Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
những hợp đồng bồi hoàn, 9% là những giao dịch có thanh toán bình hành, 8%
là nghiệp vụ chuyển nợ, chỉ có 4% là nghiệp vụ hàng đổi hàng
1.1.2.5. Xuất khẩu theo nghị định thư
Xuất khẩu theo nghị định thư là hình thức xuất khẩu hàng hoá (thường là trả
nợ) được ký theo nghị định thư giữa hai chính phủ. Xuất khẩu theo nghị định
thư có nhiều ưu điểm như khả năng thanh toán chắc chắn (do Nhà nước trả cho
đơn vị xuất khẩu), giá cả hàng hóa tương đối cao, việc sản xuất thu mua có
nhiều ưu tiên
Trên thực tế, hình thức này ít được áp dụng, chủ yếu là ở các nước XHCN trước
kia.
1.1.2.6. Xuất khẩu tại chỗ
Xuất khẩu tại chỗ là hình thức mới và đang phổ biến rộng rãi. Đặc điểm của
hình thức này là hàng hoá không bắt buộc vượt qua biên giới quốc gia mới đến
tay khách hàng. Do vậy giảm được chi phí cũng như rủi ro trong quá trình vận
chuyển và bảo quản hàng hoá. Các thủ tục trong hình thức này cũng đơn giản
hơn, trong nhiều trường hợp không nhất thiết phải có hợp đồng phụ trợ như:
hợp đồng vận tải, bảo hiểm hàng hoá, thủ tục hải quan.
1.1.2.7. Gia công quốc tế
Gia công quốc tế là một hoạt động kinh doanh thương mại trong đó một bên
(gọi là bên nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của
một bên khác (gọi là bên đặt gia công) để chế biến thành ra thành phẩm giao lại
cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là phí gia công). Như vậy, trong gia
công quốc tế hoạt động xuất nhập khẩu gắn liền với hoạt động sản xuất.
Gia công quốc tế ngày nay khá phổ biến trong buôn bán ngoại thương của nhiều
nước. Đối với bên đặt gia công, phương thức này giúp họ lợi dụng được giá rẻ
về nguyên liệu phụ và nhân công của nước nhận gia công. Đối với bên nhận gia
công, phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân lao
động trong nước hoặc nhận được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình,
nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc. Nhiều nước đang phát triển đã
nhờ vận dụng phương thức gia công quốc tế mà có được một nền công nghiệp
hiện đại, chẳng hạn như Hàn Quốc, Thái Lan, Xingapo
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 5
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
1.1.2.8. Tạm nhập, tái xuất
Tái xuất là lại xuất khẩu trở ra nước ngoài những hàng hóa trước đây đã
nhập khẩu, chưa qua chế biến ở nước tái xuất.
Giao dịch tái xuất bao gồm nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu về một số
ngoại tệ lớn hơn vốn bỏ ra ban đầu. Giao dịch này luôn luôn thu hút được ba
nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Vì vậy người ta gọi
giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên hay giao dịch tam giác (triangular
transaction).
Ưu điểm của hình thức này là doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao mà
không cần phải tổ chức sản xuất, đầu tư vào nhà xưởng, thiết bị, khả năng thu
hồi vốn cũng nhanh hơn.
1.1.2.9. Chuyển khẩu
Chuyển khẩu là hình thức mua hàng của nước này bán cho nước khác mà
không phải làm thủ tục xuất nhập khẩu.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu
1.1.3.1.Các yếu tố về kinh tế
Các yếu tố kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh xuất khẩu
hơn nữa các yếu tố này rấy tộng nên các doanh nghiệp có thể lựa chọn và phân
tích các yếu tố thiết thực nhất để đưa ra các biện pháp tác động cụ thể.
a. Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ của hàng xuất khẩu
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vị tiền tệ này thể hiện bằng một số đơn
vị tiền tệ của nước kia. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là nhân tố
quan trọng để doanh nghiệp đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động mua
bán hàng hoá quốc tế nói chung và hoạt động xuất khẩu nói riêng.
Tỷ giá hối đoái gồm tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá hối đoái được nêu trên các phương tiện
thôn tin đại chúng như báo chí, đài phát thanh, ti vi…do ngân hàng nhà nước
công bố hàng ngày.
Nếu tỷ giá hối đoái thực tế thấp hơn so với nước xuất khẩu và cao hơn so với
nước nhập khẩu thì lợi thế sẽ thuộc về nước xuất khẩu do giá nguyên liệu đầu
vào thấp hơn, chi phí nhân công rẻ hơn làm cho giá thành sản phẩm ở trong
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 6
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
nước xuất khẩu rẻ hơn so với nước nhập khẩu. Còn đối với nước nhập khẩu thì
cầu về hàng nhập khẩu sẽ tăng lên do phải mất chi phí lớn hơn để sản xuất hàng
hóa ở trong nước. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các nước xuất khẩu tăng
nhanh được các mặt hàng xuất khẩu của mình, do đó có thể tăng được lượng dự
trữ ngoại hối .
b. Mục tiêu
Thông qua mục tiêu và chiến lược phát triển kinh tế thì chính phủ có thể đưa
ra các chính sách khuyến khích hay hạn chế xuất nhập khẩu
c. Thuế quan, hạn ngạch và trợ cấp xuất khẩu
- Thuế quan
Thuế quan là loại thuế đánh vào từng đơn vị hàng xuất khẩu. Việc đánh thuế
được chính phủ ban hành nhằm quản lý xuất khẩu theo chiều hướng có lợi nhất
cho nền kinh tế trong nước và mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại. Công cụ
này thường áp dụng đối với một số mặt hàng nhằm hạn chế số lượng xuất khẩu
và bổ sung cho nguồn thu ngân sách.
- Hạn ngạch
Được coi là một công cụ chủ yếu cho hàng rào phi thuế quan, nó được hiểu như
quy đinh của nhà nước về số lượng tối đa của một mặt hàng hay của một nhóm
hàng được phép nhập khẩu trong một thời gian nhất định thông qua việc cấp
giấy phép.
- Trợ cấp xuất khẩu
Thực hiện chính sách trợ cấp xuất khẩu để tăng mức độ xuất khẩu hàng hóa của
nước mình, tạo điều kiện cho sản phẩm có sức cạnh tranh về giá trên thị trường
thế giới. Trợ cấp xuất khẩu sẽ làm tăng giá nội địa của hàng xuất khẩu, giảm
tiêu dùng trong nước nhưng tăng sản lượng và mức xuất khẩu.
1.1.3.2.Yếu tố xã hội
Hoạt động của con người luôn luôn tồn tại trong một điều kiện xã hội nhất
định.
Các yếu tố xã hội là tương đối rộng, do vậy để làm sáng tỏ ảnh hưởng của yếu tố
này có thể nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố văn hoá, đặc biệt là trong ký kết
hợp đồng.
Nên văn hoá tạo nên cách sống của mỗi cộng đồng sẽ quyết định các thức tiêu
dùng, thứ tự ưu tiên cho nhu cầu mong muốn được thoả mãn và cách thoả mãn
của con người sống trong đó. Chính vì vậy văn hoá là yếu tố chi phối lối sống nên
các nhà xuất khẩu luôn luôn phải qua tâm tìm hiểu yếu tố văn hoá ở các thị
trường mà mình tiên hành hoạt động xuất khẩu.
1.1.3.3.Yếu tố chính trị pháp luật
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 7
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Các yếu tố chính trị pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu:
các quy định của luật pháp đối với hoạt động xuất khẩu, các hiệp ước, hiệp đinh
thương mại mà quốc gia có doanh nghiệp xuất khẩu tham gia, các quy định
nhập khẩu của các quốc gia mà doanh nghiệp có quan hệ làm ăn, quy định về
giao dịch hợp đồng
1.1.3.4.Yếu tố về tự nhiên và công nghệ
Các yếu tố tự nhiên ; khoảng cách địa lý giữa các nước, vị trí của các nước.
thời gian thực hiện hợp đồng xuất khẩu, …
Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin cho phép
các nhà kinh doanh nắm bắt một cách chính xác và nhanh chóng thông tin, tọa
điều kiện thuận lwoi cho việc theo dõi, điều khiển hàng hóa xuất khẩu, tiết kiệm
chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu. Đòng thời yếu tố công nghệ còn
tác động đến quá trình sản xuất, gia công chế biến hàng hóa xuất khẩu, …
1.1.3.5.Yếu tố hạ tầng phục vụ cho hoạt động xuất khẩu
Các yếu tố hạ tầng phục vụ hoạt động xuất khẩu ảnh hưởng trực tiếp đến
xuất khẩu : hệ thống giao thông đặc biệt là hệ thống cảng biển, Hệ thống ngân
hàng,
Hệ thống bảo hiểm, kiểm tra chất lượng hàng hóa cho phép các hoạt động xuất
khẩu được thuwcjhieenj một cách an toàn hơn, giảm bớt được mức độ thiệt hạị
khi có rủi ro xảy ra.
1.1.3.6. Tình hình kinh tế-xã hôi thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Khi xuất khẩu hàng hoá từ nước này sang nước khác, người xuất khẩu phải
đỗi mặt với các hàng rào thuế quan, phi thuế quan. Mức độ lỏng lẻo hay chặt chẽ
của các hàng rào này phụ thuộc chủ yếu vào quan hệ kinh tế song phương giữa
hai nước nhập khẩu và xuất khẩu.
Ngày nay, đã và đang hình thành rất nhiều liên minh kinh tế ở các mức độ khác
nhau, nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương được ký kết với
mục tiêu đẩy mạnh hoạt động thương mại quốc tế. Nếu quốc gia nào tham gia
vào các liên minh kinh tế này hoặc ký kết các hiệp định thương mại thì sẽ có
nhiều thuận lợi trong hoạt động xuất khẩu của mình. Ngược lại, đó chính là rào
cản trong việc thâm nhập vào thị trường khu vực đó.
1.1.3.7. Nhu cầu của thị trường nước ngoài
Do khả năng sản xuất của nước nhập khẩu không đủ bù đắp để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng trong nước, hoặc do mặt hàng trong nước không đa dạng nên
không thỏa mãn được nhu cầu của người tiêu dùng nên cũng là một trong
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 8
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
những nhân tố để thúc đẩy xuất khẩu của nước có khả năng đáp ứng được nhu
cầu trong nước và cả nhu cầu nước ngoài.
1.1.3.8. Nhân tố thuộc về các doanh nghiệp
Tiềm lực doanh nghiệp: phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua
khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh , khả năng
phân phối có hiệu quả các nguồn vốn.
- Tiềm năng con người
- Trình độ tổ chức quản lý
-Trang thiết bị, công nghệ, bí quyết công nghệ của doanh nghiệp
- Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp
-Yếu tố cạnh tranh.
1.2. VAI TRÒ CỦA XUẤT KHẨU MÂY TRE ĐAN ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ VIỆT NAM
Việt nam ta là một nước nhỏ, nông nghiệp lạc hậu, là nước đứng trong danh
sách các nước nghèo có thu nhập thấp, vì vậy muốn tăng GDP/ đầu người để
theo kịp các nước trong khu vực và trên thế giới thì phải huy động nhiều nguồn
lực , tận dụng mọi tiềm năng, thế mạnh của đất nước trong đó đẩy mạnh sản
xuất, xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mây tre đan cũng là một hướng đi
đúng đắn, là biện pháp quan trọng để tăng kim ngạch xuất khẩu của cả nước,
đóng góp một phần ngoại tệ đáng kể cho ngân sách nhà nước . việc sản xuất
hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mây tre đan không cần nhiều vốn đầu tư lớn, lại
tận dụng được các lợi thế nguồn nguyên liệu sẵn có, cơ sở vật chất của mặt
hàng này không đòi hỏi quá cao, tận dụng được những trang thiết bị thô sơ nhỏ
lẻ, khắc phục được phần khó khăn mà chúng ta đang thiếu.
Với người lao động, xuất khẩu hàng mây tre đan làm tăng thêm thu nhập cho
người dân và giải quyết được thời gian lúc nông nhàn, tránh lãng phí nguồn
nhân lực sẵn có trong nước. Đây chính là lợi ích kinh tế to lớn và quan trọng mà
hoạt động kinh doanh sản xuất khẩu mây tre đan đem lại cho chúng ta.
Xuất khẩu hàng mây tre đan có tác dụng tạo công ăn việc làm cho đội ngũ
đông đảo người lao động, giải quyết chính sách lao động việc làm cho xã hội,
góp phần ổn định xã hội và phát triển kinh tế.
Xuất khẩu nhóm hàng mây tre đan làm thay đổi bộ mặt nông thôn, giảm dự
chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị. Thật vậy, từ hoạt động kinh
doanh của làng nghề, tạo nhu cầu giao lưu, đòi hỏi làng nghề phải có bộ mặt
mới, văn minh và hiện đại để thu hút khách hàng. Đường làng, ngõ xóm, nàh cửa
khang trang, quang cảnh làng quê nhộn nhịp, tạo nên khái niệm mô hình phố
làng, xóa dần rang giwosi giữa nông thôn, thành thị. Những mặt hàng tiêu dùng
như xe máy, ti vi, tủ lạnh, video,… cùng các tiện ích khác đã trở lên phố biến. Do
thu nhập cao, các làng nghề đã trở thành nơi tiêu thụ nhiều loại sản phẩm hàng
hóa tiêu dùng và xây dựng cơ sở hạ tầng, mở rộng thị trường nông thôn.
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 9
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Hơn nữa, xuất khẩu mây tre đan góp phần phát huy lợi thế về nguồn tài nguyên
thiên nhiên phong phú đa dạng của Việt nam.
Đặc biệt hơn nữa, xuất khẩu mây tre đan cũng là phương tiện , là hình thức để
gìn giữu nét văn hóa đặ trưng cảu làng, của dân tộc và giới thiệu cho bạn bè thế
giới thêm nhận thức và hiểu biết về cuộc sống và con người Việt. Đây chính là cơ
hội để Việt Nam tự khẳng định chỗ đứng của mình trên trường quốc tế.
Xuất khẩu mây tre đan tọa điều kiện để phát triển các ngành công nghiệp và các
ngành công nghiệp và các ngành kinh tế khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
tế, lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đây là nguồn thu khá
lớn, một mặt đảm bảo cuộc sống ổn định của người lao động, mặt khác tăng
thêm tích lũy vốn để phát triển các ngành nghề khác cần đầu tư lớn, công nghệ
hiện đại. Giá trị kim ngạch xuất khẩu thủ công mỹ nghệ cu thể năm Tổng kim
ngạch thu về từ hoạt động xuất khẩu nhóm hàng này trong cả quý I năm 2013
đạt khoảng 56 triệu USD, riêng trong tháng 3, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng
20 triệu USD còn trong tháng 2 xuất khẩu thực tế chỉ đạt trên 11 triệu USD góp
phần quan trọng để tăng khả năng nhập khẩu một số khối lượng lớn máy móc,
thiết bị, nguyên kiệu cho các ngành công nghiệp, góp phần đẩy mạnh nhanh quá
trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Từ đó lại tăng thêm điều kiện
thuận lợi để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công
nghiệp hóa - hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Trong tương lai, nhiều ngành
nghề, làng nghề còn là vệ tinh của các cơ sở công nghiệp hiện đại trong cả nước.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU MÂY TRE ĐAN CỦA VIỆT NAM (2009 –
2013)
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 10
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ MÂY TRE ĐAN VIỆT NAM
2.1.1. Đặc điểm
Hàng mây tre đan là mặt hàng truyền thống của dân tộc, qua thời gian với
đôi bàn tay khéo léo của mình, các nghệ nhân , thợ thủ công đã sang tạo ra
những sản phẩm độc đáo mang đậm đà bản sắc dân tộc. Hàng mây tre đan của
nước ta đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, được bạn bè ngoài nước quan tâm
và tin dùng.
Hàng hóa mây tre đan là mặt hang thể hiện rõ nét “Hàng hóa bán ra phải phù
hợp với nhu cầu và chỉ có thể bán ra được cho khách hàng cần nó”. Về mẫu mã
hàng hóa này không thể sản xuất hàng loạt, mà phải theo đơn đặt hàng mẫu mã
cụ thể mà khách hàng yêu cầu.
Hàng mây tre đan rất phong phú và đa dạng về mẫu mã màu sắc cũng như
nguyên liệu cấu thành sản phẩm.
Màu sắc hàng mây tre đan chủ yếu là màu tự nhiên, ngoài ra có thể quang dầu,
hun khói, hay điểm thêm màu sắc khác theo yêu cầu của thị trường.
Nguyên liệu của hàng mây tre đan chủ yếu là mây, tre, nữa, giang, guột, cói, lá
buông,…Các nguyên liệu này có sẵn mềm, dẻo, dài, song cũng rất cứng và chắc
bởi nó được dùng khi không qua non cũng không quá già.
Mây tre đan có điểm yếu là dễ mốc, một trong điều kiện không khí ẩm, chính vì
vậy mà hàng hóa được làm xong phải gia công sấy lưu huỳnh để chống mốc,
mọt và làm khô sản phẩm , luôn đảm bảo đồng bộ và thời gian sấy hợp lý. Với
hàng hun khói thì màu vàng phủ đều sản phẩm và cả lô hàng, nếu phải quang
dầu bóng thì luôn luôn dùng loại tốt, tránh bụi và các tạp chất dính vào sản
phẩm. Nếu nhuộm màu thì phải nhuộm màu không phai,…
Sản phẩm mây tre đan được làm từ đôi bàn tay khéo léo của các nghệ nhân, đây
là một trong những nét độc đáo của sản phẩm này.
Mặt hàng mây tre đan xuất khẩu có tính nghệ thuật cao, mỹ thuật cao, đẹp, bền
và rất tinh tế.Mặt hàng mấy tre đan này không tạo ra sự cứng nhắc, lạnh lùng,
thô cho không gian sống, nó luôn tạo cho người ta thấy được vẻ trang nhã,
mảnh mai, thanh thoát và lịch sự của các bộ bàn ghế, các giỏ, lãng hoa, các vật
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 11
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
trang trí nội thất bằng song mây, tre, nứa,… Các mặt hàng này ngày càng đẹp,
tinh xảo, và đã chiếm được chỗ đứng trên thị trường.
…
2.1.2. Đặc trưng
2.1.2.1. Đặc trưng về kỹ thuật công nghệ
Kỹ thuật thủ công thô sơ, công cụ sản xuất chủ yếu là chính công cụ do người
thợ thủ công tạo ra.
Công nghệ phụ thuộc vào kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề của người thợ nên tính chủ
quan của người thợ đối với sản phẩm lớn, công nghệ không thể thay thế hoàn
toàn bằng công nghệ hiện đại mà chỉ có thể thay thế ở một số khâu nhất định,
công nghệ chậm được cải tiến và thay thế.
Chính vì vậy mà chi phí sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ không lớn, do vậy có
diều kiện đầu tư phát triển khắp nơi. Từng hộ gia đình có thể bỏ ra vài triệu,
nhiều là vài chục triệu là có thể có máy móc để sử dụng. Do vậy có thể phát triển
và thực tế hiện nay có sở sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ đang có nhiều trong
cả nước.
2.1.2.2. Đặc trưng về kinh tế xã hội
Trong những năm gần đây, chiến lược phát triển kinh tế của nước ta là chú
trọng vào xuất khẩu những sản phẩm được coi là có lợi thế so sánh so với các
quốc gia khác. Với truyền thống văn hóa Á Đông lâu đời, có nhiều nét đặc sắc,
hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam, trong đó có những sản phẩm làm từ mây tre
đan, hiện đang đóng góp lượng lớn cho kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Mặt
khác, những năm gần đây với chiến lược phát triển kinh tế trên cơ sở mở rộng,
khôi phục sự phát triển của các làng nghề truyền thống nhằm cung ứng các sản
phẩm gia công, cung cấp lao động cho các công ty chuyên sản xuất đồ thủ công,
mỹ nghệ, nhà nước ta đã có những chính sách ưu đãi nhất định cho việc sản
xuất hàng thủ công mỹ nghệ, hàng mây tre đan.
Ngành nghề mây tre đan là một ngành mang tính truyền thống của nước ta, nó
mang tính gần gũi với người dân Việt Nam như một nét văn hóa Việt.
2.1.2.3. Đặc điểm về lao động
Mây tre đan là ngành có truyền thống lâu đời và có khả năng thu hút nhiều lao
động từ mọi lứa tuổi tham gia, sử dụng lao động dư thừa nhàn rỗi từ hoạt động
nông nghiệp, bởi nó có quy trình sản xuất không quá khó và gần như được
truyền từ đời này sang đời khác, người thợ sẽ làm hầu hết các khâu của hoạt
động tạo ra sản phẩm. Và Việt Nam chúng ta có lợi thế về phương diện này.
2.1.2.4.Đặc trưng về thị trường.
Thị trường cung ứng vật liệu: còn hết sức nhỏ hẹp, thông qua bán tại chỗ,
phương thức phục vụ theo kiểu cung cầu truyền thông, hoàn toàn dựa trên thỏa
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 12
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
thuận ngầm, cũng có những dịch vụ cung cấp theo hợp đồng lớn cho các hộ gia
đình và cơ sở sản xuất ở làng nghề.
Thị trường tiêu thụ sản phẩm: thị trường tại chỗ nhỏ hẹp, khả năng tiêu thụ còn
hạn chế và không ổn định, thị trường nước ngoài phong phú, rộng lớn, nhưng có
sự đòi hỏi khắt khe về chất lượng, chủng loại và sự thay đổi mẫu mã.
Giá thành: hàng thủ công mỹ nghệ có đặc trưng rất nổi bật đó là sản xuất ngày
càng nhiều thì giá thành cành có khả năng tăng cao. Có nhiều lý do nhưng một
trong những lý do chủ yếu là nguồn nguyên liệu thường không dồi dào, vẫn phải
khai thác tự nhiên nên khi sản xuất nhiều thì giá nguyên liệu cũng tăng theo vì
khan hiếm, công lao động của người thợ thủ công cũng tăng theo vì không dùng
lao động nông nhàn mà đi vào sản xuất chuyên nghiệp.
Đối với mặt hàng mây tre, nhất là mây tre mỹ nghệ hàng cao cấp giá không phải
là điều quan trọng, bởi giá bán thường luôn thấp hoặc hơn kém nhau không
đáng kể. Người tiêu dùng phải trả giá cao hơn giá buôn đến vài lần, chính vì vậy
chất lượng và mẫu mã mới là yếu tố quyết định.
Giá đầu vào và đầu ra của mặt hàng này cũng thường xuyên không ổn định, giá
đầu vào hay thay đổi là do nguồn nguyên liệu của nó là nguồn nguyên liệu mây
tre, số liệu hạn chế. Hiện nay nguồn nguyên liệu mây tre đan dần biến mất hay
phạm vi, diện tích đất trồng dần bị thu hẹp khi mà các nước đều đang trên con
đường tiến tới công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng làm cho giá cả của mặt hàng
này ngày càng tăng.
2.1.2.5. Đặc trưng về hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh
Hình thức hộ gia đình: Huy động và sử dụng được mọi thành viên trong gia
đình tham gia vào các công việc khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh,
tận dụng được thời gian lao động và mặt bằng sản xuất, quản lý dễ dàng. Tuy
nhiên, quy mô nhỏ, vốn ít hạn chế khả năng cải tiến và đổi mới kỹ thuật, hạn chế
việc đào tạo trình độ quản lý, kỹ thuật, và tay nghề.
Hình thức doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm, công ty cổ phần: là trung
tâm liên kết các hộ gia đình, thực hiện hợp đồng đặt hàng giải quyết đầu ra,
đầu vào cho hộ gia đình, tổ hợp tác hợp tác xã.
2.1.2.6. Đặc trưng về nguồn nguyên liệu
Mây tre đan được sản xuất bằng những nguyên liệu sẵn có có trong nước. Ở
nước ta, hầu như địa phương nào cũng có nguồn nguyên liệu để sản xuất hàng
mây tre đan . Các cơ sở sản xuất thường được bố trí ở những nơi gần nguồn
nguyên liệu nên chi phí vận chuyển nói chung không lớn. Nhu cầu nguyên liệu,
phụ kiện nhập khẩu để sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ chiếm tỉ lệ rất nhỏ,
thường chỉ chiếm khoảng từ 3%-5%, đây là thuận lợi lớn để hạ giá thành sản
phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của hàng thủ công mỹ nghệ - mây tre đan Việt
Nam trên thị trường thế giới.
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 13
Trường: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
2.2. TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU MÂY TRE ĐAN CỦA VIỆT NAM (2009 – 2013)
Theo thống kê, hiện có khoảng 30 doanh nghiệp chế biến, sản xuất hàng mây
tre đan xuất khẩu ở bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hòa Bình và Phú Thọ. Các thị
trường xuất khẩu chủ yếu cho nhóm các mặt hàng mây tre lá, thảm, sơn mài
của Việt Nam là Đức, Mỹ, Nhật Bản, Pháp, Tây Ban Nha và Đài Loan.
Tuy nhiên, chỉ có một vài doanh nghiệp (DN) có thể xuất khẩu trực tiếp cho các
nhà nhập khẩu và phân phối ở nước ngoài, như DN tư nhân Đình Triều, CTCP
Dương Thành Phú với các loại sản phẩm như giỏ tre đan, đũa tre, tăm tre, xiên
nướng bằng tre sang các thị trường Malaysia, Singapore, Đài Loan, Mỹ, Hàn
Quốc.
2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu mây tre đan qua các năm 2009 – 2013
2.2.1.1. Tình hình xuất nhập khẩu mặt hàng mây tre lá, thảm sơn mài
trong năm 2009.
Trong tháng 1/2009, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng mây tre đan của Việt Nam
đạt cao nhất với 5,2 triệu USD nhưng vẫn giảm 29,7% so với tháng trước và
giảm 26,7% so với cùng kỳ năm 2008. Đáng chú ý là mặc dù xuất khẩu các mặt
hàng mây tre đan của Việt Nam trong tháng 1/2009 đã giảm 29,7% so với
tháng trước nhưng trong đó vẫn có một số mặt hàng tăng giá khá mạnh so với
tháng trước như mặt hàng bàn ghế bằng tre đạt 1,18 triệu USD tăng 26,3%,
mặt hàng bát bằng tre đạt 355 nghìn USD tăng 66,5%; mặt hàng đĩa bằng tre
đạt 199 nghìn USD tăng 75,5%; mặt hàng thùng đan bằng tre đạt 67 nghìn USD
tăng 53,2% Các mặt hàng bằng tre xuất khẩu chính trong tháng 1/2009 là bàn
ghế bằng tre, mành, hộp tre, bình tre, bát tre.
Năm 2009, Việt Nam đã xuất khẩu sang 16 thị trường trong đó Đức là thị
trường xuất khẩu chủ yếu mặt hàng này của Việt Nam với kim ngạch đạt
29.268.429 USD, giảm 20,9% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 1,4 % tổng kim
ngạch xuất khẩu hàng hóa của cả nước sang thị trường này.
Mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này như: bát, đĩa tre, hộp tre, khay tre, bàn
ghế tre, kệ tre, rổ tre, giá sách , khung, thảm chùi chân, đồ chải bàn, đèn tre,bàn
tre, bàn mây,…và có xu hướng phân khúc đồ trang trí nội thất và cho ra đời
những dòng sản phẩm có chất lượng cao và độc đáo về thiết kế. Đứng thứ 2 là
thị trường Nhật Bản với kim ngạch đạt 26.227.912 USD, chiếm 0,4% tổng kim
ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản và giảm 15,8% so với cùng kỳ năm
ngoái.
( Số liệu từ Tổng cục Hải quan VN)
2.2.1.2. Xuất khẩu mây tre đan trong tháng 3 và 3 tháng đầu năm 2010
GVHD: GS.TS Đỗ Đức Bình
Sinh viên: Trần Thị Sen – CQ538624Page 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét