Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Đỗ Hoàng Toàn và các cô chú
trong chi nhánh dược phẩm Văn giang đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn em để
em hoàn thành đề tài này trong thời gian tìm hiểu thực tế tại chi nhánh.
Do thời gian ngắn, trình độ có hạn lại chưa có nhiều kiến thức thực tế
trong lĩnh vực kinh doanh nên không tránh khỏỉ những thiếu sót. Em mong
nhận được sự góp ý của thầy và các cô chú trong chi nhánh dược phẩm Văn
giang để sự hiểu biết của em về lĩnh vực này được đầy đủ hơn.
5
Chương I
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA CỬA HÀNG BÁN THUỐC
PHỤC VỤ NHÂN DÂN.
I. QUAN ĐIỂM, CHỦ TRƯƠNG VỀ MẠNG LƯỚI CUNG ỨNG THUỐC.
1. Chính sách quốc gia về thuốc của Việt nam:
1.1. Các khái niệm cơ bản: [7]
Chính sách quốc gia về thuốc là tập hợp những chính sách riêng rẽ
liên quan đến thuốc thành một hệ thống hoàn chỉnh.
Chính sách quốc gia về thuốc là công cụ quản lý nhà nước về thuốc
nhằm đảm bảo cung cấp một cách tối ưu thuốc cho người bệnh và người tiêu
dùng, nhằm đạt được mục tiêu sức khoẻ cho mọi người. Chính sách quốc gia
về thuốc là chương trình hành động, là sự cam kết của chính phủ trong việc
phối hợp các ngành nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
1.2.Mục tiêu chính sách quốc gia về thuốc:
Bác Hồ đã dạy:"Mỗi công dân khoẻ mạnh là góp phần làm cho đất
nước khoẻ hơn”. Vì vậy chăm sóc sức khoẻ cho cộng đồng là một việc hết
sức quan trọng. Các chính sách quốc gia về thuốc ra đời đã kịp thời đáp ứng
nhu cầu đó của nhân dân.
Mục tiêu của chính sách quốc gia về thuốc đảm bảo cung ứng đủ
thuốc có chất lượng và giá cả phù hợp cho nhân dân.
Phục vụ thuốc tận tay người tiêu dùng bằng cách phát huy và hoàn
thiện mạng lưới cung ứng thuốc cho cộng đồng, chú trọng những vùng khó
khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa.
Đảm bảo chất lượng thuốc trong sản xuất tồn trữ và lưu thông.
Bên cạnh đó các chính sách quốc gia về thuốc còn nhằm tận dụng các
nguồn nhân lực để phát triển ngành công nghiệp dược đáp ứng nhu cầu về
6
thuốc chữa bệnh cho nhân dân như tổ chức lại ngành dược cho phù hợp với
qui chế mới, phát triển nguồn nhân lực dược phù hợp về cơ cấu, đủ về số
lượng và có trình độ chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp; đẩy mạnh
nghiên cứu khoa học về dược, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công
nghệ tiên tiến vào sản xuất, cung ứng và quản lý thuốc; đẩy mạnh hợp tác
liên ngành, liên doanh, hợp tác quốc tế và hợp tác khu vực trong lĩnh vực
dược.
1.3. Phần chính sách cụ thể:
* Về vấn đề sử dụng thuốc:
Chính sách để giúp người dân sử dụng thuốc an toàn và hợp lý đó là
“ chương trình thuốc thiết yếu và sử dụng thuốc hợp lý an toàn”. Cụ thể là:
Các quy định về thuốc thiết yếu cho các tuyến điều trị nhằm giúp cho
các tuyến sử dụng thuốc đúng, an toàn và sát thực tế, đạt hiệu quả cao và
kinh tế.
Quy định chế độ sử dụng thuốc kháng sinh nhằm chống hiện tượng
nhờn thuốc do thiếu hiểu biết khi dùng thuốc kháng sinh.
Biên soạn dược thuốc quốc gia Việt nam và quy định thống nhất danh
pháp thuốc.
Tiến hành thử nghiệm đánh giá thuốc một cách kỹ lưỡng để đảm bảo
sức khoẻ cho cộng đồng và an toàn cho người sử dụng. Qua đó loại bỏ
những thuốc có nhiều tác dụng phụ, những thuốc kém hiệu quả trong điều trị
bệnh ra khỏi công tác điều trị và lưu thông.
* Về vấn đề cung ứng, xuất nhập khẩu thuốc:
Trong tình hình hiện nay các doanh nghiệp dược nước ta muốn có chỗ
đứng trên thương trường thì phải được cải tổ, tổ chức lại ngành công nghiệp
dược theo hướng chuyên môn hoá hiện đại hoá. Đồng thời khuyến khích mọi
7
thành phần kinh tế tạo nguồn thuốc và nguyên liệu làm thuốc để xuất khẩu,
trên cơ sở đó tăng nhập khẩu các loại thuốc được phép lưu hành.
Bên cạnh đó quy định danh mục thuốc được lưu hành và đảm bảo
cung cấp đầy đủ thuốc thiết yếu cho công tác phòng và chữa bệnh cho nhân
dân.
* Về thuốc y học cổ truyền:
Xu hướng của nền y học hiện nay ở nước ta là đông tây y kết hợp và
trở về với các vị thuốc dân tộc. Do đó nhà nước đã có những chính sách
khuyến khích cho việc phát triển khai thác có chọn lọc các bài thuốc gia
truyền và các vị thuốc quí. Đẩy mạnh nghiên cứu các phương pháp chế biến
các loại cây, loại con làm thuốc nhằm tăng cường hiệu quả phòng chữa bệnh.
Xét duyệt để cho phép các loại thuốc y học cổ truyền trong nước và
nước ngoài được phép lưu hành. Ví dụ : cho phép các nhà thuốc đông y
trong nước có đủ điều kiện hành nghề được hoạt động, mở cửa cho phép các
nhà thuốc đông y Trung quốc được lưu hành tại Việt nam.
Có các chính sách tạo nguồn và bảo vệ nguồn dược liệu để sản xuất
thuốc.
*Về vấn đề đào tạo nhân lực dược:
Nhà nước có những chính sách nhằm nâng cao trình độ chuyên môn
của các cán bộ dược như:
Đầu tư thích hợp cho các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao chất lượng và
số lượng các loại cán bộ dược.
Cải tiến mục tiêu chương trình và nội dung đào tạo. Bên cạnh đó để
phù hợp với thời đại cần tiến hành đào tạo lại, đào tạo nâng cao theo chuyên
ngành để thực hiện tiêu chuẩn hoá cán bộ dược.
* Tăng cường công tác quản lý về dược.
8
Tiếp tục hoàn chỉnh, bổ sung, kiểm tra, thanh tra, xử lý việc thực hiện các
qui chế đã và sẽ ban hành.
* Thông tin về thuốc và giáo dục y tế.
Thực hiện cơ chế thông tin về thuốc đã ban hành để đảm bảo việc thông tin
về thuốc đúng luật và đúng cơ chế chuyên môn.
Tổ chức các hình thức thông tin, giáo dục những hiểu biết thông
thường về thuốc và sử dụng thuốc trong cộng đồng.
* Tổ chức lại ngành dược từ các cơ quan quản lý, sản xuất cung ứng,
xuất nhập khẩu, khoa dược bệnh viện…
* Nghiên cứu khoa học, hợp tác trong và ngoài nước về dược:
Trên các lĩnh vực sản xuất, cung ứng, sử dụng, kiểm tra chất lượng và
quản lý thuốc.
* Kinh tế, tài chính, giá thuốc:
Nhà nước sẽ giành tỉ lệ thích đáng về tài chính cho việc sản xuất, cung
ứng thuốc.
Có chính sách về giá thuốc thích hợp đảm bảo cho việc thực hiện
thành công chính sách quốc gia về thuốc ở Việt nam.
2. Quan điểm , chủ trương về thuốc ở Việt nam.
2.1. Những điều cơ bản về phân phối thuốc:
Trong mọi hoạt động xã hội, bất cứ ở lĩnh vực nào, nếu tổ chức và nội
dung không được xác định một cách vững chắc và ổn định trong một thời
gian tương đối dài, mà cứ mỗi lúc lại có sự đổi thay, hoặc có nhiều ngoại lệ,
thì hoạt động đó trở nên lộn xộn và khó đem đến một kết quả tích cực. Đối
với một ngành nào đó sau khi một đương lối chiến lựơc xây dựng và phát
triển được vạch rõ ràng, biện pháp tổ chức phải được đặt ra hàng đầu, đổi
mới là nội dung và kế hoạch cụ thể, việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ thực hiện
9
được nêu ra sau cùng. Riêng trong phạm vi tổ chức, các loại hình hoạt động
với mối liên hệ lẫn nhau và kết thành một hệ thống chặt chẽ là yêu cầu bức
thiết để có thể triển khai chiến lược.
Cho nên, nếu có hiện tượng thiếu ổn định, thiếu trật tự trong một lĩnh
vực, đầu tiên phải tìm nguyên nhân trong tổ chức.
Trong mấy năm qua, và mãi đến bay giờ dư luận và xã hội liên tục cho
rằng có sự “lộn xộn” trên mặt trận lưu thông phân phối thuốc men, nội bộ
ngành cũng có nhận định như vậy và rõ ràng là nhân dân không yên tâm.
Như vậy chắc trong tổ chức có điều gì chưa ổn, hãy xem xét xem lỗ hở ở chỗ
nào.
Mục tiêu chiến lược cơ bản của việc cung ứng thuốc men là với nhận
thức thuốc là hàng hoá đặc biệt, đưa thuốc có chất lượng cao tới tận tay
người bệnh, trong điều kiện hợp lý và đảm bảo an toàn, không nhầm lẫn, phù
hợp với khả năng tài chính của dân. Trong mọi hoàn cảnh, AN TOÀN là tiêu
chí cao nhất. Cung ứng trong cơ chế thị trường, tức là không bao cấp, mà
mua bán như đối với mọi hàng hoá khác, có bán buôn và bán lẻ.
Nhà nước lại không giữ độc quyền trong lĩnh vực này, nên các đơn vị
mua bán có cả trong và ngoài quốc doanh, hoạt động song song trong điều
kiện bình đẳng như nhau.
Mua bán thuốc là một hoạt động thương mại, tuy phụ thuộc vào cung
cầu, lợi nhuận được quan tâm trên hết, nhưng vì chế độ nước ta là chế độ vì
dân, hơn nữa thuốc chữa bệnh lại là nhu cầu vào bậc nhất của cuộc sống nên
cần có sự quản lý chặt chẽ về giá cả, thậm chí nhà nước còn phải có chính
sách hỗ trợ cho những vùng khó khăn, vùng sâu, miền núi, vùng dân tộc ít
người.
Cũng do tính chất hàng hoá đặc biệt, nên thuốc không phải bất cứ ai
cũng phân phối được, mà phải được giao cho dược sĩ là những cán bộ khoa
10
học kỹ thuật đượcđào tạo trong mục đích này với thời hạn 5 năm, để đảm
bảo an toàn cao nhất. Ngoài ra nguyên tắc phân công đã được qui định: Thầy
thuốc (bác sĩ) khám bệnh, định bệnh, chỉ định thuốc (tức cho toa); dược sĩ
căn cứ vào toa mà giao thuốc và bán thuốc.
Chất lượng thuốc men được xem là yếu tố quyết định kết quả điều trị,
đồng thời cũng là một trong những điều kiện an toàn, được hết sức coi trọng
nên đòi hỏi có những yêu cầu đặc biệt về sản xuất, tồn trữ, bản quản, giao
nhận theo dõi sử dụng phải được kiểm tra chặt chẽ, không để vi phạm.
Những điều nêu trên là những nguyên tắc chỉ đạo tổ chức và hoạt
động của việc cung ứng thuốc men, quốc doanh và tư nhân phải thực hiện
như nhau.
Tổ chức cơ sở trong lĩnh vực này là đơn vị bán lẻ được gọi là “hiệu
thuốc” nếu thuộc vốn Nhà nước (quốc doanh) là “nhà thuốc” nếu thuộc vốn
tư nhân. Hai loại đơn vị chỉ có một điểm khác nhau duy nhất là nguồn vốn,
còn mọi luật pháp, qui chế Nhà nước đều phải thực hiện như nhau; tuyệt đối
không thể có ưu tiên hay đặc cách nào khác cho loại đơn vị này hay loại đơn
vị kia, dù ngoài phố hay khuôn viên bệnh viện. Vì thiếu dược sĩ đại học, nên
Nhà nước có chấp nhận việc tổ chức những vùng nông thôn hẻo lánh các đại
lý, do một dược sĩ trung học phụ trách với một danh mục mặt hàng nhất định
phù hợp với nhu cầu của địa bàn và khả năng của dược sĩ.
Việc bán sỉ do các đơn vị sau đây đảm nhận:
+ Xí nghiệp dược phẩm (được gọi là công ty sản xuất bán những mặt
hàng do mình sản xuất ra. Ở các nước phát triển, xí nghiệp giao cho một
công ty riêng phụ trách.
+ Các công ty dược phẩm thuốc các loại hình (quốc doanh, cổ phần,
trách nhiệm hữu hạn)
+ Các công ty nhập khẩu cũng thuộc các loại hình
11
+ Các trung tâm bác sĩ ở các thành phố lớn nếu được xem là một giải
pháp tạm thời.
Những dược sĩ phụ trách các hiệu thuốc và nhà thuốc tham gia vào các
chi hội dược sĩ hành nghề của hội dược học, để cùng nhau thực hiện tự quản
về việc tuân thủ và chấp hành luật lệ và qui chế.
Tổ chức trên đây sau khi được khảo sát kỹ cần được ổn định và áp
dụng thường xuyên suốt trong cả nước. Trong thời gian ít nhất 5 năm. Nếu
giải quyết linh động, mỗi địa phương mỗi khác, mỗi lúc đều có sự thay đổi
theo một bối cảnh nào đó, lập tức sẽ xảy ra hiện tượng lộn xộn, ảnh hưởng
ngay đến kết quả của việc cung ứng và mục tiêu chiến lược sẽ không đạt
được. Do đó, nhất định cần hoàn thành tổ chức phân phối thuốc men theo
phương hướng nói trên.
2.2. Chủ trương về mạng lưới cung ứng thuốc:
Kể từ ngày nước nhà giành lại độc lập đến nay trải qua hơn sau mươi
năm dù trong giai đoạn chiến tranh hay khi cả nước đã hoàn toàn được độc
lập, giải phóng và thống nhất lúc nào Đảng và nhà nước cũng quan tâm xây
dựng một nền kinh tế nhân dân đặt vấn đề bảo vệ nâng cao sức khoẻ của dân
thành một chiến lược hàng đầu.
Sự nghiệp bảo vệ sức khoẻ luôn luôn gồm hai yêu cầu gắn bó mật
thiết với nhau; một mặt trăm lo việc xây dựng y tế cơ sở, mặt khác từng
bước tạo điều kiện để có những đơn vị phòng bệnh, chữa bệnh chuyên sâu
kịp với điều kiện phát triển của y học thế giới. Trong hai yêu cầu này y tế cơ
sở là vấn đề then chốt, vì trực tiếp với dân, phải đáp ứng tại chỗ hàng ngày
và nhanh chóng mọi nhu cầu về sức khoẻ cuả dân một cách bức thiết nhất. Y
tế cơ sở thực hiện tốt, sẽ tạo ra một mạng lưới vững chắc đảm bảo về cơ bản
sức khoẻ của dân, không làm gánh nặng cho các tuyến trên.
12
Cứ mỗi năm, có thêm những cố gắng mới với những thành quả mới.
Mạng lưới cung ứng thuốc cũng được mở rộng hơn (phục vụ đến từng thôn
bản, kể cả nông thôn và các vùng hẻo lánh, miền núi, xa xôi và hải đảo…).
Cơ sở vật chất được tăng cường, xây dựng mới thêm diện tích và nội dung
hoạt động. Đội ngũ cán bộ đông hơn với kiến thức năng lực và tinh thần
trách nhiệm được nâng cao không ngừng. Dân được phục vụ tốt hơn, nhiều
hơn không chỉ những người có điều kiện mà người nghèo cần được quan tâm
chăm sóc.
Đối với ngành dược, phải công nhận là từ xưa đến nay, chưa thời kỳ
nào thuốc men được dồi dào và phong phú như bây giờ, có thể nói là tràn
ngập thị trường, nơi nào cũng có, lúc nào cũng có, thành thị lại quá nhiều,
nông thôn ít hơn và càng ít hơn ở vùng sâu vùng xa. Từ sản xuất và phân
phối, mỗi mặt hàng đều có những tiến bộ đáng kể, so với trước về khoa học
cũng như về nội dung, chất lượng. Qui chế quản lý ngày càng đi sâu và cụ
thể và đã thành một hệ thống nhất. Độ an toàn về thuốc được quan tâm
nhiều hơn.
Một chính sách quốc gia cũng đã được ban hành để đạt công tác dược
vào hướng phát triển có nề nếp, vừa thuận lợi và an toàn cho dân, vừa có lợi
cho nền kinh tế quốc gia.
Nhìn chung, mọi người dân, dù ở thành phố, hay ở những nơi xa xôi,
hẻo lánh, đều mong được chăm sóc sức khoẻ như nhau đúng theo yêu cầu
của công bằng xã hội. Làm sao ai cũng được hưởng ai cũng như ai, dù ở mức
tối thiểu, những tiến bộ khoa học kỹ thuật mà thế giới đạt được, mà điều kiện
ở nước ta cho phép có được. Mong sao tỉ lệ các bệnh tật ngày càng giảm sút,
các dịch bệnh bị chặn đứng, bị đẩy lùi đến mức có bệnh bị thanh toán, không
còn đường trở lại. Với đà đó, mong sao tỉ lệ tử vong, nhất là tỉ lệ tử vong ở
13
trẻ em ngày càng được hạ xuống, để rồi người dân Việt nam ngày càng thêm
cường tráng, với yêu cầu cải tiến nòi giống như văn kiện của Đảng đã nêu ra.
Muốn vậy, mạng lưới y tế cung cấp thuốc ngày càng được mở rộng.
Từ thành thị đến nông thôn, đến vùng sâu vùng xa. Một đội ngũ cán bộ ngày
thêm đông đảo, ngày càng thêm thuần thục, và được đãi ngộ tốt hơn, lúc nào
cũng tận tuỵ với công cuộc bảo vệ sức khoẻ của nhân dân. Những cơ sở y tế
ngày càng khang trang, với những trang thiết bị hiện đại sẽ là chỗ dựa vững
chắc cho một nền y tế tiến bộ. Các phương pháp đề ra phòng bệnh đi đôi với
việc bảo vệ môi trường, việc phổ cập kiến thức ăn ở lành mạnh sẽ góp phần
không ngừng nâng cao sức khoẻ của nhân dân.
Một nền công nghiệp dược phẩm tiên tiến, hiện đại sẽ nhanh chóng
đuợc hình thành để cung cấp đầy đủ thuốc men cho dân, sao cho thuận lợi và
ai cũng có thể được hưởng.
II. VAI TRÒ CỦA CÁC CỬA HÀNG THUỐC:
1. Khái niệm hiệu thuốc: [7]
Hiệu thuốc là một đơn vị cung ứng thuốc và dụng cụ y tế cho công tác
phòng và chữa bệnh trực thuộc công ty dược phẩm hoặc xí nghiệp dược
phẩm và là đơn vị hạch toán kinh tế độc lập.
2. Vai trò , chức năng:
2.1.Vai trò: [7]
Hiệu thuốc có vai trò cung ứng thuốc phòng chữa bệnh và dụng cụ y tế
cho công tác phòng và chữa bệnh cho bệnh viện, bệnh xá và nhân dân trong
toàn huyện, và là nơi tiêu thụ thuốc cho các cơ sở sản xuất thuốc trong và
ngoài nước. Là cơ sở bán lẻ thuốc và dụng cụ y tế, phục vụ tận tay người tiêu
dùng (người bệnh) thông qua hệ thống các cửa hàng bán lẻ, các đại lý…
2.1.1Hoạt động kinh doanh thuốc.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét