Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014
326 Một số kiến nghị, giải pháp cho các doanh nghiệp Thương mại Việt Nam tồn tại và đứng vững khi Việt Nam gia nhập WTO
CHƯƠNG 1: WTO VÀ KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ NHỮNG TÁC ĐỘNG
CƠ BẢN ĐẾN CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI CỦA MỘT SỐ NƯỚC
THÀNH VIÊN WTO
Ở chưng này, tác giả trình bày tổng quan về WTO như lịch sử hình thành,
nguyên tắc hoạt động và kinh nghiệm đối phó những tác động của một số nước
thành viên WTO có điều kiện tương đồng như Việt Nam, từ đó luận văn rút ra bài
học cho việt nam và những ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang phát triển như
Việt Nam
CHƯƠNG 2: DỰ BÀO NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN ĐẾN CÁC
DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Nội dung chương này, tác giả trình bày sự cần thiết của việc gia nhập WTO,
tiến trình gia nhập WTO của Việt Nam. Ngoài ra, luận văn cũng trình bày về tình
hình hoạt động thương mại của Việt Nam và các doanh nghiệp thương mại Việt
Nam, đánh giá những mặt còn tồn tại của các doanh nghiệp thương mại và dự báo
những tác động cơ bản đến các doanh nghiệp thương mại khi Việt Nam là thành
viên chính thức của WTO
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ CÁC DOANH
NGHIỆP TỒN TẠI VÀ ĐỨNG VỮNG KHI VIỆT NAM GIA NHẬP WTO
Từ những thành tựu và các mặt tồn tại của các doanh nghiệp thương mại cũng
như dự báo những tác động thuận lợi và không thuận lợi đến các doanh nghiệp
thương mại khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO, đồng thời dựa
vào quan điểm gai nhập WTO của Việt Nam, tác giả đưa ra một số kiến nghị, giải
pháp nhằm tận dụng thời cơ, hạn chế thách thức để Việt Nam nói chung và các
doanh nghiệp thương mại Việt Nam nói riêng nâng cao năng lực cạnh tranh và phát
triển bền vững.
CHƯƠNG 1:TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) VÀ
KINH NGHIỆM CỦA MỘT NƯỚC ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG
TÁC ĐỘNG KHI GIA NHẬP WTO
Nghiên cứu quá trình phát triển kinh tế của Việt Nam trong 10 năm gần đây
cho thấy rằng sự thành công kinh tế của Việt Nam phụ thuộc rất nhiều ở mức độ
tham gia của Việt Nam vào nền kinh tế của khu vực và thế giới. Chính phủ Việt
Nam của nhận thấy sự cần thiết và lợi lích khi tham gia vào hệ thống thương mại
thế giới mà Tổ chức thương mại thế giới (WTO) là tổ chức lớn nhất. Trước khi
chúng ta nghiên cứu về những tác động cơ bản đối với các doanh nghiệp thương
mại khi Việt Nam gia nhập WTO, trong chương này chúng ta sẽ nghiên cứu một số
vấn đề cơ bản sau:
- Tổ chức thương mại thế giới (WTO): Lịch sử hình thành, mục tiêu, chức
năng, các nguyên tắc cơ bản và một số ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang
phát triển
- Kinh nghiệm đối phó với những tác động đến các doanh nghiệp thương mại
của một số nước và từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam
1.1 TỔNG QUAN VỀ WTO
1.1.1 Lịch sử hình thành WTO
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) được thành lập và chính thức đi vào hoạt
động từ 1/1/1995, là kết quả của vòng đàm phán Uruguay kéo dài 8 năm (1986 –
1994). WTO ra đời nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới trong
xu thế toàn cầu hoá và là sự kế thừa của Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại (GATT).
GATT được thành lập năm 1947 với 23 nước tham gia, cùng nhau xây dựng
các Hiệp định về thuế quan và thương mại. Hiệp định của GATT bắt đầu có hiệu
lực từ ngày 1/1/1948 và đến hết năm 1994. Từ khi ra đời đến khi chuyển sang
WTO, GATT đã thực hiện 8 vòng đàm phán thương mại lớn về mậu dịch và thuế
quan (xem phụ lục 1: Tóm tắt các vòng đàm phán của GATT). Các vòng đàm phán
càng về sau càng tăng cả về quy mô, thời gian, số nước tham gia và lĩnh vực đàm
phán nên GATT với tư cách là một sự thỏa thuận có nhiều nội dung ký kết mang
tính chất tuỳ ý đã tỏ ra không thích hợp. Do đó ngày 15/4/1994 tại Marrakesh các
thành viên GATT đã ký ký Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) nhằm kế tục và phát triển sự nghiệp của GATT.
WTO là một thể chế pháp lý của hệ thống thương mại đa phương, WTO đưa ra
các nghĩa vụ có tính nguyên tắc để Chính phủ các nước thiết lập khuôn khỗ các luật
lệ và quy định thương mại trong nước phù hợp với nền thương mại thế giới.
Chỉ 10 năm sau khi thành lập đến nay WTO đã có tới 148 nước thành viên
chính thức, các thành viên WTO chiếm 85% tổng thương mại hàng hóa và 90%
thương mại dịch vụ toàn cầu.
Hiện nay WTO đang khởi động vòng đàm phán mới (Doha) nhằm tự do hóa
thương mại toàn cầu toàn diện và sâu sắc hơn. Lúc đó các nước muốn đàm phán gia
nhập WTO sẽ phải chịu những điều kiện ràng buộc cao hơn hiện nay. Vì vậy, nhiều
nước đang đẩy mạnh nhanh đàm phán để gia nhập trước khi Vòng đàm phán Doha
kết thúc.
* Sự khác biệt giữa WTO và GATT
- GATT là một loạt các quy định, Hiệp định đa biên mang tính tạm thời,
không có nền tảng về thể chế. Còn WTO với các Hiệp định của mình mang tính
thường trực lâu dài. Với tư cách là một tổ chức quốc tế, WTO có nền tảng pháp lý
vững chắc.
- Các quy định của GATT được áp dụng cho thương mại hàng hoá. Còn
WTO bao gồm thương mại hàng hoá, dịch vụ và các khía cạnh liên quan đến
thương mại như đầu tư, sở hữu trí tuệ.
- WTO có các thành viên còn GATT chỉ có các bên ký kết (vì GATT chỉ là
một Hiệp định)
- Cơ chế Giải quyết tranh chấp của WTO nhanh hơn so với cơ chế của
GATT. Nguyên tắc của GATT là phán quyết có hiệu lực khi được tất cả các thành
viên Đại hội đồng tán thành (đồng thuận), trong khi phán quyết của WTO chỉ vô
hiệu lực khi tất cả các thành viên đồng tình phản đối.
1.1.2 Mục tiêu hoạt động và chức năng của WTO
1.1.2.1 Mục tiêu hoạt động
WTO với tư cách là tổ chức thương mại của các nước trên thế giới, thực hiện
những mục tiêu trong lời nói đầu của Hiệp định GATT 1947. Cụ thể WTO có 3 mục
tiêu sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng thương mại hàng hoá và dịch vụ trên thế giới phục
vụ cho sự phát triển ổn định, bền vững và bảo vệ môi trường .
- Thúc đẩy sự phát triển các thể chế thị trường, Giải quyết các bất đồng và
tranh chấp thương mại giữa các nước thành viên trong khuôn khỗ của hệ thống
thương mại đa phương.
- Nâng cao mức sống, tạo công ăn việc làm cho người dân các nước thành
viên, bảo đảm các quyền và tiêu chuẩn lao động tối thiểu được tôn trọng.
1.1.2.2 Chức năng của WTO
- Thống nhất quản lý việc thực hiện các hiệp định và thoả thuận thương mại
đa phương, giám sát, tạo thuận lợi, kể cả trợ giúp kinh tế cho các thành viên thực
hiện các nghĩa vụ thương mại quốc tế cho họ, đồng thời thụ hưởng các quyền lợi
được quy định trong các Hiệp định đa phương.
- Tổ chức các vòng đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khỗ WTO
theo quyết định của Hội nghị Bộ trưởng của WTO. WTO là diễn đàn để thông qua
đó, các quốc gia thành viên tiến hành đàm phán về những vấn đề được quy định
trong các Hiệp định thương mại đa phương và về các vấn đề thương mại quốc tế.
- WTO tiến hành Giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên
quan đến việc thực hiện và Giải thích Hiệp định của WTO và các Hiệp định thương
mại đa phương và nhiều bên.
- WTO lập ra cơ chế để xem xét, kiểm soát chính sách thương mại của các
quốc gia thành viên, bảo đảm thực hiện mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và
tuân thủ các quy định của WTO.
- WTO thực hiện việc hợp tác với các tổ chức kinh tế- thương mại quốc tế
khác như Quỹ tiền tệ quốc tế và Ngân hàng thế giới trong việc hoạch định những
chính sách và dự báo về những xu hướng phát triển của kinh tế toàn cầu.
1.1.3 Những nguyên tắc hoạt động của WTO
1.1.3.1 Không phân biệt đối xử: Nguyên tắc này thể hiện qua hai quy chế
- Quy chế đãi ngộ tối huệ quốc (MFN): là quy chế mỗi nước thuộc WTO
phải giành cho sản phẩm nhập khẩu từ một quốc gia thành viên khác đối xử không
kém ưu đãi hơn so với sản phẩm nhập khẩu từ một quốc gia thứ ba.
- Quy chế đối xử quốc gia (NT): Là quy chế mà mỗi nước thành viên WTO
không giành cho sản phẩm nội địa (do các doanh nghiệp trong nước sản xuất)
những ưu đãi hơn so với sản phẩm nước ngoài (sản phẩm nhập khẩu hoặc sản phẩm
do các doanh nghiệp có vốn nước ngoài sản xuất) về các lĩnh vực như ưu đãi về
thuế, các điều kiện vệ sinh, kinh doanh,…
1.1.3.2 Thương mại ngày càng thuận lợi, tự do hơn thông qua đàm phán
Với nguyên tắc này đòi hỏi mỗi nước phải xây dựng lộ trình các giảm thuế và
các biện pháp phi quan thuế theo thỏa thuận đã thông qua ở các vòng đàm phán
song phương và đa phương để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tự do hoá
thương mại. Trong trường hợp này, mỗi nước phải xây dựng môi trường cạnh tranh
lành mạnh, bình đẳng giữa các sản phẩm trong nước và sản phẩm nhập khẩu.
1.1.3.3 Xây dựng môi trường kinh doanh dễ dự đoán
Với nguyên tắc này chính phủ của các nước thành viên thuộc WTO không thay
đổi cơ chế chính sách kinh tế, trong đó có hàng rào thương mại một cách tuỳ tiện,
gây khó khăn cho các doanh nghiệp và nhà nhập khẩu trong việc thực hiện các
chính sách kinh doanh dài hạn của mình.
1.1.3.4 Tạo ta môi trường cạnh tranh bình đẳng
Với nguyên tắc này chính phủ ở các quốc gia thuộc WTO ngoài việc thực hiện
nghiêm chỉnh hai cơ chế MFN và NT thì còn phải giảm việc áp dụng các biện pháp
cạnh tranh không bình đẳng như: trợ giá, tài trợ xuất khẩu,…hoặc áp dụng các biện
pháp giành đặc quyền đặc lợi trong kinh doanh cho một nhóm doanh nghiệp.
1.1.3.5 Dành cho các thành viên đang phát triển một số ưu đãi
WTO áp dụng nguyên tắc này thông qua các biện pháp:
- Giành ưu đãi về thuế nhập khẩu khi thâm nhập vào thị trường các nước
công nghiệp phát triển (GSP)
- Không phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của WTO như các nước công nghiệp
phát triển
- Thời gian quá độ để điều chỉnh chính sách kinh tế và thương mại phù hợp
với quy định của WTO dài hơn.
- Viện trợ về vốn kỹ thuật và bồi dưỡng nhân lực
- Cơ chế Giải quyết tranh chấp thương mại
1.1.4 Một số ưu đãi theo quy định của WTO dành cho các nước đang phát
triển
Từ nội dung nghiên cứu về Tổ chức thương mại thế giới (WTO), ta rút một số
ưu đãi mà WTO dành cho các nước đang phát triển như Việt Nam như sau:
* Hiệp định thành lập WTO
Trong Hiệp định này, WTO đã thể hiện mục đích của WTO là thúc đẩy sự phát
triển về kinh tế- thương mại của tất cả các thành viên. Các nước kém phát triển nhất
chỉ gánh vác các nghĩa vụ tương ứng với trình độ phát triển kinh tế của mình, thông
qua việc viện trợ và bồi dưỡng kỹ thuật đối với các nước đang phát triển để tăng
cường khả năng tham gia vào thể chế thương mại đa bên và thu được những lợi ích
đó. Vì vậy WTO đã thiết lập Uỷ ban thươngmại và phát triển, Diễn đàn thương mại
và phát triển, Trung tâm thương mại quốc tế để cung cấp các dịch vụ cho các nước
kém phát triển nhất và các nước đang phát triển
* Hiệp định về thuế quan- thương mại năm 1994
Dựa vào những quy định ở điều 12 và khoản 2 điều 18 trong Hiệp định này,
nếu thành viên là các nước đang phát triển xuất hiện tình trạng mất cân đối cán cân
thanh toán quốc tế thì có thể áp dụng biện pháp hạn chế số lượng xuất, nhập khẩu.
* Hiệp định về tự vệ
Khi một loại hàng hoá nào đó nhập khẩu với số lượng lớn tạo ra những tổn hại
nghiêm trọng hoặc đe doạ nghiêm trọng đến ngành sản xuất sản phẩm tương tự
trong nước thì nước đó có thể thực thi các biện pháp tự vệ. Theo Hiệp định này,
WTO cho phép các nước thành viên được áp dụng các biện pháp tự vệ tối đa là 4
năm. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn 1 lần đối với các nước phát triển
thời gian không quá 4 năm tiếp theo và đối với các nước đang phát triển không quá
6 năm. Như vậy tổng thời gian mà nước đang phát triển có thể áp dụng là 10 năm
* Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SDM)
Các nước kém phát triển và các nước đang phát triển có thu nhập quốc dân
dưới 1000 USD không cần phải hủy bỏ trợ cấp xuất khẩu cấm sử dụng, các nước
đang phát triển khác thì có thể huỷ bỏ dần dần loại trợ cấp này trong khoảng thời
gian 8 năm.
* Hiệp định về các biện pháp đầu tư có liên quan đến thương mại
(TRIMs)
Hiệp định quy định, thời kỳ quá độ 2 năm đối với các nước phát triển, nhưng
đối với các nước đang phát triển là 5 năm và các nước kém phát triển là 7 năm. Sau
khi hết thời kỳ quá độ sẽ được quyết định thông qua kết quả của cuộc đàm phán
* Hiệp định về thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu (ILP)
Theo Hiệp định này, các nước đang phát triển có thể kéo dài thời hạn 2 năm về
giấp phép tự động có liên quan trong trình tự cấp phép nhập khẩu
* Hiệp định về trị giá hải quan (CVA)
Thời kỳ quá độ mà các nước đang phát triển thực hiện Hiệp định này là 5 năm.
Hiệp định cũng yêu cầu các nước phát triển cung cấp viện trợ về kỹ thuật và bồi
dưỡng nhân viên cho các nước đang phát triển và các nước kém phát triển
* Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)
Các nước đang phát triển cũng có thể dựa vào tình hình kỹ thuật và kinh tế- xã
hội của mình để định ra những pháp quy, tiêu chuẩn và trình tự đánh giá đạt tiêu
chuẩn về kỹ thuật nào đó, mục đích là nhằm duy trì kỹ thuật, phương pháp sản xuất
và công nghệ tại chỗ sao cho thống nhất với những yêu cầu cần có cho sự phát triển
của họ. Các nước thành viên không được yêu cầu các nước đang phát triển áp dụng
tiêu chuẩn quốc tế không phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế thương mại của họ
* Hiệp định về việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)
Các nước phát triển không đựơc dùng các biện pháp kiểm dịch vệ sinh và động
thực vật để hạn chế việc xuất khẩu hàng hoá của các nước đang phát triển, phải cho
phép họ kéo dài thời kỳ quá độ
* Hiệp định về nông nghiệp
- Các nước đang phát tiển có thời kỳ quá độ là 8 năm đối với việc trợ cấp
xuất khẩu nông sản phẩm
- Các nước phát triển phải xem xét đến những nhu cầu và điều kiện đặc biệt
của các nước đang phát triển để tạo cơ hội và điều kiện thương mại cho các nông
sản phẩm đưa thâm nhập vào thị trường của các nước phát triển
* Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS)
- Các nước phát triển giúp đở các nước đang phát triển trong điều kiện
thương mại của họ mà không có đòi hỏi một sự đáp lại nào về sự nhượng bộ của các
nước đang phát triển trong thương lượng
- Các nước phát triển đưa ra một cở sở pháp lý vĩnh viễn cho sự nhượng bộ
thâm nhập thị trường của các nước này đối với các nước đang phát triển theo hệ
thống ưu đãi phỗ cập (GSP)
- Các nước đang phát triển thực hiện mở rộng từng bước thị trường dịch vụ-
thương mại, đồng thời thực hiện chính sách trợ cấp và bảo hộ ở mức độ nhất định
đối với ngành dịch vụ hay áp dụng các biện pháp bảo hộ nếu có những tổn thất
nghiêm trọng khi ngành dịch vụ nước ngoài xâm nhập vào ồ ạt
Ngoài ra, trong cơ chế đánh giá, xem xét các chính sách thương mại đều quy
định việc miễn giảm nghĩa vụ tới mức thấp nhất cho các nước đang phát triển và các
nước kém phát triển, các nước phát triển phải cố gắng và nổ lực tăng viện trợ về kỹ
thuật và bồi dưỡng nhân viên, tăng cường khả năng sử dụng thể chế mậu dịch đa
bên cho các nước đang phát triển, thúc đẩy sự phát triển kinh tế các nước này.
Trong cơ chế Giải quyết tranh chấp thương mại của WTO, Cơ quan giải quyết
tranh chấp của WTO (DSB) đã dành một số ưu đãi cho các nước đang phát triển khi
sử dụng cơ chế này như:
- Các nước đang phát triển có thể yêu cầu Tổng Giám đốc WTO làm trung
gian hoà Giải trong trường hợp có tranh chấp với các nước phát triển
- Trong thành phần của nhóm chuyên gia nhất thiết phải có một thành viên là
công dân của một nước đang phát triển, trừ khi nước đang phát triển có liên quan
không yêu cầu như vậy
- Thời gian để Giải quyết tranh chấp với các nước đang phát triển có thể
được kéo dài hơn so với quy định chung
- Các nước phát triển cần có Thái độ kiềm chế khi áp dụng các biện pháp trả
đũa đối với bên thua kiện là nước đang phát triển
1.2 KINH NGHIỆM ĐỐI PHÓ VỚI NHỮNG TÁC ĐỘNG CƠ BẢN CỦA
MỘT SỐ QUỐC GIA KHI GIA NHẬP WTO
Trong phần này đề tài sẽ nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước đã đạt được
thành công đáng kể trong việc có những chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp nói
chung và các doanh nghiệp thương mại nói riêng đối phó với những tác động cơ bản
khi hội nhập kinh tế quốc tế cũng như gia nhập WTO. Nguyên nhân để tác giả chọn
lọc nghiên cứu kim nghiệm của Trung Quốc và Nhật Bản là vì:
- Trung Quốc định hướng theo con đường xã hội chủ nghĩa; Trung Quốc
cũng đã có thời kỳ theo nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và hiện nay đang tích
cực trong việc chuyễn đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị
trường đồng thời các nước phát triển, cụ thể là Mỹ vẫn chưa thừa nhận Trung Quốc
có nền kinh tế thị trường; mặt khác nước ta có hơn ngàn năm bị Trung Quốc đô hộ
nên cũng đã bị ảnh hưởng ít, nhiều về phong tục tập quán, văn hóa, xã hội. Do đó,
hai nước Việt Nam và Trung Quốc tình hình đất nước tương tự giống nhau, cùng
chung một ý tưởng và mục tiêu phát triển, nên có nhiều kinh nghiệm có thể tham
khảo lẫn nhau
- Nhật Bản đã từng là nước có nền kinh tế nông nghiệp, phong kiến lạc hậu
và kép mình hàng ngàn năm. Từ giữa những năm 80, Nhật Bản đã từng bước mở
cửa và hội nhập với bên ngoài. Thực tế đã chứng minh, Nhật Bản đã có những bước
đi khôn khéo và đúng đắn phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế lúc đó để mở
cửa và hội nhập thành công, từ một nước không còn gì để mất sau chiến tranh thế
giới lần thứ hai trở thành một nước có tất cả, thậm chí còn vượt qua cường quốc
phát triển khác. Từ những kinh nghiệm có tính đột phá của Nhật Bản, chúng ta
nghiên cứu, tham khảo, kết hợp với tình hình kinh tế trong nước mà có thể rút ra bài
học cho Việt Nam
1.2.1 Trung Quốc
1.2.1.1 Tận dụng những tác động thuận lợi của việc gia nhập WTO
* Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thương mại tiếp cận nguồn vốn đầu
tư, tiếp thu trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến
Để các doanh nghiệp thương mại có điều kiện thuận lợi tiếp cận nguồn vốn
đầu tư, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước trên thế
giới. Trung Quốc đã thành lập các đặc khu kinh tế. Đặc khu kinh tế là vùng đất
được khoanh lại trong một quốc gia hay khu vực, hưởng các chính sách và chế độ
ưu đãi đặc biệt trong quy định hiến pháp và pháp luật
Các đặc khu kinh tế Trung Quốc đảm nhận chức năng là “cửa sổ” giao lưu với
thế giới trong các lĩnh vực thu hút vốn đầu tư, du nhập công nghệ kỹ thuật hiện đại,
tiếp thu kinh nghiệm và phương pháp quản lý tiên tiến của nước ngoài, mở rộng
buôn bán mậu dịch và hợp tác văn hoá khoa học,…Điều này, giúp cho các doanh
nghiệp thương mại có điều kiện tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiến tiến để nâng cao
hiệu quả hoạt động trong kinh doanh, đặt biệt là có được nguồn hàng chất lượng sản
phẩm cao, giá thành hạ từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
thương mại trên thị trường thế giới
Trung Quốc chủ trương trao quyền tự chủ cao cho chính quyền và các doanh
nghiệp thương mại ở đặc khu kinh tế. Chính quyền đặc khu có quyền ban hành các
quy chế mang tính pháp quy, phù hợp với tình hình và nhu cầu phát triển cụ thể; tự
xem xét, phê duyệt một số hạng mục, dự án đầu tư kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ
thuật mà không cần báo cáo lên trên, miễn là sự phê duyệt không trái với Hiến
pháp, pháp luật đã được ban hành. Tương tự, các doanh nghiệp thương mại trong
đặc khu cũng có được quyền tự chủ cao, không chịu sự trực tiếp của chính quyền
trong quá trình vận hành. Theo đó, chủ các doanh nghiệp thương mại hoàn toàn chủ
động, tự quyết định phương thức kinh doanh, quản lý nhân công, điều hành nguồn
vốn và tự chịu lãi về các hạng mục kinh doanh của mình. Đây là bước đột phá trong
việc cải cách, đổi mới cơ chế quản lý của Trung Quốc theo hướng rộng mở hơn.
Với những quy chế thông thoáng đó, việc sớm hình thành các đặc khu kinh tế đã
tạo ra nơi tập đợt cho các doanh nghiệp thương mại tăng khả năng cạnh tranh để
chuẩn bị vho việc gia nhập WTO của Trung Quốc vào năm 2002.
Những thành công mà các đặc khu kinh tế gặt hái trong quá trình giao lưu và
mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế theo phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá,
có thể khẳng định rằng đặc khu kinh tế Trung Quốc là một mô hình hướng ngoại
hiệu quả, góp phần quan trọng vào mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế nhất là việc gia
nhập WTO.
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét