Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
các loại, trong đó thịt lợn chiếm tới 76%. Hơn 90%
thịt lợn và trên 60% thịt gia cầm sản xuất ở các
nông hộ được tiêu thụ trên thị trường nội địa.
Tuy có tốc độ tăng trưởng cao, song cơ cấu tỷ
trọng thịt không thay đổi nhiều trong những năm
gần đây, dù tỷ trọng thịt lợn có tăng từ 73,5% năm
1990 lên 77% năm 2004, trọng lượng thịt gia cầm
tăng lên gần 16% trong tổng sản lương thịt so với
15% vào năm 1995.
Bên cạnh tình hình chăn nuôi lấy thịt, chăn
nuôi bồ sữa cũng phát triển mạnh trong những năm
gần đây và không chỉ cung cấp sưa tươi cho tiêu thụ
mà còn cung cấp cho các nhà máy chế biến sữa. Số
lượng bồ sữa tăng từ 11.000 con năm 1990 lên gần
80.000 con năm 2004, trong đó, bò cái sinh sản có
khoảng 50.000 con, bò sữa xấp xỉ 40.000.
Tuy nhiên, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn tồn
tại một số vấn đề.
http://tailieutonghop.com
5
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
K Thứ nhất, quy mô trang trại quá nhỏ. Xu
hướng phát triển các trang trại lợn công
nghiệp quy mô lớn là lực lượng xuất khẩu
chính. Số lượng các trang trại này tăng mạnh
từ năm 1996 đến năy. Năm 2003 cả nước có
khoảng 2.000 trang trại chăn nuôi.
Mặc dù vậy, tỉ lệ trang trại chăn nuôi còn nhỏ,
chỉ chiếm 2,9% trong tổng số trang trại các loại của
cả nước và phần lớn trang trại tập trung ở vùng
Đông Nam Bộ. Tỉ lệ nông dân nuôi trên 11 con lợn
chiếm chưa đến 2%. Phần lớn nông dân chỉ nuôi
dưới 3 con lợn.
d Thứ hai, năng suất nuôi lấy thịt của Việt Nam
còn tương đối thấp và tăng chậm trong vòng 10
trở lại đây. Tốc độ tăng trưởng bình quân của
sản lượng thịt tính trên đầu con chỉ đạt
7,7%/năm. Đây là tỷ lệ áp dụng giống cải tiến
thấp và chăn nuôi tận dụng (sử dụng thức ăn
thừa, thức ăn xanh, nguyên liệu thô).
http://tailieutonghop.com
6
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Bên cạnh đó, chất lượng thịt cua Việt Nam còn
thấp, biểu hiện ở tỉ lệ mỡ cao, bệnh dịch thường
xuyên xảy ra nhất là đại dịch cúm gia cầm gần đây.
1.1.2.Hiệu quả của sản xuất chăn nuôi
Nhìn chung, người chăn nuôi lợn Việt Nam có
lợi nhuận thấp. Với hình thức chăn nuôi quy mô
nhỏ, tận dụng, chi phí sản xuất cao, nông dân không
thể có thu phập cao. Trong hai năm 2003-2004, chi
phí sản xuất 1kg thịt lợn hơi vào khoảng
9.000-10.000 đồng. với giá trung bình trên
11.000dồng/kg, người chăn nuôi lợn chỉ lãi từ
700-1.000 đồng/kg.
Trong chi phí chăn nuôi lợn, chi phí dành cho
thức ăn chiếm từ 65%-70%. Tuy nhiên giá thức ăn
của Việt Nam quá cao với giá thế giới. Chưa nói
đến chất lượng, chi phí chăn nuôi cao đã làm giảm
khả năng cạnh tranh của thịt lợn Việt Nam.
http://tailieutonghop.com
7
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Giống như chăn nuôi lợn, người chăn nuôi gà
cũng gặp nhiều trở ngại, đặc biệt trong hai năm trở
lại đây khi dịch cúm gia cầm bùng phát. Cúm gà đã
gây thiệt hại lớn cho nuôi gia cầm. Ngay cả khi
không có dịch và giá cả hợp lý, người chăn nuôi gà
cũng chỉ có lãi rất ít. Chi phí sản xuất cho một kg
gà hơi khoảng 11.000-12.000 đồng. Với mức giá
bán 15.000đồng/kg thịt hơi, người dân sản xuất có
lãi trung bình trên 3.000 đồng/kg, tương đương với
6.000-7.000 đồng/kg. Tuy nhiên, nếu dịch bệnh xảy
ra, người nuôi gà có thể bị lỗ nặng. Chính vì vậy,
bên cạnh chi phí thức ăn, người chăn nuôi phải
quan tâm nhiều hơn vấn đề vệ sinh thú y, chuồng
trại.Chi phí thú y và chi phí khác cũng là gánh nặng
lớn đối với người dân.
1.2. NGÀNH SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI
1.2.1. Thị trường ngành công nghiệp chế biến
thức ăn gia súc và khách hàng
http://tailieutonghop.com
8
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Ngành chế biến thức ăn gia súc ở Việt Nam
phát triển nhanh và mạnh từ đầu thập kỷ 90 đặc biệt
từ năm 1994 đến nay. Do tác động tích cực của
chính sách đổi mới, khuyến khích đầu tư trong và
ngoài nước nên các nhà kinh doanh đã phát triển
mạnh vào ngành công nghiệp này.
Sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp đã
tăng đáng kể trong thập kỷ qua. Nếu năm 1992,
tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi mới đạt 65.000
tấn đến năm 2000 đạt 2.7.00.000 tấn và 2004 đạt
3.400.000 tấn đạt mức độ tăng trưởng bình quân
33,9% năm. Tỷ lệ thức ăn chăn nuôi công nghiệp
với tổng nhu cầu về lượng thức ăn tinh cho vật nuôi
cũng tăng đáng kể, nếu năm 1992 tỷ lệ này mới chỉ
đạt 1.2% thì đến năm 1995 con số đã là 13% và năm
2003 vươn lên trên 30%.
Nhu cầu về thức ăn công nghiệp cho gia súc,
gia cầm tăng bình quân 10-15% mỗi năm và năm
2003 đang ở mức xấp xỉ trên 8 triệu tấn. Trong khi
http://tailieutonghop.com
9
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
sản lương thức ăn hiện mới chỉ đạt trên 3 triệu
tấn/năm do vậy mới đáp ứng được khoảng 32-35%
nhu cầu. Như vậy, tiềm năng phát triển ngành thức
ăn công nghiệp là rất lớn. Chính vì vậy, những năm
qua ngành thức ăn công nghiệp chế biến thức ăn gia
súc phát triển mạnh cả về số lượng và máy cũng
như chủng loại thức ăn gia súc, gia cầm.
Cơ cấu, nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi
cũng rất đa dạng về công suất thiết kế, nhỏ nhất là
120 tấn/năm và lớn nhất 540.000 tấn/năm. Gần 2/3
máy có công suất dưới 10.000 tấn/năm nhưng chỉ
sản xuấy được 8,1% tổng số lượng thức ăn. có 12
nhà máy (8,7%) có công suất trên 100.000 tăn/năm
nhưng sản xuất tới 58,6% tổng số công suất của
toàn quốc. Những nhà máy này tuy có số lượng
không nhiều nhưng lại chiến ưu thế về vốn đầu tư
mở rộng sản xuất, công nghệ tiên tiến và tính
chuyên nghiệp trong kinh doanh cao nên đã làm
tăng tỷ trọng sản lượng. Chỉ có số ít các nhà máy
http://tailieutonghop.com
10
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
lớn chiếm tỷ trọng lớn lượng thức ăn gia súc nên
không tránh khỏi hiện tượng độc quyền và điều này
đã ảnh hưởng tới giá của thức ăn chăn nuôi.
Hình 1: Cơ cấu ác nhà máy thức ăn theo hình thức sở
hữu
62.0
53.6
21.0
23.2
12.0
16.7
5.0 6.5
0%
10%
20%
30%
40%
50%
60%
70%
80%
90%
100%
1999 2003
Tư nhân / TNHH Nhà nước Liên doanh / nước ngoài Công ty cổ phần
Nguồn: Cục khuyến nụng
http://tailieutonghop.com
11
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
Hình thức sở hữu phổ biến hiện nay là tư nhân/
công ty TNHH (53,6%), sau đó là sở hữu nhà nước
(23,2%) và công ty nước ngoài/liên doanh (16,7%),
thấp nhất là hình thức cổ phần (6,5%). Nếu so sánh
với kết quả điều tra năm 1999 thì không biến động
nhiều đối với hình thức sở hữu nướ ngoài mà có sự
giảm tỷ lệ sở hữu tư nhân xuống còn 53,6%, gia
tăng ở hình thức sở hữu liên doanh và nước ngoài
và nhà nước.
Mặc dù số lượng nhà máy nước ngoài có tỷ
trọng không lớn trong tổng số nhà máy nhưng lại
chiếm tới 61,9% tổng sản lượng thức ăn công
nghiệp (3.063 ngàn tăn/năm). Ngược lại, khối tư
nhân có tỷ trọng nhà máy lớn nhất nhưng cũng chỉ
chiếm 21,3% tổng sản lượng (1054,5ngàn tấn/năm),
số còn lại là do khối nhà nước và cổ phần (16,8%
sản lượng tương ứng với 830,5 ngàn tấn/năm). Điều
http://tailieutonghop.com
12
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
này càng chứng tỏ năng lực, khả năng cạnh tranh
yếu của các doanh nghiệp trong nước so với các
doanh nghiệp nước ngoài với các sản phẩm thức ăn
nổi tiếng như CP, Con Cò, AF, Cargill…
Ngành công nghiệp thức ăn chan nuôi bị chi
phối mạnh bởi một số công ty liên doanh và nước
ngoài. Các công ty trong nước có năng lực cạnh
tranh yếu hơn nhiều so với các công ty liên doanh
và nước ngoài khác. Hiện nay, Việt Nam cũng đã có
một số nhà máy chế biến thức ăn có quy mô lớn,dây
truyền hiện đại nhưng nhìn chung các công ty/nhà
máy tư nhân, quốc doanh trong nước vẫn còn yếu.
Do đặc thù khách hàng của ngành thức ăn gia
súc nói chung và của công ty nói riêng, sản phẩm
của ngành khác với những ngành khác, sản phẩm
sản xuất phục vụ đại đa số đối tượng là những
người chăn nuôi ở nông thôn với trình độ nhận thức
của họ còn rất hạn chế về kiến thức xã hội cũng như
http://tailieutonghop.com
13
Tài liệu được sưu tầm từ nguồn internet và chính tác giả chia sẻ
TaiLieuTongHop.Com - Kho tài liệu trực tuyến miễn phí
áp dụng khoa học kỹ thuật vào chăn nuôi cho
mình.Tuy nhiên lại dễ mất lòng tin vì thế khi xây
dựng và đưa ra các chính sách về quản trị kênh cần
phải nghiên cứu kỹ vấn đề này.
1.2.2. ĐỐI THỦ CẠNH TRANH
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay,
cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi giữa các
doanh nghiệp cùng ngành, cạnh tranh ở đây được
hiểu là cạnh tranh trên mọi lĩnh vực của doanh
nghiệp, vì thế việc chiếm lĩnh và cạnh tranh của các
kênh phân phối là tất nhiên. Việc cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp với nhau đã dẫn tới tình trạng
tranh chấp kênh, nó ảnh hưởng trực tiếp tới việc
thiết lập kênh và các chính sách đối với đại lý của
các doanh nghiệp. Công ty TNHH sản xuất thức ăn
gia súc Phương Đông là một công ty còn rất non trẻ,
trên thị trường hiện nay có rất nhiều đối thủ cạnh
tranh lớn như Con Cò, Heo Vàng, AF, CP,
DABACO đều là những doanh nghiệp có uy tín
trên thị trường và đều là những doanh nghiệp có
quy mô tương đối lớn. Hệ thống kênh phân phối của
những doanh nghiệp này hết sức rộng rãi vì vậy đã
gây khá nhiều khó khăn cho công ty trong việc xây
dựng hệ thống kênh phân phối, các kênh mà công ty
http://tailieutonghop.com
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét