phân đoạn thị trường theo cấu trúc sẽ cho phép doanh nghiệp xác định rõ hơn
mục tiêu cần chiếm lĩnh trong tương lai và các biện pháp để thực hiện mục
tiêu đó. Cấu trúc của tập hợp khách hàng có thể phân tích theo nhiều giác độ
khác nhau , ở đây ta xét theo mức độ tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp
và lúc đó thị trường bao gồm các bộ phận hợp thành sau.
Nội dung các đoạn thị trường trong sơ đồ trên như sau:
a. Thị trường sản phẩm:
Sản phẩm ở đây được hiểu là một hay một nhóm sản phẩm cùng loại.
Nếu sản phẩm là vật phẩm tiêu dùng thì phải bắt đầu xét từ tổng thể dân cư
của vùng lãnh thổ đang xét còn nếu sản phẩm là tư liệu sản xuất thì phải bắt
đầu xét từ tổng thể các doanh nghiệp trong vùng đó có sử dụng loại tư liệu
sản xuất đó. Trước hết cần loại trừ ra tập hợp những người hoặc doanh
nghiệp khơng tiêu dùng tuyệt đối. Đây là những khách hàng mà trong mọi
trường hợp đều khơng quan tâm đến sản phẩm của doanh nghiệp vì những lý
do khác nhau như giới tính, lứa tuổi, nơi cư trú hoặc các đặc trưng cá biệt
khác. Sự loại trừ này cho ta thị trường lý thuyết về sản phẩm đang xét biểu
hiện số lượng khách hàng tối đa và số lượng tiêu dùng tối đa với sản phẩm
đó.
Tiếp theo cần xác định thị trường khơng tiêu dùng tương đối là tập hợp
những người hoặc doanh nghiệp hiện tại khơng tiêu dùng loại sản phẩm đó vì
nhiều lý do khác nhau, chẳng hạn:
-Vì thiếu thơng tin về sản phẩm
-Vì thiếu khả năng tài chính để tiêu dùng
-Vì chất lượng sản phẩm chưa đạt u cầu
-Vì thiếu mạng lưới cung ứng sản phẩm
-Vì thói quen và tập qn tiêu dùng.v.v
Việc xác định thị trường khơng tiêu dùng tương đối là khá khó khăn
song lại cần thiết đối với doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tìm ra những
ngun nhân khơng tiêu dùng của khách hàng để đưa ra các biện pháp khắc
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
phục (như tăng cường quảng cáo, giảm giá, bán chịu, mở rộng hệ thống phân
phối nhằm thu hẹp đoạn thị trường này.
Sau khi đã trừ ra thị trường khơng tiêu dùng tương đối ta được thị
trường hiện tại của sản phẩm đang xét, ở đây doanh nghiệp cần đặc biệt quan
tâm đến các yếu tố ảnh hưởng, đặc biệt là các đối thủ cạnh tranh. Đối thủ
cạnh tranh của doanh nghiệp có thể là những nhà sản xuất và kinh doanh
khác hoặc có thể là các sản phẩm có khả năng thay thế sản phẩm đang xét.
Đối với các doanh nghiệp việc tìm hiểu thị trường của đối thủ cạnh
tranh là rất khó song lại rất cần thiết nhằm tìm ra các biện pháp từng bước
chiếm lĩnh thị trường đó.
b. Thị trường của doanh nghiệp :
Thị trường sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp có thể được xác định
qua các báo cáo thống kê nội bộ của doanh nghiệp về số lượng khách hàng,
số lượng hàng hố bán ra và tình hình biến động của nó. Những khía cạnh
liên quan đến tập tính tiêu dùng thì phải xác định qua các cuộc điều tra thị
trường.
Thị trường tiềm năng lý thuyết là thị trường mà doang nghiệp có thể
chiếm lĩnh được nếu mọi điều kiện kinh doanh được liên kết lại một cách tối
ưu. Đó là mục tiêu mà doanh nghiệp phải chiếm lĩnh trong một thời gian dài.
Thị trường tiềm năng lý thuyết bao gồm 3 bộ phận:
- Thị trường hiện tại của doanh nghiệp
- Một phần thị trường của các đối thủ cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể hy
vọng chiếm lĩnh dần dần.
- Một phần thị trường khơng tiêu dùng tương đối có thể sẽ tiêu dùng sản
phẩm của doanh nghiệp.
Thị trường tiềm năng thực tế là sự thu hẹp của thị trường tiềm năng lý
thuyết sao cho nó mang tính hiện thực hơn trên cơ sở năng lực hiện có của
doanh nghiệp, các hạn chế về vốn và sự cản trở của các đổi thủ cạnh tranh.
Đó là mục tiêu mà doanh nghiệp cần xác định để chiếm lĩnh trong một thời
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
gian ngắn.Việc xác định một cách chính xác thị trường của doanh nghiệp và
cấu trúc của nó tạo điền kiện để các doanh nghiệp nhận thức rõ hơn những
mục tiêu cụ thể mà doanh nghiệp cần đạt tới và xác định những chính sách
kinh doanh tương ứng.
3. Nhu cầu thị trường quốc tế
Với định nghĩa “ thị trường quốc tế của doanh nghiệp là tập hợp khách
hàng nước ngồi tiềm năng của doanh nghiệp đó” thì trước hết và quan trọng
nhất là doanh nghiệp cần phải nắm được tập hợp khách hàng nước ngồi đó
cần sản phẩm gì cần bao nhiêu và cần như thế nào. Hiểu đầy đủ về nhu cầu
của khách hàng là cơ sở để doanh nghiệp tìm cách thảo mãn tối đa nhu cầu
đó. Hiển nhiện mục tiêu cuối cùng là bao trùm của mỗi doanh nghiệp là lợi
nhuận song lợi nhuận sẽ chỉ đạt được thơng qua việc thoả mãn tối đa nhu cầu
khách hàng vì thế mỗi doanh nghiệp phải lấy nhu cầu của khách hàng làm nội
dung chính của nghiên cứu thị trường.
Khi đề cập đến khái niệm nhu cầu cần phân biệt sự khác nhau giữa nhu
cầu thị trường và nhu cầu có khả năng thanh tốn. Kinh tế học chủ yếu quan
tâm đến nhu cầu có khả năng thanh tốn (cầu) được biểu hiện bằng “ số
lượng cầu của một loại hàng hố - khối lượng mà người mua sẵn sàng mua
trong một chu kỳ nào đó mà đòi hỏi được đáp ứng. Với điều liện cung cấp là
đầy đủ thì nhu cầu có khả năng thanh tốn được biểu hiện qua số lượng bán
thực tế của loại hàng hóa đó trong một chu kỳ nhất định.
Khái niệm nhu cầu thị truờng rộng hơn nhu cầu có khả năng thanh
tốn. Nó bao gồm cả nhu cầu và mong muốn của khách hàng tức là những cái
mà họ đã sẵn sàng mua và có thể sẽ mua nếu điều kiện cho phép.
Trên thực tế các doanh nghiệp khơng chỉ hoạt động một cách thụ động
theo sự hướng dẫn của khách hàng mà còn phải chủ động tác động trở lại
khách hàng, kích thích những nhu cầu mới. Do đó doanh nghiệp phải quan
tâm đến nhu cầu thị trường là chính để có biện pháp mong muốn của khách
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
hàng thành sức mua thực tế của họ. Như vậy nếu khách hàng là đối tượng thì
nhu cầu thị trường là chủ đề của nghiên cứu của thị trường.
Đối với các loại thị trường nước ngồi khác nhau, mức độ quan hệ của
các loại nhu cầu trên cũng khác nhau. Chẳng hạn đối với các sản phẩm thơng
thường nhất là nhu yếu phẩm và tại thị trường của các nước phát triển với
khả năng cung cấp dồi dào, thu nhập của khách hàng cao và mạng lưới phân
phối hồn chỉnh thì khối lượng của hàng hố bán ra vừa phản ánh nhu cầu có
khả năng thanh tốn vừa phản ánh nhu cầu thị trường. Các doanh nghiệp cần
chú ý đến điều này khi đánh giá độ tin cậy của các số liệu thống kê về thị
trường. Còn đối với những thị trường kém phát triển thì để nắm bắt nhu cầu
thị trường cần phải bổ xung bằng các phương pháp điều tra khác nữa vì các
số liệu thống kê chỉ phản ánh một phần nhu cầu thị trường mà thơi.
Ngay cả với thị trường nội địa thì nhu cầu thị trường cũng rất đa dạng,
phong phú, thay đổi rất nhanh chóng do sự tác động của rất nhiều nhân tố
mang tính vĩ mơ cũng như vi mơ khi mở rộng việc xem xét ra các thị trường
nước ngồi thì những đặc điểm lại càng trở nên rã hơn đòi hỏi doanh nghiệp
phải có những sự thích nghi đáng kể vì chính sách kinh doanh nhằm thoả
mãn tối đa những nhu cầu đa dạng và phong phú.
Cuối cùng nghiên cứu thị trường một cách tỉ mỉ và tồn diện cần phân
loại chúng theo những tiêu thức khác nhau để nhận biết được từng loại nhu
cầu. Trong thực tế tuỳ theo mục đích nghiên cứu có thể phân loại nhu cầu thị
trường theo các tiêu thức chủ ú sau:
- Theo nội dung vật chất của sản phẩm có nhu cầu về tư liệu sản xuất
và nhu cầu về vật phẩm tiêu dùng. Với tư liệu sản xuất thì u cầu về chủng
loại, phương thức phân phối và dịch vụ sảnphẩm sẽ khác so với nhu cầu về
vật phẩm tiêu dùng. Đối với nhu cầu về vật phẩm tiêu dùng thì tuỳ thuộc vào
đặc tính thoả mãn nhu cầu lại có thể tiêps tục phân loại thành nhu cầu về
hàng thiết yếu,hàng sử dụng lâu bền và hàng xa xỉ. Tính chất biến động của
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
các loại nhu cầu về vật phẩm tiêu dùng đòi hỏi phải có những phương pháp
phân tích khác nhau và những phương thức kinh doanh khác nhau.
3. Những nội dung cơ bản của việc nghiên cứu thị trường quốc tế.
Thị trường quốc tế chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác nhau,
thường là đa dạng và phong phú hơn nhiều so với thị trường nội địa. Các
nhân tố này thường là mang tính vĩ mơ (như các yếu tố mơi trường) và vi mơ
(như tập tính và phương thức hoạt đọng của thị trường ) có trường hợp được
thể hiện một cách rõ ràng song cũng có trường hợp rất tiềm ẩn, khó nắm bắt
đối với nhà kinh doanh nước ngồi. Việc định dạng đối với nhân tố này cho
phép doanh nghiệp xác định rõ những nội dung cần tiến hành nghiên cứu trên
thị trường quốc tế. Nó cũng là căn cứ để lựa chọn thị trường, cách thức thâm
nhập thị trường và các chính sách marketing khác. Một cách khái qt nhất,
việc nghiên cứu thị trường quốc tế được tiến hành theo các nhóm nhân tố ảnh
hưởnh sau:
+ Nghiên cứu các nhân tố mang tính tồn cầu
+ Nghiên cứu các nhân tố thuộc mơi trường kinh tế
+ Nghiên cứu các nhân tố thuộc mơi trường chính trị- luật pháp
+ Nghiên cứu các nhân tố thuộc mơi trường văn hóa
+ Nghiên cứu các nhân tố thuộc mơi trường cạnh tranh
+ Nghiên cứu nhu cầu thị trường
+ Nghiên cứu co cấu của thị trường
+ Nghiên cứu hành vi hiện thực và tập tính tinh thần của khách hàng
+ Nghiên cứu cách thức tổ chức của thị trường nước ngồi
+ Những nghiên cứu đặc biệt về khả năng lập xí nghiệp ở nước ngồi
II. THÂM NHẬP THỊ TRƯỜNG NƯỚC NGỒI.
Khi doanh ngiệp đã lựa chọn được một số thị trường nước ngồi làm
mục tiêu mở rộng hoạt động của mình thì doanh nghiệp phải tìm ra phương
thức tốt nhất để thâm nhập vào thị trường đó. Chiến lược thâm nhập vào một
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
thị truờng nước ngồi phải được xem như một kế hoạch tồn diện nó đặt ra
trước doanh nghiệp những mục tiêu, biện pháp và chính sách để hướng dẫn
hoạt động của doanh nghiệp trong một thời gian dài. Kế hoạch này cũng cần
dự phòng những mở rộng có thể có trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Khi xây dựng một chiến lược thâm nhập cần chú ý rằng mỗi thị trường
mục tiêu chỉ thích ứng với một vài cách thức thâm nhập mà thơi và mỗi sản
phẩm đều có những thị trường duy nhất cần đến nó. Bởi vậy, người quản lý
phải lập kế hoạch cho mỗi loại sản phẩm ở mỗi thị trường nước ngồi tức là
tính đến giới hạn của cặp sản phẩm – thị trường như là giới hạn quyết định .
Nhìn chung một chiến lược thâm nhập thị trường nước ngồi phải giải
quyết các nội dung sau:
+ Lựa chon kênh phân phối, các trung gian phân phối thích hợp với phương
thức thâm nhập đã lựa chọn.
+ Thiết lập và kiểm sốt mối liên hệ và và hoạt động của các kênh phân phối
đã lựa chọn
Sau đây ta xem xét một số vấn đề chủ yếu đặt ra trong việc lựa chọ
chiến lược thâm nhập thị trường nước ngồi.
1. Xuất khẩu
Phương thức đơn giản nhất để mở rộng hoạt động của doanh nghiệp ra
thị trường nước ngồi là thơng qua xuất khẩu. Ở đây cũng có hai cách tiếp
cận khác nhau. Xuất khẩu thụ động là một cấp độ hoạt động qua đó doanh
nghiệp thỉnh thoảng xuất khẩu số sản phâm dư thừa của mính sang một thị
trường đặc thù nào đó một cách lâu dài và có hệ thống. Trong cả hai cách tiếp
cận doanh nghiệp đều sản xuất tồn bộ sản phẩm của mình ở trong nước.
Doanh nghiệp có thể hoặc khơng có cải tiến gì về các mặt hàng, bao gói, về
tổ chức, các khoản đầu tư hay nhiệm vụ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp
có thể xuất khẩu sản phẩm của mình bằng hai cách là xuất khẩu gián tiếp và
xuất khẩu trực tiếp .
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
A. Xuất khẩu gián tiếp :
Xuất khẩu gián tiếp là hình thức khi doanh nghiệp thơng qua dịch vụ
của các tổ chức độc lập đặt ngay tại nước xuất khẩu để tiến hành xuất khẩu
sản phẩm của mình ra nước ngồi. Hình thức xuất khẩu gián tiếp khá phổ
biến ở những doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường quốc tế.
Ưu điểm:
Ít phải đầu tư, doanh nghiệp khơng phải triển khai một lực lượng bán
hàng ở nước ngồi cũng như các hoạt động giao tiếp và khuyếch trương ở
nước ngồi, và đồng thời hạn chế được các rủi ro có thể xảy ra ở thị trường
nước ngồi vì trách nhiệm bán hàng thuộc về trách nhiệm của tổ chức khác.
Nhược điểm:
Giảm lợi nhuận của doanh nghiệp do do phải chia sẻ với các tổ chức
tiêu thụ và do khơng có liên hệ trực tiếp với thị trường nước ngồi nên việc
nắm bắt thơng tin về thị trường nước ngồi bị hạn chế khơng thích ứng nhanh
được với các biến động của thị trường.
Hình thức xuất khẩu gián tiếp doanh nghiệp có thể các trung gian phân
phối sau đây:
+ Hãng bn xuất khẩu : là hãng bn bán nắm tại nước xuất khẩu,
mua hàng của người sản xuất sau đó bán lại cho khách hàng nước ngồi. Các
hãng bn xuất khẩu tiếp tục thực hiện tất cả các chức năng và chịu mọi rủi
ro liên quan đến việc xuất khẩu. Các nhà sản xuất thơng qua các hãng này để
thâm nhập thị trường nước ngồi. hãng bn xuất khẩu phải làm đầy đủ các
cơng việc của một nguời bán hàng như : tìm thị trường, xác định gía bán việc
sử dụng hãng bn xuất khẩu cũng có những ưu điểm và hạn chế.
Ưu điểm : Nhà sản xuất có bạn hàng ngay ở trong nước do vậy khơng
cần đến thị trường nước ngồi và khơng cần liên lạc với bạn hàng ở đó. Các
rủi ro đối với việc xuất khẩu là do hãng bn xuất khẩu chị. Người xuất khẩu
là do hãng bn xuất khẩu chịu. Người xuất khẩu được trả tiền giao hàng
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
ngay trong nước do vậy khơng phải lo các vấn đề vận tảỉ hàng ra nước ngồi,
chứng từ xuất khẩu và , tín dụng và thu tiền của khách hàng nước ngồi.
Các nhược điểm của hình thức này là:
- Người sản xuất sẽ khơng được tiếp xúc trực tiếp với các trung gian
phân phối và khách hàng ở nước ngồi do vậy họ sẽ khơng có được thơng tin
về lượng bán, khơng thể biết có cần thay đổi hay cải tiến sản phẩm hay
khơng.
- Khi giao cho hãng bn xuất khẩu chọn kênh phân phối và khách
hàng, nhà sản xuất sẽ khơng thể chọn được kênh có lợi nhất cho mình.
Nhà sản xuất sẽ khơng kiểm sốt được, thậm chí khơng thể tác động
được giá bán của hãng bn xuất khẩu và việc xuất khẩu có thể bị tổn hại do
hãng bn bán xuất khẩu đặt giá q cao hoặc q thấp.
Nhà sản xuất khơng thể gây thanh thế và uy tín với khách hàng và
người tiêu dùng vì khách hàng chỉ biết nhà sản xuất một cách gián tiếp qua
hãng bn xuất khẩu.
Một hình thức tương tự như các hãng bn xuất khẩu là các cơng ty
thương mại với nhiều loại hình tổ chức khác nhau như Tổng cơng ty thương
mại, cơng ty thương mại, các chi nhánh thương mại thuộc các cơng ty, ngân
hàng hoặc chi nhánh ngân hàng của cơng ty thương mại Tổng cơng ty thương
mại khác với các cơng ty đa quốc gia ở chỗ hoạt động đầu tư của họ, trên một
chừng mực nào đó, có sự liên hệ trực tiếp với thương mại với mục tiêu kích
thích bn bán quốc tế. Tổng cơng ty thương mại cũng khác với các loại
cơng ty khác vì chúng khơng định hướng ngay cho người tiêu dùng hay cho
nhà sản xuất. Chúng tìm ra những con đường để thoả mãn nhu cầu về hàng
hố và dịch vụ bằng vai trò trung gian trong bn bán hoặc định hướng cho
trào lưu bn bán một cách độc lập.
* Cơng ty quản lý xuất khẩu:
Cơng ty quản lý xuất khẩu hoạt động giống như một liên doanh xuất
khẩu, giải quyết các chức năng marketing xuất khẩu như nghiên cứu thị
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
trường, chọn kênh phân phối và khách hàng, tiến hành chương trình bán
hàng. Khác với hãng bn xuất khẩu, cơng ty quản lý xuất khẩu khơng bán
hàng trên danh nghĩa của mình mà tất cả các đơn chào hàng, lập đơn đặt
hàng, chun chở hàng, lập hố đơn và thu tiền đều được thực hiện với danh
nghĩa của nhà sản xuất. Thơng thường chính sách giá cả, các điều kiện bán
hàng, quảng cáo và ngân sách là do nhà sản xuất quyết định, cơng ty quản lý
xuất khẩu chỉ giữ vai trò cố vấn. Các dịch vụ của cơng ty quản lý xuất khẩu
được thanh tốn bằng hoa hồng ( thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm của giá trị
hàng bán) cộnh thêm một khoản tiền cố định hàng tháng hoặc hàng năm và
tiền thanh tốn cho các chi phí đã được thoả thuận (chi phí cơng tác, nghiên
cứu thị trường, quảng cáo ). Các cơng ty quản lý xuất khẩu có thể cùng một
lúc thực hiện hoạt động xuất khẩu nhân danh nhiều nhà sản xuất. Sử dụng
cơng ty quản lý xuất khẩu là cần thiết đối với các nhà sản xuất nhỏ chưa
thành lập được cơng ty xuất khẩu riêng của mình.
Việc sử dụng cơng ty quản lý xuất khẩu có ưu điểm hơn hãng bn
xuất khẩu là nhà sản xuất đã thâm nhập được phần nào vào thị trường, đã có
thể tác động và kiểm sốt việc bán hàng của trung gian phân phối. Tuy nhiên,
hình thức này vẫn còn hạn chế là nhà sản xuất ít có quan hệ trực tiếp với thị
trường nước ngồi và mức độ thành cơng của việc xuất khẩu chủ yếu phụ
thuộc vào dịch vụ của cơng ty quản lý xuất khẩu.
* Đại lý xuất khẩu:
Đại lý là một hãng hay cá nhân, theo một hợp đồng đặc biệt, bán hàng
với danh nghĩa của nhà sản xuất và được trả thù lao bằng hoa hồng. Quyền sở
hữu hàng hố được chuyển trực tiếp từ người sản xuất đến người mua hàng
khơng qua trung gian vào bất cứ lúc nào (tuy nhiên đại lý cũng có thể có
quyền sở hữu hàng hố nếu trên đường vận chuyển đến người mua hàng hố
phải qua kho của đại lý). Có nhiều kiểu đại lý khác nhau thực hiện xuất khẩu
gián tiếp. Những hình thức chủ yếu là :
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
+ Hãng xuất khẩu uỷ thác : Hãng xuất khẩu uỷ thác ( đại lý mua hàng
xuất khẩu ) là một tổ chức đại diện cho những người mua nước ngồi cư trú
tại nước của người xuất khẩu. Hoạt động của nó dựa trên các đơn đặt hàng
của khách hàng nước ngồi. Như vậy, hãng xuất khẩu uỷ thác hoạt động theo
sự quan tâm của người mua nên người mua có trách nhiệm phải trả tiền hoa
hồng. Nhà sản xuất khơng liên quan trực tiếp đến việc xác định thời gian mua
vì điều đó được uỷ thác và khách hàng nước ngồi quyết dịnh.
+ Hãng xuất khẩu uỷ thác căn cứ vào u cầu của khách hàng nước
ngồi, gửi các u cầu đó cho các nhà sản xuất để mời thầu và lựa chọn nhà
cung cấp.
Từ góc độ nhà sản xuất, sử dụng hình thức xuất khẩu này có nhiều ưu
điểm và tiện lợi : tiện lợi thanh tốn đúng hạn ngay tại trong nước, khơng
phải tham gia vào q trình vận động của hàng hố, rủi ro về tín dụng ít hơn.
Nhưng hạn chế nhất là nhà sản xuất có sự kiểm sốt rất mỏng manh đối với
hoạt động của trung gian phân phối.
+ Người mua thường trú : Về hoạt động người mua thườnh trú tương
tự như hãng uỷ thác xuất khẩu. Nó đại diện cho tất cả các loại người mua
nước ngồi và cư tru tại thị trường của nhà sản xuất song có liên hệ chặt chẽ,
thường xun hơn với các nhà sản xuất. Họ là những người được cử lâu dài
ra nước ngồi hoặc những người bản sứ được tuyển dụng làm đại diện. Sự
khác biệt cơ bản này so với hãng uỷ thác xuất khẩu tạo cơ hội tốt cho các
nhà sản xuất thành lập quan hệ làm ăn bền vững và liên tục với thị trường
nước ngồi.
+ Người mơi giới thương mại: Đó là những cá nhân hoặc cơng tythực
hiện chức năng giáp nối người mua và người bán tức là thực hiện chức năng
liên kết mà khơng thực sự sử lý việc mua bán hàng hóa Có thể phân biệt các
loại hình mơi giới theo hai tiêu chuẩn là cách thức trả cơng (tiền lời hoặc hoa
hồng ) và mức độ liên hệ trặt trẽ với nhà xuất khẩu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét