đối tượng sử dụng điện khác nhau. Từ
năm 2000 trở về sau, từ khi có nghò quyết 23/NĐ/BCT của Bộ Chính trò, khâu sản
xuất điện đã bắt đầu có các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đầu tư, nhưng
hiện nay vẫn chiếm tỉ trọng sản lượng rất thấp (8%), các khâu truyền tải và phân
phối điện vẫn do nhà nước độc quyền quản lý.
- Các đơn vò trực thuộc CTĐLHCM hoạt động theo hình thức hạch toán phụ
thuộc, hoạt động theo các mục tiêu và các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật do công ty giao.
Toàn bộ doanh thu từ các đơn vò trực thuộc được nộp tập trung 100% về cho công
ty. Công ty phân cấp cho các đơn vò thực hiện một số khâu cụ thể như: thực hiện
chi phí sửa chữa nhỏ, đầu tư xây dựng các công trình dưới 5 tỉ; mua sắm vật tư; một
số vấn đề trong khâu tổ chức nhân sự. Việc phân cấp có mức độ sẽ là những
nguyên nhân của những tồn tại trong hoạt động sản xuất kinh doanh trình bày ở
phần sau.
1.2. Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành
điện lực.
(1) Sản phẩm chính của ngành điện lực có tính đặc thù:
Ngành điện lực kinh doanh sản phẩm chính chiếm hơn 95% doanh số đó là
“điện năng”. Điện năng là loại sản phẩm có quá trình sản xuất và quá trình sử
dụng xảy ra đồng thời và hầu như không thể dự trữ một cách trực tiếp được. Sản
7
phẩm điện năng có tính chất không thể thấy và không có Sản phẩm tồn kho. Tuy
vậy trong quá trình truyền tải và kinh doanh sản phẩm điện năng bò tổn hao. Tổn
thất điện năng trong quá trình quản lý kinh doanh là phần chi phí chiếm tỉ lệ khá
cao trong tổng chi phí.
Tổn thất điện năng bao gồm hai phần đó là tổn thất kỹ thuật và tổn thất phi
kỹ thuật. (1) Tổn thất kỹ thuật là loại tổn thất xảy ra bởi các quá trình vật lý, tất
yếu và nó phụ thuộc vào tình trạng dây dẫn và các thiết bò trên lưới điện. Các loại
dây dẫn có điện trở suất thấp, các loại thiết bò điện hiện đại được lắp trên lưới sẽ
gây tổn thất kỹ thuật thấp. (2) Tổn thất phi kỹ thuật hay còn gọi là tổn thất trong
khâu kinh doanh xảy ra hoàn toàn do chủ quan của người làm công tác kinh doanh
như điện kế hoạt động không chính xác, ghi chỉ số điện sai, người tiêu dùng ăn cắp
điện… thông thường phần tổn thất kỹ thuật chiếm tỉ trọng cao hơn nhiều so với phần
tổn thất phi kỹ thuật.
Sản phẩm điện năng được giao đến nhà khách hàng không phải bằng phương
tiện vận tải mà nó được giao đến nhà khách hàng bằng hệ thống lưới điện phân phối.
Đặc điểm này đã tạo nên nguồn gốc độc quyền của ngành điện trong thời gian qua.
(2) Ngành điện là ngành có nguồn gốc độc quyền.
Nguồn gốc độc quyền của ngành điện lực xuất phát từ các lý do sau đây:
- Công suất nguồn của hệ thống điện Việt Nam chiếm trên 60% là thủy
điện. Các nguồn năng lượng sơ cấp để xây dựng thủy điện là tài nguyên do nhà
nước quản lý do đó trong thời gian qua các nhà máy thủy điện hầu hết do nhà nước
đầu tư vốn và tổng công ty Điện lực Việt Nam quản lý. Trong thời gian 5 năm gần
đây các công ty 100% vốn nước ngoài, hoặc liên doanh đã đầu tư được 32 nhà máy
điện loại nhỏ dưới phương thức BOT hoặc IPP, nhưng tổng công suất của 32 nhà
máy này chỉ chiếm chưa đến 20% tổng công suất và sản lượng điện quốc gia.
- Vì vấn đề an ninh hệ thống năng lượng quốc gia nên hầu hết các nước trên
thế giới đều kiểm soát và quản lý hệ thống điện truyền tải (hệ thống lưới điện từ
các nhà máy sản xuất điện dẫn đến các khu vực tiêu dùng).
- Trong khâu kinh doanh điện năng hiện nay tại Việt Nam khó có khả năng
có đối thủ cạnh tranh để cùng bán sản phẩm điện năng cho cùng một khách hàng.
Với một khách hàng nhất đònh có nhu cầu điện năng tại một đòa điểm nhất đònh thì
chỉ có khả năng mua điện từ một công ty điện lực nhất đònh, vì khó có thể xây dựng
8
được thêm một mạng lưới điện phân phối song song với mạng lưới điện hiện hữu
để có thể diễn ra cạnh tranh trong kinh doanh.
Với sự phát triển của nền kinh tế thò trường, việc cạnh tranh trong kinh
doanh điện năng là xu thế của các quốc gia. Tuy vậy hầu hết các nước nhà nước
vẫn nắm giữ khâu truyền tải điện. Các nhà kinh doanh điện năng phải thuê truyền
tải điện năng từ các nhà máy về đến khu vực tiêu thụ điện. Hiện nay Việt Nam
chúng ta cũng đang nghiên cứu mô hình này.
(3) Ngành điện chòu sự chi phối của chính phủ.
Trong nền kinh tế thò trường cung và cầu sẽ xác đònh giá cả của sản phẩm.
Khác như thế hầu như ở mọi quốc gia, giá cả của sản phẩm điện năng do nhà nước
chi phối. Công ty điện lực thoả thuận ký một hợp đồng mua bán điện là chỉ thoả
thuận sản lượng và phương thức cung cấp điện mà thôi, giá cả phải thực hiện theo
biểu giá chính phủ qui đònh. Việc chính phủ can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh
doanh của ngành điện nhằm hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững nền kinh
tế nói chung chứ không phải mục tiêu kinh tế của riêng ngành điện.
Việc xác đònh vùng, đòa phương để đầu tư đưa điện về cũng chòu sự quản lý
của nhà nước, với mục tiêu phát triển đồng đều giữa các vùng, không theo lợi ích
của cục bộ ngành điện.
(4) Ngành điện hoạt động với trách nhiệm và đạo đức kinh doanh cao.
Điều này thể hiện ở các điểm sau đây:
- Ngành điện rất quan tâm đến vấn đề an toàn điện trong xã hội, bên cạnh
việc kinh doanh điện năng, ngành điện luôn tuyên truyền qui đònh sử dụng điện an
toàn và hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn do điện giật ngoài nhân dân.
- Không chỉ quan tâm nâng cao sản lượng điện bán được, ngành điện còn
hướng dẫn khách hàng cách sử dụng điện sao cho tiết kiệm, hiệu quả cao.
- Không chỉ quan tâm đến việc tối đa hoá lợi nhuận, ngành điện phải tìm đủ
mọi cách để có đủ nguồn cung cấp cho mức nhu cầu của xã hội, đặc biệt là trong
những thời kỳ nguồn điện khan hiếm. Trong những tình huống cụ thể, công ty điện
lực phải mua điện của các khách hàng có máy phát điện với giá cao để bán lại cho
khách hàng theo giá qui đònh của chính phủ với giá thấp hơn. Nếu chỉ chạy theo lợi
nhuận hoặc lợi ích cục bộ thì cách giải quyết trên không phải là tối ưu.
9
- Khía cạnh đạo đức kinh doanh của ngành điện lực còn thể hiện trong qui
trình kinh doanh điện năng: Một số khách hàng vi phạm hợp đồng mua bán điện ăn
cắp điện, sau xử lý xong ngành điện không thể ngưng bán điện vô thời hạn.
Những đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện đã
quyết đònh những chính sách kinh doanh của nội bộ ngành đồng thời là cơ sở để
chính phủ có những qui đònh và tác động chi phối hoạt động của ngành điện để
ngành điện là động lực thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác trong xã hội.
1.3. Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty Điện lực thành
phố Hồ Chí Minh thời gian qua.
1.3.1. Một số đặc điểm trong sản xuất kinh doanh của công ty Điện lực
thành phố Hồ Chí Minh.
13.1.1. Hệ thống các văn bản pháp lý chi phối hoạt động kinh doanh điện
hiện nay của công ty Điện lực Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn bản pháp lý cho các hoạt động điện lực hiện nay là Nghò đònh
45/2001/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 02/08/2001. Nghò đònh này qui đònh
về hoạt động điện lực và sử dụng điện trên lãnh thổ Việt Nam cho mọi tổ chức cá
nhân trong và ngoài nước. Đi kèm theo Nghò đònh này là 10 văn bản hướng dẫn,
làm rõ nội dung của Nghò đònh 45. Các nội dung chính của nghò đònh này gồm:
- Qui đònh về việc lập và phê duyệt qui hoạch phát triển điện lực.
- Qui đònh về điều kiện cho các đơn vò được phép đấu nối vào lưới điện quốc gia.
- Qui đònh về điều kiện, quyền và nghóa vụ của các đơn vò hoạt động sản
xuất và truyền tải điện.
- Quy đònh về điều kiện ký hợp đồng dân sự, áp dụng cho việc mua bán điện
với mục đích dân sự, hợp đồng kinh tế áp dụng cho việc mua bán điện với mục đích
sản xuất kinh doanh . Quyền và nghóa vụ của các bên mua và bán điện.
- Qui đònh về quyền và nghóa vụ của cơ quan điều hành hệ thống điện quốc gia.
- Qui đònh về tiêu chuẩn, chất lượng điện năng
- Qui đònh về việc cấp điện cho khu công nghiệp và cho khu vực nông thôn
miền núi
- Qui đònh về việc đo đếm điện, về giá điện và thanh toán tiền điện.
- Qui đònh về quản lý nhà nước về hoạt động điện lực và sử dụng điện.
10
Theo qui đònh tại Nghò đònh 45, chính phủ là cơ quan quản lý nhà nước về
hoạt động điện lực. Bộ công nghiệp là cơ quan giúp chính phủ thực hiện chức năng
quản lý nhà nước bao gồm một số chức năng chính như sau:
- Ban hành các văn bản qui phạm pháp luật liên quan đến hoạt động điện
lực
- Trình thủ tướng chính phủ quyết đònh ban hành biểu giá bán lẻ điện.
- Cấp giấy phép hoạt động điện lực
- Thẩm đònh phê duyệt các dự án đầu tư các công trình điện
- Giải quyết các tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm
trong hoạt động điện lực.
Nghò đònh 45 không qui đònh rõ cơ quan nào thực hiện chức năng điều tiết
điện lực. Một số chức năng điều tiết hiện nay được đưa vào như là một phần chức
năng quản lý nhà nước của Bộ công nghiệp và Chính phủ. Bộ công nghiệp vừa
đóng vai trò cơ quan quản lý nhà nước vừa là cơ quan điều tiết các hoạt động điện
lực.
Bộ công nghiệp không có quyền điều chỉnh giá bán điện mà chỉ là cấp thẩm
đònh và trình chính phủ phê duyệt. Nghò đònh 45 không nêu tên các nguyên tắc
chung cho việc đònh giá điện. Riêng giá bán điện của các nhà máy điện BOT hoặc
IPP cho EVN thì do hai bên thoả thuận. Chỉ trong trường hợp đặc biệt, khi hai bên
không thoả thuận được thì phải kiến nghò lên chính phủ giải quyết.
Bộ công nghiệp được giao nhiệm vụ lập qui hoạch tổng thể phát triển lưới
điện quốc gia và cấp giấy phép hoạt động điện lực, cấp phép đầu tư theo phân cấp
của chính phủ, chòu trách nhiệm thanh tra giải quyết các tranh chấp, khiếu nại tố
cáo và xử lý các hành vi vi phạm trong hoạt động điện lực, qua đó đảm bảo quyền
lợi của các bên tham gia mua và bán điện.
Nghò đònh 45 xác đònh việc cấp điện cho vùng nông thôn là nội dung thuộc
chính sách xã hội của Đảng và nhà nước, nhằm làm cho các vùng trong lãnh thổ
phát triển đồng đều.
Nghò đònh 45 qui đònh quan hệ giữa các đơn vò điện lực là quan hệ mua bán,
thể hiện cụ thể trong hợp đồng mua bán điện theo nguyên tắc bình đẳng, sòng
11
phẳng, rõ ràng và cùng có lợi, đồng thời nó cũng qui đònh điều kiện đấu nối vào
lưới điện quốc gia.
1.3.1.2. Đặc điểm về thò trường, khách hàng của công ty điện lực Thành phố
Hồ Chí Minh.
Công ty điện lực Thành phố Hồ Chí Minh có chức năng kinh doanh điện
năng trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy HCM PC là người bán điện
cho tất cả các khách hàng mua điện trên đòa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong những năm qua, nhờ chủ trương cải cách và đổi mới về quản lý kinh
tế, các ngành kinh tế đều phát triển với tốc độ khá cao. Chính vì thế, nhu cầu về
điện năng liên tục tăng với tốc độ cao. Năm 1995 khi mới thành lập CTĐLHCM,
tổng sản lượng điện thương phẩm là 2.815 triệu KWH năm 2002 sản lượng điện đã
tăng 2,8 lần đạt 7489 triệu KWH. Trong ba năm 2000, 2001, 2002, sản lượng điện
tiếp tục tăng với tốc độ trung bình là 14% /năm. Riêng năm 2003 sản lượng điện
thương phẩm tiếp tục tăng với tốc độ 14,5% sản lượng đạt 8480 triệu KWH.
Hình 1.3.1. Sản lượng điện thương phẩm của công ty điện lực Thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn 1995 - 2003.
12
Tốc độ phát triển khách hàng bình quân tăng liên tục 10% đến 12% trong
suốt giai đoạn từ 1995 đến 2003. Tổng số khách hàng mua điện của công ty điện
lực Thành phố Hồ Chí Minh đã tăng từ 500.000 năm 1995 đến trên 1,96 triệu năm
2003. Phân loại theo mục đích sử dụng điện, khách hàng mua điện của CTĐLHCM
chia ra làm 05 loại chính là nông lâm nghiệp; công nghiệp; thương nghiệp, dòch vụ;
sinh hoạt tiêu dùng và các hoạt động khác. Trong đó tỉ trọng điện cho công nghiệp
có giá trò cao nhất là 46,88%
Sinh hoạt
39,89%
N/Nghiệp, Lâm nghiệp,
Thủy Sản
0,16%
Dòch vụ, T/Nghiệp, K/Sạn
9,69%
Khác
3,39%
Công nghiệp,
xây dựng
46,88%
Hình 1.3.2. Tỉ trọng điện thương phẩm tương ứng với các thành phần phụ tải.
Hộ công nghiệp trong giai đoạn 1995 - 2003 đạt tỉ lệ trung bình từ 41%, năm
2003 đã tăng lên 46,88%, điều này chứng tỏ các chính sách thúc đẩy công nghiệp
phát triển của Đảng và Chính phủ đã phát huy tác dụng tốt. Ba loại hộ tiêu thụ
nông nghiệp, thương nghiệp dòch vụ và hoạt động khác chiếm tỉ lệ thấp trong tổng
sản lượng điện thương phẩm của CTĐLHCM. Tuy nhiên từ năm 1998 trở lại đây,
một số khu công nghiệp đã tự đầu tư xây dựng nhà máy phát điện để cung cấp điện
cho các doanh nghiệp trong hàng rào. Ví dụ như các khu công nghiệp: Vedan, Tân
Thuận làm ảnh hưởng đến tốc độ gia tăng phụ tải công nghiệp CTĐLHCM. Nếu
CTĐLHCM không chú trọng đến chất lượng điện năng, cung cách phục vụ, sự kòp
thời đáp ứng nhu cầu phụ tải, thì trong những năm tới xu thế này sẽ phát triển và
ảnh hưởng lớn đến doanh thu và lợi nhuận của CTĐLHCM. Đây là một đặc điểm
cần được quan tâm trong quá trình xây dựng đònh hướng phát triển của CTĐLHCM.
Từ các phân tích trên, chúng ta có thể rút ra các đặc điểm của thò trường và
khách hàng mua điện của CTĐLHCM như sau:
13
- Hai loại hộ tiêu thụ điện chiếm tỉ lệ cao, tốc độ tăng trưởng nhanh tại thời
điểm hiện tại và tương lai trong cơ cấu các khách hàng của CTĐLHCM là hộ tiêu
dùng sinh hoạt và hộ công nghiệp. Các đối thủ cạnh tranh đã xuất hiện trên thò
trường và tập trung vào nhóm khách hàng có giá bán cao mang lại doanh thu và lợi
nhuận cao. Đó là các khách hàng công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
- Xét về vò trí đòa lý thì ngoài các trung tâm phụ tải truyền thống, đã và đang
hình thành thêm các trung tâm phụ tải mới ở các khu công nghiệp đònh vò tại các
vùng ven như Quận 7, BìnhChánh, Hóc Môn, Củ Chi
1.3.2. Đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh tại công ty điện lực Thành
phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua.
1.3.2.1. Về kế hoạch sản xuất kinh doanh :
Bối cảnh: Trong thời gian tới CTĐLHCM có nhiều thuận lợi, đồng thời đan
xen nhiều thách thức trong phát triển, cụ thể là:
(1) Những điều kiện thuận lợi: - Khoa học công nghệ thế giới có những bước
nhảy vọt, nhiều thiết bò sản xuất, truyền tải và phân phối điện có công nghệ ngày
càng cao ra đời. Công nghệ thông tin phát triển mạnh làm cho việc điều hành hệ
thống càng trở nên hiện đại hơn. Nhiều mô hình quản lý ngành điện, việc đa dạng
hoá đầu tư phát triển các công trình điện đã được nghiên cứu áp dụng trên thế giới,
tạo tiền đề và kinh nghiệm trong việc cải tiến mô hình quản lý, nâng cao hiệu quả
trong lónh vực sản xuất và kinh doanh điện năng.
- Nền kinh tế nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng nhanh, sự phát triển của các
ngành kinh tế tạo nhu cầu và thò trường lớn hơn cho ngành công nghiệp Điện cả qui
mô và phạm vi thò trường.
- Công cuộc đổi mới gắn liền với những cơ chế quản lý mới của nền kinh tế,
mà trong đó các doanh nghiệp được trao quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
Đồng thời thông qua cơ chế tài chính và những lần tăng giá điện trước đây đã tạo
được nguồn nội lực của ngành điện nói chung và của công ty điện lực Tp.Hồ Chí
Minh nói riêng, làm cho khả năng đầu tư được đảm bảo.
(2) Những khó khăn thách thức:
- Sự thiếu đồng bộ trong khuôn khổ pháp lý: Luật điện lực làm cơ sở pháp lý
nhất quán, tạo điều kiện cho các hoạt động của ngành và cho sự giám sát khách
14
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét