Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Lời nói đầu
Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang trở thành một xu thế
tất yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại. Những phát triển mạnh mẽ về
khoa học kỹ thuật công nghệ đã góp phần đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa nền
kinh tế thế giới. Với sự ra đời của các thể chế toàn cầu và khu vực nh WTO,
EU, APEC, NAFTA, thế giới ngày nay đang sống trong quá trình toàn cầu hoá
mạnh mẽ, quá trình này thể hiện không chỉ trong lĩnh vực thơng mại mà cả lĩnh
vực sản xuất dịch vụ, tài chính đầu t cũng nh các lĩnh vực văn hoá, xã hội, môi
trờng với các hình thức và mức độ đa dạng khác nhau.
Toàn cầu hoá tạo ra mối quan hệ gắn bó, sự tuỳ thuộc lẫn nhau và những
tác động qua lại hết sức nhanh nhạy giữa các nền kinh tế. Thông qua quá trình
tự do hoá và thuận lợi hoá thơng mại dịch vụ đầu t, toàn cầu hóa tạo ra những
lợi thế mới thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, đẩy mạnh giao lu kinh tế giữa
các nớc, góp phần khai thác tối đa lợi thế so sánh của các nớc tham gia vào nền
kinh tế toàn cầu.
Quá trình toàn cầu hoá đang thúc đẩy mạnh mẽ sự hội nhập của các nớc
vào nền kinh tế thế giới và khu vực. Có thể nói, hiện nay hầu nh không có một
quốc gia nào đứng ngoài quá trình hội nhập nếu không muốn tự cô lập và rơi
vào nguy cơ tụt hậu.
Gắn liền với xu thế vận động chung của thế giới, Việt Nam cũng đang
thực hiện chuyển đổi cơ chế chính sách và thực hiện mở rộng các mối quan hệ
kinh tế với thế giới bên ngoài theo đờng lối đổi mới và mở cửa của Đảng nh đã
nêu tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Tuy nhiên, quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế Việt Nam mới đang ở giai đoạn đầu nên không thể một sớm
một chiều thích nghi dễ dàng với những thách thức khi tiến hành hội nhập quốc
tế. Thực tiễn cho thấy, hội nhập quốc tế là một xu thế tất yếu, song tiến trình tự
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 5 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
do hoá đầu t dịch vụ thơng mại và đặc biệt là tài chính ngân hàng phải đợc tiến
hành với những bớc đi phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế đất nớc,
phải tiến hành phát huy nội lực và nâng cao năng lực quản lý, phải thực hiện
nhiều quá trình tự cải cách hoàn thiện nâng cao sức cạnh tranh của mọi ngành
mọi lĩnh vực của nền kinh tế.
Quán triệt quan điểm hội nhập kinh tế quốc tế do Đại hội Đảng đề ra,
đồng thời nhận thức rõ xu thế của thời đại, ngành ngân hàng Việt Nam đã
không ngừng tiến hành những cải cách cần thiết: đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu
lại tình hình tài chính, lành mạnh hoá hoạt động tín dụng, tạo sức mạnh về vốn,
đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu t phát triển, mở rộng dịch vụ ngân hàng trên nền
tảng công nghệ hiện đại, đổi mới mô hình tổ chức, nâng cao hiệu quả kiểm tra,
kiểm soát, đảm bảo an toàn hệ thống tiến dần đến các chuẩn mực quốc tế.
Tuy đợc đánh giá là một trong những ngành năng động nhất trong việc
chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nhng ngành ngân hàng còn đứng trớc nhiều
khó khăn và thách thức không nhỏ: Thực trạng tài chính yếu, vốn Nhà nớc cấp
nhỏ, mô hình tổ chức truyền thống cha thực sự hớng tới khách hàng
Đề tài: Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam
là một nghiên cứu nhỏ của riêng cá nhân tôi về mặt lý luận và thực tiễn với hy
vọng sẽ trở thành một đóng góp cho quá trình cải tổ và hoàn thiện hệ thống
ngân hàng Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế.
Khoá luận bao gồm 3 chơng, chuơng 1 Tiến trình hội nhập quốc tế của
nền kinh tế Việt Nam và những cơ hội thách thức đối với lĩnh vực tài chính
ngân hàng giới thiệu khái quát về những hớng đi cụ thể trong tiến trình hội
nhập của nền kinh tế Việt Nam nói chung và của ngành ngân hàng nói riêng,
chơng 2 đi sâu phân tích về những tác động của hội nhập tới ngành ngân hàng,
và chơng 3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lợng những tác động của hội nhập
kinh tế quốc tế đến hệ thống Ngân hàng Việt Nam đề xuất một số biện pháp
cụ thể nhằm đa ngân hàng Việt Nam tiến nhanh và tiến kịp với hội nhập quốc
tế.
Khoá luận có sử dụng phơng pháp duy vật biện chứng kết hợp phơng pháp
so sánh, phân tích tổng hợp, đánh giá, bên cạnh đó, khoá luận còn sử dụng và
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 6 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
trích dẫn một số quan điểm của Đảng và Nhà nớc để khái quát, hệ thống và
khẳng định các kết quả nghiên cứu, các bảng biểu và số liệu để minh hoạ.
Phạm vi nghiên cứu của khoá luận bao gồm các vấn đề liên quan đến lý
luận về xu hớng toàn cầu hoá, hệ thống ngân hàng Việt Nam, các lý thuyết về
tài chính tiền tệ Đây là một vấn đề lớn và phức tạp, nhng do thời gian nghiên
cứu có hạn cũng nh năng lực của bản thân còn hạn chế cho nên khoá luận
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi rất mong nhận đợc sự chỉ bảo,
ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn để hoàn thiện hơn đề tài nghiên cứu của
mình.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy
giáo, cô giáo trờng đại học Ngoại Thơng, những ngời đã nâng đỡ, dìu dắt, trang
bị kiến thức cho tôi trong suốt những năm học qua, đặc biệt tôi xin chân thành
cảm ơn thầy giáo Phan Trần Trung Dũng, ngời đã nhiệt tình hớng dẫn tôi hoàn
thành khoá luận, và cuối cùng xin gửi lời cảm ơn tới Ngân hàng Ngoại thơng
Trung ơng đã hỗ trợ tôi trong việc cung cấp tài liệu.
Hà nội, ngày 17 tháng 11 năm 2003
Sinh viên thực hiện
Trần thị Thu Hà
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 7 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Chơng I
Tiến trình hội nhập quốc tế của kinh tế
Việt nam và những cơ hội, thách thức
đối với lĩnh vực tài chính ngân hàng
1. Định hớng mục tiêu tiến trình hội nhập kinh tế của
Đảng và Nhà nớc
Hội nhập kinh tế quốc tế là một phạm trù hiện nay đã không còn lạ lẫm
nếu không muốn nói là đã trở thành quen thuộc với mọi ngời dân Việt Nam.
Chủ trơng hội nhập kinh tế quốc tế đợc đề ra trong bối cảnh chúng ta đang
ở trong nền kinh tế thị trờng với sự can thiệp của Nhà nớc. Cách mạng khoa
học - kỹ thuật tiếp tục phát triển với tốc độ ngày càng cao, đặc biệt là công
nghệ thông tin. Cả thế giới và khu vực đang rộ lên những vấn đề bức xúc và
nóng bỏng nh toàn cầu hoá và kinh tế tri thức.
Các nớc lớn nhỏ đều dành quyền u tiên cho phát triển kinh tế, theo đuổi
chính sách kinh tế mở, tìm kiếm lợi ích của mình bằng những chính sách và
giải pháp riêng biệt.
Hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay là quá trình cạnh tranh giữa các nớc
có chế độ chính trị khác nhau, trình độ phát triển sản xuất khác nhau, diễn
ra trong khu vực và trên toàn thế giới, nhằm tranh giành thị trờng, phát
triển lực lợng sản xuất, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá, hiện đại hoá
tạo ra sự năng động và tăng trởng cho nền kinh tế thông qua các quan hệ
hợp tác, hiểu biết lẫn nhau và cùng có lợi. (Trích bài thuyết trình của Tiến sỹ
Nguyễn Trọng Điều, Phó trởng ban tổ chức Chính phủ tại hội thảo quán triệt
nghị quyết TW 07 về hội nhập kinh tế quốc tế 08/2002). Đây là một quá trình
vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa hội nhập vừa cạnh tranh vừa có nhiều cơ hội vừa
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 8 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
không ít thách thức, muốn chủ động hội nhập một cách hiệu quả thì Việt Nam
cần có sự chuẩn bị đầy đủ những điều kiện cần thiết về kinh tế, thể chế và nhân
lực
Vận hội thì lớn lao, nhng trở lại với thực trạng của mình, chúng ta cũng
không thể không nhận thấy là nguy cơ, thách thức cũng không nhỏ bé. Lợi ích
của hội nhập kinh tế quốc tế là rất lớn nếu chúng ta có cách thức quản lý đúng.
Đồng thời chúng ta cũng phải thừa nhận là hội nhập kinh tế quốc tế là gia tăng
rủi ro. Thực tế của tất cả các nớc, kể cả các nớc đang phát triển cho thấy: Trong
lĩnh vực kinh tế, hội nhập không phải chỉ toàn đợc mà không có thiệt. Điều
quan trọng là xét về tổng thể nền kinh tế thì cái đợc phải nhiều hơn cái thua
thiệt. Đó chính là cái mà chúng ta phải bàn phải tính và trong cái bàn, cái tính
đó phải rất thực tế, không mơ hồ cũng không quá lạc quan, song tình thế đã rõ
ràng: chúng ta đã và sẽ là một chủ thể trong cuộc chơi đó. Với AFTA chúng ta
đã có cả một lộ trình giảm thuế từ nay đến hết năm 2006; Hiệp định thơng mại
Việt Nam - Hoa Kỳ đã ký; chúng ta đang trong tiến trình gia nhập WTO và
hàng loạt vấn đề hội nhập khác từ khu vực đến toàn cầu.
Xu thế khách quan của toàn cầu hoá kinh tế và chủ trơng Việt Nam hội
nhập kinh tế quốc tế đã đợc khẳng định rõ trong nhiều nghị quyết của Đảng và
đã đợc triển khai trên thực tế.
Gần đây nhất Đại hội IX của Đảng đã xác định Đờng lối phát triển kinh
tế trong thời kỳ mới là: phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ nguồn lực
bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả,
bền vững. Nghị quyết 07 - NQ/TW đợc Bộ chính trị thông qua chính là sự kế
thừa, cụ thể hoá và triển khai các đờng lối của Đảng ta đề ra từ trớc đến nay,
đáp ứng kịp thời những yêu cầu khách quan của tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế của Việt Nam. Theo đó, mục tiêu của hội nhập kinh tế quốc tế là nhằm
mở rộng thị trờng, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, kiến thức quản lý để đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo hớng XHCN, thực hiện dân giàu, nớc
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 9 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trớc mắt là thực hiện những
nhiệm vụ nêu ra trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã hội năm 2001-2010 và
kế hoạch 5 năm 2001-2005.
Hội nhập kinh tế là sự nghiệp của toàn dân, trong qúa trình hội nhập
cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế của toàn
xã hội trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủ đạo. Bên cạnh đó, Thủ tớng
chính phủ cũng đã ký Quyết định số 37/2002/TTg ngày 14 tháng 3 năm 2002
về Chơng trình hành động của Chính phủ thực hiện hiệp định thơng mại Việt
Nam - Hoa Kỳ. Các chơng trình này là một bớc triển khai định hớng của Bộ
chính trị để nớc ta tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế trong thời kỳ
mới. Các chơng trình hành động cũng nêu rõ những nhiệm vụ cụ thể của Chính
phủ giao cho các bộ ngành địa phơng.
2. Tiến trình hội nhập của nền kinh tế Việt nam trong
thời gian qua
2.1. Vài nét về quá trình hội nhập của Việt nam.
Quá trình Việt nam hội nhập kinh tế quốc tế có lẽ đã đợc bắt đầu từ xa x-
a, khi những đoàn thuyền Đại Việt vợt biển tới các cảng Trung quốc, Chiêm
thành, Xiêm , để buôn bán, trao đổi hàng hoá. Các thơng cảng phố Hiến, Hội
An đã từng là những trung tâm buôn bán sầm uất mang hình hài của các khu
kinh tế mở thời hiện đại.
Gần hơn, trong lời kêu gọi Liên hợp quốc tháng 12/1946, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu ra chính sách đối ngoại của Việt nam Dân chủ Cộng hoà, trong đó có
những điểm hết sức tơng đồng với những gì mà chúng ta đang làm trong tiến
trình hội nhập kinh tế :
Đối với nớc dân chủ, nớc Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở
cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 10 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
a) Nớc Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu t của các nhà t bản, các
nhà kỹ thuật nớc ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình;
b) Nớc Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay, và đờng sá giao thông
cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế;
c) Nớc Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dới
sự lãnh đạo của Liên hợp quốc
Vào những năm 70, Việt Nam đã trở thành thành viên của một tổ chức
kinh tế đa phơng là Hội đồng tơng trợ kinh tế (khối SEV). Hợp tác với các nứơc
xã hội chủ nghĩa trong khuôn khổ SEV đã góp phần quan trọng vào công cuộc
xây dựng và bảo vệ đất nớc trong thời kỳ khôi phục và kinh tế sau chiến tranh
và quá độ lên CNXH. Tuy nhiên, trong cơ chế kế hoạch hoá, hợp tác trong SEV
mang nặng tính hình thức và bao cấp. Quan hệ thơng mại về phía Việt Nam chủ
yếu mang tính trợ giúp hoặc dới hình thức hàng đổi hàng.
Sau khi hệ thống XHCN Đông Âu sụp đổ, chúng ta tích cực đẩy mạnh quá
trình đổi mới trong nớc và thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa ph-
ơng hoá. Quan hệ thơng mại quốc tế đợc đẩy mạnh theo cơ chế mới: Cơ chế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa.
Từng bớc phá bỏ thế bao vây, cô lập , Việt Nam đã trở thành thành viên
của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam á (ASEAN), Diễn đàn hợp tác Châu á -
Thái Bình Dơng (APEC), Diễn đàn hợp tác kinh tế á - Âu (ASEM ), và tích
cực tham gia đàm phán gia nhập Tổ chức thơng mại thế giới WTO.
Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 170 nớc, quan hệ thơng
mại với trên 140 nớc, quan hệ đầu t với 70 nớc, đã ký 81 hiệp định thơng mại
trong đó có 3 thoả thuận đợc coi là quan trọng, có những yêu cầu, đòi hỏi cao,
mang tầm cỡ khu vực và quốc tế, đó là Hiệp định Thơng mại (HĐTM) Việt -
Mỹ, yêu cầu gia nhập WTO, và cam kết theo AFTA.
Tiến trình hội nhập của Việt nam:
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 11 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
Ngày tháng
năm
Sự kiện Tiến trình /Nội dung cam kết
1986 Bắt đầu thực hiện chính sách
đổi mới
12/1987 Ban hành Luật đầu t nớc ngoài
1992 Các nớc nối lại viện trợ cho
Việt nam
7/1993 Các tổ chức tài chính quốc tế
tiếp tục tài trợ cho Việt nam
2/1994 Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận đối với
Việt nam
1/1995 Nộp đơn gia nhập WTO Hiện nay là quan sát viên, đang
hoàn tất các vòng đàm phán để
trở thành hội viên chính thức
7/1995 Gia nhập ASEAN Thực hiện các cam kết theo lộ
trình AFTA, CEPT
3/1996 Tham gia diễn đàn hợp tác á-
âu(ASEM)
11/1998 Tham gia diễn đàn hợp tác
Kinh tế châu á -TBD(APEC)
7/2000 Ký kết HĐTM Việt -Mỹ
12/2000 Quốc hội 2 nớc chính thức
thông qua HĐTM Việt- Mỹ
Theo lộ trình
2.2. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ, cam kết gia nhập WTO, cam kết
theo AFTA và những cam kết cụ thể của Việt nam liên quan đến lĩnh vực
tài chính ngân hàng.
2.2.1. Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ.
Ngày 13/07/2000 đánh dấu một sự kiện quan trọng trong tiến trình hội
nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đó là sự ra đời của Hiệp định thơng mại
(HĐTM) Việt - Mỹ tại Washington, Hoa kỳ. Hiệp định này đã đợc Quốc hội
hai nớc phê chuẩn và có giá trị thi hành từ ngày 11/12/2001. Đây là kết quả của
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 12 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
hơn 4 năm đàm phán, đấu tranh giữa ta và Mỹ, là hiệp định song phơng đồ sộ
nhất, toàn diện nhất và cụ thể nhất trên cơ sở các tiêu chuẩn và nguyên tắc của
tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). HĐTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng với
Việt Nam, nó không chỉ mở ra quan hệ thơng mại bình thờng giữa Việt Nam và
Hoa Kỳ mà còn là mốc quan trọng để Việt Nam thực hiện đàm phán gia nhập
Tổ chức thơng mại thế giới WTO.
HĐTM Việt nam - Hoa Kỳ gồm 7 chơng.
Việt Nam có những cam kết trong lĩnh vực tài chính ngân hàng theo ch-
ơng III: Thơng mại dịch vụ. Dịch vụ tài chính - ngân hàng đợc coi là một bộ
phận trong Thơng mại dịch vụ. Trong mọi trờng hợp, các cam kết mang tính
nguyên tắc chung của HĐTM sẽ đợc áp dụng trừ một số quy định cụ thể đợc
nêu tại phụ lục G. Chơng III HĐTM định nghĩa các hình thức cung ứng dịch
vụ:
1) Cung cấp qua biên giới
Sử dụng ở nớc ngoài
Hiện diện thơng mại
Hiện diện thể nhân. Có hai hình thức đối xử là Đối xử Tối huệ
quốc và Đối xử quốc gia.
Liên quan đến lĩnh vực tài chính ngân hàng, HĐTM nêu 6 biện pháp đ-
ợc cam kết bao gồm:
1) Không hạn chế số lợng ngời cung cấp dịch vụ.
2) Không hạn chế về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ hay giá trị tài sản.
3) Không hạn chế về tổng số các hoạt động dịch vụ hoặc tổng số lợng dịch
vụ thể hiện theo đơn vị số lợng.
4) Không hạn chế về tổng số thể nhân đợc tuyển dụng trong một ngành
dịch vụ.
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 13 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Tác động của hội nhập quốc tế đến ngành ngân hàng Việt Nam - Trần Thị Thu Hà
5) Không áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc đòi hỏi phải có những hình
thức pháp lý cụ thể hay liên doanh để một nhà cung cấp dịch vụ đợc
cung ứng dịch vụ.
6) Không hạn chế sự tham gia vốn nớc ngoài dới hình thức hạn chế tỷ lệ tối
đa với cổ phần nớc ngoài, hoặc tổng giá trị từng khoản đầu t hoặc tổng
số đầu t.
Theo các cam kết của HĐTM, các nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể đ-
ợc phép kinh doanh đầy đủ các sản phẩm dịch vụ của một ngân hàng thơng mại
nh tiền gửi, tín dụng các loại, thuê mua tài chính, bảo lãnh, thanh toán, môi giới
tiền tệ, quản lý tài sản và giấy tờ có giá, v.v Ngoài ra, các nhà cung cấp dịch
vụ Hoa Kỳ có thể thực hiện các dịch vụ liên quan đến chứng khoán nh thanh
toán, kinh doanh chứng khoán (kể cả các sản phẩm tài chính phái sinh nh
Futures, Options, Swaps, Forward), tham gia phát hành mọi loại chứng khoán.
Các hình thức pháp lý nhà cung cấp dịch vụ Hoa Kỳ có thể hoạt động kinh
doanh bao gồm :
1) Chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ.
2) Ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ.
3) Ngân hàng con 100% vốn Hoa Kỳ.
4) Công ty thuê mua tài chính 100% vốn Hoa Kỳ.
5) Công ty thuê mua tài chính liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ.
Các định chế tài chính Hoa Kỳ phải tuân thủ các quy định sau:
1) Đối với chi nhánh ngân hàng Hoa Kỳ, phải có vốn do ngân hàng mẹ cấp
tối thiểu 15 triệu USD, và ngân hàng mẹ có văn bản cam kết chịu mọi
trách nhiệm tại thị trờng Việt Nam ;
2) Đối với Ngân hàng liên doanh Việt Nam - Hoa Kỳ, hay ngân hàng con
vốn 100% Hoa Kỳ, cần có vốn điều lệ tối thiểu 10 triệu USD;
3) Đối với công ty thuê mua tài chính 100% Hoa Kỳ hay liên doanh Việt
Nam - Hoa Kỳ cần có vốn điều lệ tối thiểu 5 triệu USD.
Khoa Kinh tế Ngoại Thơng - 14 - Tròng ĐH Ngoại Thơng Hà Nội
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét