Luận văn
5 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
thành niên Mỹ tăng lên, sự thâm hụt vốn giảm và do đó nguồn tài trợ từ các nhà
đầu tư không phải của Mỹ cũng giảm.
Các biến động tỷ giá hối đoái dự báo được do nhà đầu tư vào chứng khoán
cũng có thể ảnh hưởng đến tài khoản vốn. Nếu nội tệ một nước được dự kiến mạnh,
các nhà đầu tư nước ngoài có thể sẵn sàng đầu tư vào chứng khoán của nước đó để
hưởng lợi từ các biến động tiền tệ. Ngược lại, cán cân tài khoản vốn của một nước
dự kiến sẽ giảm nếu đồng nội tệ của nước đó được dự kiến suy yếu, khi các yếu tố
khác không đổi. Khi muốn đánh giá tính biến động của tài khoản vốn ta phải xem
xét đồng thời tất cả các yếu tố. Một quốc gia có thể có sự sụt giảm trong tài khoản
vốn ngay cả khi có lãi suất hấp dẫn, nếu đồng ngoại tệ của quốc gia này dự kiến sẽ
giảm giá. Ngoài ra, các nhân tố thuộc về luật lệ, chính sách điều hành của chính
phủ các nước cũng có tác động nhất đònh đến các dòng vốn quốc tế.
Bên cạnh đó, dòng luân chuyển vốn quốc tế còn được lớn mạnh lên từ việc
các nước bãi bỏ những hạn chế đối với các giao dòch trên tài khoản vốn đi cùng với
quá trình hội nhập tài chính toàn cầu. Quá trình tự do hóa thương mại đã khuyến
khích phát triển các giao dòch tài chính quốc tế cũng như sự hình thành và phát triển
những công cụ phái sinh (quyền chọn, hợp đồng tương lai, kỳ hạn, hoán đổi…) đã
giúp nhà đầu tư quốc tế giảm thiểu rủi ro trong hoạt động đầu tư của mình.
1.2 TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG VỐN QUỐC TẾ
1.2.1 Vai trò và những ảnh hưởng của dòng vốn quốc tế đến nền kinh tế
Đối với hoạt động đầu tư cho tăng trưởng kinh tế của một nước, đặc biệt là
các nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư quốc tế có vai trò quan trọng, khi mà tỷ
lệ tiết kiệm ở các quốc gia này còn hạn chế.
Ở các nước đang phát triển, các dòng vốn đầu tư quốc tế di chuyển tự do có
vai trò quan trọng đến nỗi chúng được coi là động lực của sự tăng trưởng kinh tế.
Vốn từ bên ngoài sẽ bổ sung vào sự thiếu hụt nguồn tài chính nội đòa cho yêu cầu
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế mà không cần phải gia tăng tỷ
lệ tiết kiệm.
Thông qua việc đầu tư vốn vào một nước, các nhà đầu tư quốc tế sẽ tạo sức
ép mạnh hơn từ bên ngoài đối với tính kỷ luật của chính sách kinh tế vó mô nội đòa.
Giúp phát triển thò trường và hoàn thiện các chính sách tài chính quốc gia. Họ cung
cấp các loại hình dòch vụ mới và các kỹ thuật đầu tư tiên tiến, giúp các tổ chức tài
chính nội đòa học tập kinh nghiệm phát triển và giúp các nước này hoàn thiện các
Luận văn
6 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
cơ chế quản lý giám sát của mình. Lưu chuyển vốn cho phép các quốc gia tránh
được những sự sụt giảm tiêu dùng và đầu tư trong thời kỳ khó khăn, giúp cho nền
kinh tế có điều kiện phục hồi vì nhu cầu và đầu tư vẫn được đảm bảo, đồng thời
cung cấp tài chính cho các quốc gia để cải tiến công nghệ, nâng cao năng lực sản
xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế nội đòa.
Trên phương diện toàn cầu, các dòng lưu chuyển vốn giúp phân bố có hiệu
quả và sử dụng tốt nhất các nguồn tiết kiệm thế giới. Không có các dòng vốn quốc
tế, thì không thể có sự cân bằng suất sinh lợi từ đầu tư giữa các nước, dẫn đến sự
phân bổ sai các nguồn lực : những dự án đầu tư có khả năng sinh lợi cao ở một số
nước có thể không được thực hiện vì thiếu vốn. Trong khi những dự án có tỷ suất
sinh lợi thấp hơn
ở những nơi khác lại được cấp vốn. Luân chuyển vốn tự do làm
cho lãi suất toàn cầu trở thành chi phí sử dụng vốn và suất sinh lợi từ tiết kiệm
tương xứng, chứ không phải lãi suất quốc gia. Tiết kiệm và đầu tư sẽ cân xứng
trong phạm vi toàn cầu hơn là trong phạm vi một quốc gia. Như vậy, trong tình
huống lý tưởng, đầu tư sẽ được tái phân bổ hướng tới những dự án sinh lời nhất trên
cơ sở đã điều chỉnh rủi ro. Các dòng chảy vốn còn tạo ra cơ hội cho các giao dòch
tiêu dùng tương lai, đa dạng hóa danh mục đầu tư quốc tế và tối thiểu rủi ro v.v.
Ngoài ra, dòng vốn quốc tế còn thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, kỹ
năng quản lý và đào tạo nguồn nhân lực cho nước tiếp nhận. Qua đó, nước tiếp
nhận được dòng vốn có thể cải thiện được khu vực tài chính, tăng cường tính thanh
khoản của thò trường vốn, tạo sự phát triển sâu hơn và rộng hơn cho thò trường tài
chính nội đòa.
Tuy nhiên, đi cùng với những ưu điểm, thuận lợi tạo ra cho nước tiếp nhận
đầu tư, dòng vốn đầu tư quốc tế luôn tiềm ẩn những nguy cơ, rủi ro, bất ổn (đặc biệt
là dòng vốn đầu tư gián tiếp) mà thực tế đã minh chứng được qua các cuộc khủng
hoảng tài chính. Điều này buộc các nước tiếp nhận dòng vốn quốc tế cần nhận thức
rõ.
Trước hết, sự di chuyển quá mức của các dòng vốn quốc tế làm giảm tính
độc lập của chính sách tiền tệ và tỷ giá, sẽ khiến cho hệ thống tài chính của nước
tiếp nhận dễ bò tổn thương và rơi vào khủng hoảng một khi gặp phải cú sốc từ bên
trong hay bên ngoài nền kinh tế.
Sự di chuyển vốn tự do không phải lúc nào cũng mang lại những phân phối
tối ưu các nguồn lực, do các nhà đầu tư không thể đưa ra các quyết đònh đầu tư hoàn
toàn chính xác trong tình trạng thông tin không đầy đủ và thiếu cân xứng. Tình
Luận văn
7 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
trạng này cũng khiến cho họ không đánh giá được hết các rủi ro liên quan đến các
hoạt động của mình và do vậy, họ có xu hướng bắt chước theo những gì mà các nhà
đầu tư khác làm. Hiện tượng này được mô tả là “hành vi cư xử theo đám đông”.
Ngoài ra sự phát triển nhảy vọt trong lónh vực tài chính đã khiến các nhà đầu
tư có thể đầu tư vào bất kỳ một thò trường nước ngoài xa xôi nào hoặc rút vốn ra
khỏi thò trường đó một cách dễ dàng (điều này đặc biệt đúng với các trường hợp
vốn ngắn hạn). Kết quả là các dòng vốn có thể dễ dàng đổi chiều một cách bất ngờ
với quy mô lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát (hiện tượng đảo ngược dòng vốn), dẫn
đến thực trạng là : khi dòng vốn đổ vào một quốc gia nào một cách quá mức, nó có
xu hướng gây ra tình trạng phát triển quá nóng cho nền kinh tế, làm cho các hoạt
động đầu tư trở nên kém hiệu quả, đi kèm là tình trạng “bong bóng” trong giá tài
sản và lạm phát tăng cao, bên cạnh đó nguồn cung ngoại tệ dồi dào khiến cho tỷ
giá dễ có xu hướng bò đánh giá cao so với giá trò thực của nó. Ngược lại, tình trạng
rút vốn có thể xảy ra khi các nhà đầu tư mất niềm tin vào chính sách vó mô của
Chính phủ hay việc cơ cấu lại danh mục đầu tư. Lúc này với xu hướng bầy đàn và
tính bất ổn, sức công phá mạnh của dòng lũ vốn chảy ra có thể làm tiêu tan cả nền
kinh tế của một quốc gia. Sự di chuyển của các dòng vốn này nhiều khi không được
đưa vào thực trạng những nhân tố nền tảng của nền kinh tế quốc gia đó, kết quả là
ngay cả quốc gia có một nền tảng cơ bản vững chắc cũng khó có thể tránh khỏi sự
tấn công của các dòng vốn. Đây chính là bản chất các cuộc khủng hoảng mang đặc
điểm của thế kỷ 21, một cuộc khủng hoảng cán cân vốn, đối lập với cuộc khủng
hoảng cán cân vãng lai truyền thống của thế kỷ 20.
Việc tiếp cận quá dễ dàng với các nguồn tài trợ quốc tế có thể dẫn đến gánh
nặng nợ quá mức, gây tác động xấu đến sự thònh vượng và phát triển bền vững của
quốc gia đặc biệt là trong trường hợp nợ của nhà nước và các khoản nợ được vay
ngắn hạn. Nợ nhà nước lại là phần trách nhiệm của toàn thể đất nước, không phụ
thuộc vào thành công hay thất bại của một dự án riêng lẻ nào được tài trợ bằng
khoản tiền đi vay này, do đó khuynh hướng sử dụng không có hiệu quả nguồn vốn
này là trường hợp thường gặp, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Trong khi đó,
các nhà cho vay lại thường thích cung cấp tín dụng cho các chính phủ, bởi vì một
quan điểm đơn giản là nợ của những nước có chủ quyền thì dó nhiên sẽ được hoàn
trả. Như vậy việc vay nợ dễ dàng, trong khi hiệu quả đầu tư để đảm bảo trả nợ thì
lại thấp, dẫn đến tình trạng nợ chồng nợ và cuối cùng là mất khả năng chi trả.
Luận văn
8 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
Mặc dù với những rủi ro tiềm tàng và bất ổn khó dự đoán như trên, nhưng
trong quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào không thể thiếu sự bổ
sung của nguồn lực quan trọng là vốn đầu tư quốc tế. Nên các quốc gia không thể
ngăn cản sự di chuyển của các dòng vốn qua biên giới. Vấn đề đặt ra là cần một
giải pháp nhằm tối đa hóa lợi ích mà vốn mang lại, trong khi tối thiểu hóa được các
rủi ro của chúng. Đối với những quốc gia có nền tài chính yếu kém, hệ thống ngân
hàng còn lạc hậu, các quy đònh kiểm soát còn mỏng manh, thì kiểm soát vốn là một
biện pháp hữu hiệu để bảo vệ thò trường tài chính nội đòa.
1.2.2 Nhận đònh vò thế kiểm soát vốn trong quá trình hội nhập tài chính
Kiểm soát vốn là bất kỳ chính sách nào nhằm giới hạn, kiểm soát hay đònh
hướng lại các giao dòch tài khoản vốn ra hoặc vào một quốc gia, nó mang rất nhiều
hình thức và được áp dụng cho nhiều mục đích khác nhau phụ thuộc vào bối cảnh
kinh tế và mục tiêu của chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.
Tự do hóa tài khoản vốn từng được các nước xem là một yếu tố quan trọng
cho mô hình phát triển, vì các nước này thường xuyên thiếu vốn trong khi muốn
tăng trưởng. Trong khi nhiều nước đang phát triển đã hưởng được những lợi ích to
lớn từ dòng vốn nước ngoài chảy vào trong nước thì sự chấm dứt đột ngột và đảo
ngược các dòng vốn này lại dẫn đến các cuộc khủng hoảng với quy mô lớn. Và từ
đây kiểm soát vốn đang dành lại vò thế của mình trong cách nhìn nhận của các nhà
kinh tế cũng như các nhà hoạch đònh chính sách vó mô.
Có thể thấy rằng, việc sử dụng các biện pháp kiểm soát vốn một cách cực
đoan có thể ngăn ngừa vốn chạy ra nước ngoài trong thời gian ngắn hạn nhưng có
thể làm giảm niềm tin của nhà đầu tư. Cũng cần lưu ý rằng hiệu quả kiểm soát vốn
nên xử lý một cách cẩn thận không chỉ bởi vì khả năng của các cơ quan chức năng
thực thi quá trình này như NHTW, cơ quan thuế, mà còn vì không giải quyết được
những vấn đề tồn đọng một cách cơ bản.
Tuy nhiên, thực tế đã cho thấy ở những nước đang phát triển nếu thả lỏng
dòng vốn vào sẽ phải đối mặt với áp lực đầu cơ gây ảnh hưởng xấu đến hệ thống
tài chính - tiền tệ, ngược lại nếu hạn chế hẳn thì sẽ bỏ qua cơ hội tận dụng vốn
quốc tế để phát triển kinh tế. Kiểm soát vốn là biện pháp hữu hiệu, vừa cho phép
dòng vốn vào, tạo cơ hội hoàn thiện thò trường tiền tệ trong nước vừa tránh được
những tác động tiêu cực của dòng vốn vào. Bởi lẽ kiểm soát vốn tạo ra một bức
tường bảo vệ nền kinh tế khỏi những bất ổn của các dòng vốn và ngăn chặn hiệu
Luận văn
9 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
quả việc đảo ngược dòng vốn đột ngột, đây vốn được xem là nguyên nhân chính
gây ra những bất ổn nghiêm trọng cho nền kinh tế của một quốc gia.
Kiểm soát vốn có khả năng ngăn chặn sự lây lan của các bất ổn tài chính
giữa các quốc gia, đó là các rào cản được thiết lập trong các giao dòch vốn có thể
cách ly một quốc gia khỏi những biến động từ quốc gia khác. Điều này có ý nghóa
quan trọng khi mà xu hướng toàn cầu hóa đang phát triển rất mạnh mẽ. Kiểm soát
vốn cho phép tiếp cận thường xuyên với các nguồn vốn quốc tế trong một phạm vi
có thể kiểm soát được, giúp chính phủ các nước hoàn thiện các chính sách quản lý
vó mô và tăng kinh nghiệm quản lý. Giới hạn vừa phải giao dòch tài khoản vốn có
thể làm cho nền kinh tế phát triển hơn bằng cách bù đắp cho sự bất hoàn hảo của
thò trường tài chính, bao gồm sự bất cân xứng về thông tin giữa các nhà đầu tư. Điều
này có được là do việc áp dụng các biện pháp kiểm soát trên các nguồn vốn quốc
tế đã tạo ra một cơ chế bảo hiểm mạnh mẽ hơn cho sự đầu tư được chấp thuận và
tăng cường công khai hóa về thông tin tài chính. Trong một cơ chế tỷ giá cố đònh
hoặc được quản lý chặt chẽ, kiểm soát vốn có thể giúp điều hòa các mục tiêu mâu
thuẫn nhau trong các chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia.
Ngoài ra, kiểm soát vốn còn tạo được một cơ chế bảo hiểm ngoại hối ngầm
để bảo vệ sự ổn đònh tài chính - tiền tệ của một quốc gia khi phải tiếp xúc với
những dòng chảy vốn nóng, nhất là trong trường hợp dòng vào quá nóng làm tăng
nguy cơ lạm phát hoặc khi các ngân hàng hay các thành phần kinh tế trong nước rơi
vào vò thế ngoại hối không được bảo đảm do nhận thức không đầy đủ về rủi ro.
Như vậy, với những ưu điểm của kiểm soát vốn và trước sự phát triển quá mạnh
của đầu tư quốc tế cũng như các hoạt động đầu cơ tiền tệ hiện nay, khi mà không
một quốc gia nào có đủ khả năng tận dụng hết các nguồn vốn cho sự phát triển mà
lại chắc chắn thoát được những biến động bất lợi của nó, các biện pháp kiểm soát
vốn cần thiết phải được áp dụng như là một cơ chế bảo hiểm cho nền tài chính nội
đòa. Vấn đề là lập thời gian biểu cụ thể cho lộ trình tự do hóa tài khoản vốn trong
quá trình hội nhập, nên xem xét và áp dụng một cách thận trọng các biện pháp
kiểm soát vốn. Và có thể thấy rằng, kiểm soát vốn ở Việt Nam là một điều cần
thiết, vấn đề còn lại là thực hiện như thế nào để không gây sốc với nhà đầu tư và
thò trường. Làm sao để TTCK tiếp tục phát triển nhanh, lành mạnh và bền vững,
bảo đảm lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước là những
việc làm nên được cân nhắc một cách cẩn thận.
Luận văn
10 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
1.3 XU HƯỚNG CHUNG CỦA DÒNG VỐN TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Theo Báo cáo của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), và Tổ chức Thương mại và
Phát triển Liên Hiêp Quốc (UNCTAD), tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
năm 2006 đạt 1.225,5 tỷ USD, tăng 4,9% so với năm 2005 và vượt mức ấn tượng
1.000 tỷ USD năm 2000. Trên các thò trường mới nổi, đánh giá của Viện tài chính
quốc tế (IIF) cho rằng dòng vốn đầu tư tư nhân năm 2006 đạt 417,9 tỷ USD, tuy
giảm đôi chút so với mức tăng kỷ lục 479,6 tỷ USD năm 2005 nhưng đây vẫn là
năm có mức tăng cao liên tiếp trong vòng nhiều năm qua. Nhìn chung, xu hướng
dòng vốn trong những năm gần đây có thể được khái quát qua các số liệu như sau :
Bảng 1.1: Dòng vốn nước ngoài chảy vào các thò trường mới nổi giai đoạn 2004 -
2007 (tỷ USD)
Năm 2004 2005 2006 Dự kiến
2007
1.Dòng vốn tư nhân 323,9 479,6 417,9 403,6
- Dòng vốn đầu tư cổ phần 185,3 240,7 259,7 245,2
- Đầu tư trực tiếp 146,8 185,7 201,9 193,7
- Đầu tư gián tiếp 38,5 55,0 57,7 51,5
- Dòng vốn tín dụng nợ 138,6 238,9 158,3 158,4
- Tín dụng ngân hàng thương mại 56,5 131,8 90,6 74,0
2. Dòng vốn tài trợ chính thức -16,0 -56,1 -47,7 -5,9
- Từ các tổ chức quốc tế -14,9 -39,3 -23,0 -4,4
- Tín dụng song phương -1,1 -16,7 -24,7 -1,5
3. Tổng cộng 307,9 423,5 370,2 397,7
Nguồn : Capital Flows to Emerging Makert Economics, Institute of international Finance,
tháng 09/2006
Dòng vốn nước ngoài chảy vào các thò trường mới nổi năm 2006 (370,2 tỷ
USD) có giảm hơn so với năm 2005 (423,5 tỷ USD), sự suy giảm này chủ yếu do có
sự sụt giảm nguồn vốn tín dụng của các NHTM và các TCTD khác trong năm 2006.
Trong khi đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp vẫn có xu hướng tăng
nhanh do chính phủ các nước tiếp tục thực hiện những chính sách kinh tế vó mô ổn
đònh, đẩy mạnh cải cách cơ cấu để tạo sự hấp dẫn về môi trường đầu tư.
Luận văn
11 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
Phân tích theo khu vực đòa lý, châu Á - Thái Bình Dương chiếm tới 40% tổng
dòng vốn đầu tư tư nhân vào thò trường mới nổi trong năm, đạt 178,6 tỷ USD, tiếp
theo là các nền kinh tế mới nổi châu Âu chiếm 39,9%, đạt 166,7 tỷ USD. Châu Mỹ
Latinh và châu Phi – Trung Đông sau nhiều năm liên tiếp vẫn là hai khu vực tiếp
nhận dòng vốn đầu tư tư nhân ít nhất trên thế giới, chỉ chiếm 9,1% và 8,2% dòng
vốn tư nhân vào thò trường mới nổi năm 2006.
Bảng 1.2: Dòng vốn nước ngoài chảy vào các thò trường mới nổi phân theo khu vực
giai đoạn 2004-2007 (tỷ USD)
Năm 2004 2005 2006 Dự kiến
2007
1.Dòng vốn tư nhân 323,9 479,6 417,9 403,6
- Mỹ Latinh 35,1 63,9 38 51,4
- Châu u 118,2 186,5 166,7 168,4
- Châu Phi – Trung Đông 10,9 30,4 34,6 29,3
- Châu Á- Thái Bình Dương 159,7 198,8 178,6 154,5
2. Dòng vốn tài trợ chính thức -16,0 -56,1 -47,7 -5,9
- Mỹ Latinh -7,7 -29,3 -17,9 1,6
- Châu u -4,5 -27,8 -26,7 -5,8
- Châu Phi – Trung Đông -3,1 -3,0 -0,4 -2,4
- Châu Á- Thái Bình Dương -0,6 4,0 -2,6 0,7
Nguồn : Capital Flows to Emerging Makert Economics, Institute of international Finance,
tháng 09/2006
Trong khi dòng vốn đầu tư tư nhân có xu hướng đạt mức cao trong năm 2006, thì
dòng vốn tài trợ chính thức lại liên tiếp có sự suy giảm mạnh. Dòng vốn tài trợ
chính thức chảy ra khỏi các nền kinh tế mới nổi năm 2004 là 16 tỷ USD, năm 2005
là 56,1 tỷ USD, năm 2006 là 47,7 tỷ USD.
Nếu xét theo thành phần của dòng vốn, năm 2006 cơ cấu thành phần dòng
vốn quốc tế chảy vào các thò trường mới nổi có đặc điểm cơ bản sau :
- Đầu tư gián tiếp (FPI) tiếp tục có xu hướng gia tăng, năm 2006 đạt 57,7 tỷ
USD, vượt mức 55 tỷ USD của năm 2005. Sự gia tăng liên tiếp của dòng vốn
đầu tư gián tiếp trong nhiều năm qua và trong năm nay là do những biến
động theo chiều hướng có lợi của môi trường kinh tế ổn đònh ở nhiều nền
kinh tế mới nổi trên thế giới. Tuy nhiên, một thực tế cho thấy hơn 30 năm
Luận văn
12 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
qua đầu tư gián tiếp luôn chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng vốn đầu tư nước
ngoài trên thế giới, chỉ chiếm khoảng 10-15%. Khu vực châu Á -Thái Bình
Dương thu hút tới 40 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp trong năm, tăng nhẹ so với
mức 38 tỷ USD của năm 2005 và chiếm 2/3 tổng vốn đầu tư gián tiếp vào thò
trường mới nổi. Tại dây, Trung Quốc, Ấn Độ là hai nước chiếm tỷ lệ thu hút
đầu tư gián tiếp cao nhất, đạt 30 tỷ USD (Trung Quốc) và 6 tỷ USD (Ấn Độ).
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2006 tăng mạnh, nhưng xu hướng
gia tăng trong từng khu vực đang có sự thay đổi. Chiều hướng tăng trưởng
kinh tế khả quan của các nền kinh tế cũng như các điều kiện tài chính hấp
dẫn đã tạo điều kiện thu hút một lượng lớn dòng vốn FDI trên các thò trường
mới nổi. Năm 2006, FDI vào khu vực các thò trường mới nổi là 201,9 tỷ USD,
một mức cao chưa từng có sau khi đã đạt mức tăng trưởng kỷ lục 185,7 tỷ
USD của năm 2005 và còn được dự báo sẽ là 190 tỷ USD năm 2007. Bên
cạnh 5 quốc gia được đánh giá là những nước tiếp nhận FDI hàng đầu thế
giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Thổ Nhó Kỳ và Braxin (chiếm tới hơn ½
dòng FDI đổ vào các thò trường mới nổi), các nước khác (trong đó có Việt
Nam) cũng đang nỗ lực cải thiện các chính sách đầu tư của mình như tái cơ
cấu ngành, cải thiện cơ sở hạ tầng, hoàn thiện các thể chế, luật pháp v.v. do
vậy dòng vốn FDI vào các nước này cũng không ngừng tăng lên. Một yếu tố
quan trọng khiến vốn FDI trên thế giới tăng kỷ lục năm nay là làn sóng tư
nhân hóa, các vụ mua bán và sáp nhập (M&A) diễn ra trong năm nhanh,
mạnh chưa từng có. Làn sóng này bắt đầu bùng nổ từ cuối tập kỷ 1990 và
trong năm 2006 các vụ mua bán và sáp nhập ước tính tăng 39% so với năm
trước đó. Xem xét sự phân bổ FDI theo từng khu vực, ta có thể thấy một
động thái của FDI trong năm nay. Sau nhiều năm tăng trưởng mạnh, năm
2006 dòng vốn FDI vào khu vực châu Á – Thái Bình Dương có chiều hướng
suy giảm. Mặc dù đây vẫn là khu vực đứng đầu trong các nền kinh tế mới nổi
trong thu hút FDI, năm 2006 thu hút FDI của khu vực này là 75,2 tỷ USD,
chiếm 37,2% tổng FDI vào các nền kinh tế mới nổi. Một điểm đáng chú ý là
FDI vào các nền kinh tế mới nổi châu Âu năm 2006 đạt 66 tỷ USD, tăng
78,37% so với năm 2005, do có sự đóng góp rất lớn của dòng FDI vào Thổ
Nhó Kỳ và Nga. Xu hướng FDI tập trung vào các ngành nhiều tài nguyên, sự
tăng trưởng kinh tế quá nóng của Trung Quốc đã mở ra cơ hội đầu tư trong
các ngành nguyên liệu thô (dầu mỏ, khí ga ở Nga và Angiêri). Ngoài ra,
Luận văn
13 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
cũng thấy được FDI trong những ngành công nghiệp sạch nhằm bảo vệ sức
khỏe và môi trường cũng đang có chiều hướng gia tăng.
- Dòng vốn tài trợ chính thức có chiều hướng suy giảm. Năm 2006, dòng vốn
tài trợ chính thức (cả từ các tổ chức quốc tế và tín dụng song phương) đạt
47,7 tỷ USD, thấp hơn mức kỷ lục 56,1 tỷ USD của năm 2005. Phân theo khu
vực, các nền kinh tế châu Âu mới nổi chiếm thò phần lớn nguồn vốn tài trợ
chính thức, 26,7 tỷ USD và chiếm 56% tổng vốn tài trợ chính thức vào các thò
trường mới nổi. Tiếp theo là châu Mỹ Latinh cũng chiếm 37,5% và đạt 17,9
tỷ USD. Châu Phi và Trung Đông năm 2006 ghi nhận sự sụt giảm mạnh mẽ
vốn tài trợ chính thức, chỉ đạt 0,4 tỷ USD so với 3 tỷ USD của năm 2005, khu
vực châu Á -Thái Bình Dương chỉ đạt 2,6 tỷ USD. Tài trợ từ các tổ chức tín
dụng song phương năm 2006 đạt 24,7 tỷ USD tăng so với 16,7 tỷ USD của
năm 2005. Năm 2006, có khoảng trên 50% trong tổng số các nền kinh tế mới
nổi đạt được các mức vay nợ từ các tổ chức tín dụng song phương chính thức.
- Theo khảo sát của IMF gần đây cho thấy, vào năm 2001 lợi nhuận từ vốn
FPI thế giới tăng gấp 2 lần vốn FDI. Trong vòng 4 năm, đầu tư gián tiếp của
toàn cầu đã tăng 2 lần; nước có tỷ trọng đầu tư gián tiếp lớn nhất là Mỹ
chiếm 24,5%, tiếp đó là Anh chiếm 10%. Dòng vốn FPI đang trỗi dậy mạnh
mẽ sau cuộc khủng hoảng tài chính 1997 và đang chuyển hướng đầu tư sang
các quốc gia đang phát triển có tiềm năng, nhằm hạn chế các rủi ro đầu tư.
- Ngoài ra, trong những thập kỷ gần đây, nhiều nước đang phát triển và các
nước công nghiệp mới phải dựa vào tiết kiệm nước ngoài để tăng trưởng kinh
tế. Tích tụ nợ nước ngoài đã trở thành hiện tượng phổ biến ở các nước đang
phát triển. Mặc dù nguồn vốn vào có thể cung cấp cho nước nhận vốn nguồn
lực cần thiết để phát triển kinh tế, nhưng nó cũng có nhiều phí tổn. Phí tổn
chính ở đây là dòch vụ nợ có thể làm tăng quy mô và chi phí sử dụng nợ.
Trong vòng 20 năm, từ năm 1970 đến 1989, nợ nước ngoài của các nước
đang phát triển tăng từ 68,4 tỷ USD lên 1.262,8 tỷ USD tức tăng 1846%.
Thanh toán dòch vụ nợ tăng 1400% và vượt hơn 160 tỷ USD tính đến cuối
năm 1980. Dư nợ tích lũy và chảy máu vốn ngày một tăng, một số nước đang
phát triển trở thành con nợ. Rủi ro tiềm ẩn của nó được minh chứng là cuộc
khủng hoảng châu Á gần đây mang đặc điểm là một cuộc khủng hoảng tài
khoản vốn. Vốn chảy vào khu vực tư nhân và mang tính chất ngắn hạn, tiếp
theo là sự đảo ngược dòng vốn một cách đột ngột và ồ ạt.
Luận văn
14 Lê Duy Phong
Vấn đề kiểm soát dòng vốn vào tại Việt Nam trong giai đoạn hội nhập
1.4 KINH NGHIỆM VỀ KIỂM SOÁT DÒNG VỐN Ở MỘT SỐ QUỐC GIA
ĐANG PHÁT TRIỂN
Một điều rất rõ là mặc dù có sự khác biệt đáng kể về thời gian và quy mô,
nhưng dòng chảy vốn quốc tế đã chu chuyển rất mạnh mẽ suốt những thập niên vừa
qua. Dòng chảy ào ạt này có mối quan hệ chặt chẽ với quy mô của nền kinh tế, hơn
một nửa các nước trong tổng số 20 quốc gia theo khảo sát của WB đã nhận dòng
vốn đầu tư nước ngoài vào trong nước của mình trung bình hàng năm chiếm khoảng
4%GDP. Chi Lê, Malaysia, Thái Lan, Mexico là những nước sớm đón nhận dòng
chảy vốn quốc tế mạnh mẽ vào đầu thập niên 1990. Sau năm 1992, dòng vốn quốc
tế cũng chảy vào các nước Nam Á nhưng với quy mô nhỏ hơn, riêng các nước Đông
Âu, sau năm 1992, quy mô dòng vốn vào rất lớn, hơn cả những nước tiếp nhận vốn
đầu tư lớn nhất ở Châu Mỹ và Đông Á.
Trong giai đoạn trước cuộc khủng hoảng tiền tệ 1997-1998, những chỉ số
phản ánh mức tăng trưởng kinh tế cùng với những triển vọng phát triển ở châu Á đã
thu hút một lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào những quốc gia này. Dòng vốn
quốc tế ào ạt đổ vào và rồi những dấu hiệu bất ổn trong nền kinh tế đã xảy ra.
Tăng trưởng kinh tế chững lại vào năm 1996, với sự tăng chậm của xuất khẩu, xuất
hiện tình trạng năng lực dư thừa trong nhiều ngành công nghiệp, những căng thẳng
kéo dài trong khu vực tài chính và bất động sản, sự trì trệ dai dẳng của kinh tế Nhật
Bản… Đến cuối năm 1997, khu vực châu Á đã lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính,
tiền tệ toàn diện. Vào thời điểm đó, Việt Nam gần như “miễn nhiễm” với các tác
động của cuộc khủng hoảng. Nhưng hiện nay, khi chúng ta đang hòa nhập vào sân
chơi lớn của khu vực và thế giới bằng việc tham gia vào các tổ chức mậu dòch tự do,
là thành viên của WTO với nhiều cam kết hội nhập, TTCK Việt Nam đã ra đời và
đang trên đà phát triển, Việt Nam từng bước mở cửa tài khoản vốn và đang trong
tiến trình tự do hóa tài chính. Những tiền đề này thể hiện sự gắn kết giữa thò trường
Việt Nam và thò trường của các nước trong khu vực và thế giới. Những cuộc khủng
hoảng tài chính tương tự nếu có xảy ra thì chắc chắn Việt Nam cũng không còn
được nằm ngoài “tâm bão” nữa.
Chính vì vậy, việc đúc kết kinh nghiệm và rút ra những bài học từ thực tiễn
của các nước trong khu vực trong việc thu hút và kiểm soát đối dòng vốn đầu tư
quốc tế trong giai đoạn trước, trong cũng như sau khủng hoảng sẽ rất có ý nghóa đối
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét