PHẦN II
TÌNH HÌNH CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM VÀ QUẢN LÝ CHẤT
LƯỢNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI
MỚI
I. Sự đổi mới và hoàn thiện lý thuyết quản lý chất lượng trong các
doanh nghiệp.
Như phần I đã nói, thực trạng chất lượng sản phẩm và những khiếm
khuyết trong quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp Việt Nam thời kỳ bao
cấp là do nhiều nguyên nhân. Song một nguyên nhân rất quan trọng là do cơ
sở lý thuyết về quản lý chất lượng của chúng ta còn khiếm khuyết lạc hậu.
Chính vì vậy, để nâng cao chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp Việt
Nam trước hết các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước về chất lượng
phải có được nhận thưc đúng đắn trong vấn đề chất lượng. Sau đó chúng ta
phải đổi mới và xây dựng được cơ sở lý thuyết quản lý chất lượng khoa học,
phù hợp với tình hình chất lượng sản phẩm và trình độ quản lý chất lượng
hiện tại của chúng ta.
Hoạt động quản lý chất lượng đã tồn tại cùng với quá trình sản xuất của
con người từ hàng nghìn năm nay. Song nó chỉ trở thành một hoạt động chức
năng nằm ngoài sản xuất khi nền sản xuất thủ công phát triển mạnh trong các
công trường ở Châu Âu. Quản lý chất lượng trong cac doanh nghiệp dã trải
qua các giai đoạn từ kiểm tra chất lượng rồi kiểm soát bằng thông kê,tới đảm
bảo chất lượng, từ quản lý cục bộ tới quản lý tổng hợp (TQM) và quản lý theo
hệ thống (ISO 9000, HACCP).
Quá trình tiếp xúc, du nhập mạnh mẽ các phương thức quản lý chất
lượng tiên tiến của Tây Âu, Mỹ và Nhật Bản, cùng với sự kế thừa những điểm
phù hợp trong quản lý chất lượng thời bao cấp và những kinh nghiệm quý giá
rút ra trong 15 năm tực hiện kinh tế thị trường đã hình thành nên cơ sở lý
thuyết toàn diện về quản lý chất lượng của các doanh nghiệp Việt Nam. Có
thể khái quát cơ sở lý thuyết đó như sau:
5
1. lý thuyết về chất lượng sản phẩm
a. Khái niệm.
Có nhiều quan điểm về chất lượng sản phẩm song có một số quan điểm
cơ bản sau:
- Quan điểm tiếp cận theo sản xuất: Chất lượng sản phẩm là những đặc
trưng, đặc tính kinh tế kỹ thuật nội tại phản ánh giá trị sử dụng và chức năng
của sản phẩm đó, đáp ứng những yêu cầu định trước của sản phẩm trong
những điều kiện xác định về kinh tế - xã hội.
- Quan điểm tiếp cận theo người tiêu dùng: Chất lượng sản phẩm là sự
phù hợp với nhu cầu, với mục đích sử dụng của người tiêu dùng.
- Quan điểm của ISO 9002: Chất lượng sản phẩm là tổng thể các chỉ
tiêu, những đặc trưng kinh tế kỹ thuật của nó thể hiện được sự thoả mãn nhu
cầu trong những điều kiện tiêu dùng xác định, phù hợp với công dụng sản
phẩm mà người tiêu dùng mong muốn.
- Theo tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5841 - 1994 phù hợp với ISO/DIS
8402: Chất lượng là một tập hợp các đặc tính của một thực thể làm cho thực
thể đó có khả năng thoả mãn những nhu cầu đã nêu ra và những nhu cầu
tiềm ẩn.
b. Vai trò của sản phẩm.
Thực tế kinh doanh trong cơ chế thị trường cho thấy chất lượng sản
phẩm có vai trò ngày càng quan trọng và đang trở thành nhân tố quyết định sự
tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Điều đó thể hiện qua các điểm sau:
- Chất lượng sản phẩm làm tăng khả năng cạnh tranh và thể hiện sức
mạnh cạnh tranh của doanh nghiệp đó.
- Chất lượng sản phẩm nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thương
trường nhờ đó uy tín của doanh nghiệp được đảm bảo. Đó chính là cơ sở
quan trọng để doanh nghiệp phát triển một cách bền vững và lâu dài.
6
- Chất lượng sản phẩm có ý nghĩa làm tăng năng suất lao động, giảm
chi phí khi doanh nghiệp nâng một tỷ lệ chất lượng sản phẩm lên.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm có thể giúp cho người sử dụng tiết
kiệm được thời gian sức lực trong việc sử dụng vận hành và khai thác sản
phẩm. Đây là một giải pháp quan trọng tạo ra sự thống nhất lợi ích giữa người
sản xuất và người tiêu dùng.
- Nâng cao chất lượng sản phẩm là cơ sở quan trọng để tăng khả năng
xuất khẩu và khẳng định vị trí của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế
nói chung trên thị trường thế giới. Do đó làm tăng khả năng trúng thầu của
các doanh nghiệp.
b. Đặc điểm chất lượng.
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù kinh tế, xã hội, công nghệ tổng
hợp luôn thay đổi theo thời gian và không gian phụ thuộc chặt chẽ vào môi
trường và điều kiện kinh doanh cụ thể trong từng thời kỳ.
Mỗi sản phẩm được đặc trưng bằng các tính chất, đặc điểm riêng biệt nội
tại của bản thân sản phẩm. Những đặc tính đó phản ánh tính khách quan của
sản phẩm thể hiện trong quá trình hình thành và sử dụng sản phẩm. Những
đặc tính khách quan này phụ thuộc rất lớn vào trình độ thiết kế quy định cho
sản phẩm. Mỗi tính chất được biểu thị bằng các chỉ tiêu cơ lý hoá nhất định
cơ thể đo lường, đánh giá được. Vì vậy, nói đến chất lượng phải đánh giá
thông qua hệ thống chỉ tiêu, tiêu chuẩn cụ thể. Đặc điểm này khẳng định
những sai lầm cho rằng chất lượng sản phẩm là các chỉ tiêu không thể đo
lường, đánh giá được.
Nói đến chất lượng sản phẩm là phải xem xét sản phẩm đó thoả mãn đến
mức độ nào nhu cầu của khách hàng. Mức độ thoả mãn phụ thuộc rất lớn vào
chất lượng thiết kế và những tiêu chuẩn kỹ thuật đặt ra cho mỗi sản phẩm. ở
các nước tư bản qua phân tích thực tế chất lượng sản phẩm trong nhiều năm
qua người ta đi đến kết luận rằng chất lượng sản phẩm tốt hay xấu thì 75%
phụ thuộc vào giải pháp thiết kế, 20% phụ thuộc vào công tác kiểm tra kiểm
soát và chỉ có 5% phụ thuộc vào kết quả nghiệm thu cuối cùng.
7
Chất lượng sản phẩm còn mang tính dân tộc thể hiện ở truyền thống tiêu
dùng. Mỗi dân tộc, mỗi quốc gia, mỗi vùng đều có thị hiếu tiêu dùng khác
nhau. Một sản phẩm có thể được xem là tốt ở nơi này nhưng lại là không tốt,
không phù hợp với nơi khác. Trong kinh doanh không thể có chất lượng như
nhau cho tất cả các vùng mà căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể để đề ra các phương
án chất lượng cho phù hợp. Chất lượng chính là sự phù hợp về mọi mặt với
yêu cầu của khách hàng.
Chất lượng sản phẩm thể hiện ở hai cấp độ và phản ánh hai mặt khách
quan, chủ quan hay còn gọi là hai loại chất lượng:
+ Chất lượng trong tuân thủ thiết kế thể hiện ở mức độ sản phẩm đạt
được so với tiêu chuẩn thiết kế đề ra. Khi sản phẩm sản xuất ra có những đặc
tính kinh tế, kỹ thuật càng gần với tiêu chuẩn thiết kế thì chất lượng càng cao,
được phản ánh thông qua các chỉ tiêu như tỷ lệ phế phẩm, sản phẩm không
đạt yêu cầu thiết kế. Loại chất lượng này phản ánh những đặc tính bản chất
khách quan của s ản phẩm do đó liên quan chặt chẽ đếnkhả năng cạnh tranh
và chi phí.
+ Chất lượng trong sự phù hợp: Chất lượng phụ thuộc vào mức độ phù
hợp của sản phẩm thiết kế so với nhu cầu và mong muốn của khách hàng.
Mức độ phù hợp càng cao thì chất lượng càng cao. Chất lượng này phụ thuộc
vào mong muốn và sự đánh giá chủ quan của người tiêu dùng vì vậy nó tác
động mạnh mẽ đến khả năng tiêu thụ của sản phẩm.
c. Những nhân tố tác động đến chất lượng sản phẩm.
* Nhóm nhân tố bên ngoài.
- Nhu cầu thị trường.
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình quản lý chất lượng tạo lực hút
định hướng cho cải tiến và hoàn thiện chất lượng sản phẩm. Cơ cấu, tính
chất, đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu tác động trực tiếp đến chất
lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm có thể được đánh giá cao ở thị trường
nay nhưng lại không được đánh giá cao ở thị trường khác. Điều đó đòi hỏi
phải tiến hành nghiêm túc, thận trọng của công tác nghiên cứu thị trường,
phân tích môi trường kinh doanh, xác định chính xác nhận thức của khách
8
hàng, thói quen tuyền thống, phong tục, tập quán, văn hoá, lối sống, mục đích
sử dụng sản phẩm và khả năng thanh toán nhằm đưa ra những sản phẩm phù
hợp với từng loại thị trường.
Thông thường khi mức sống xã hội còn thấp, sản phẩm khan hiếm thì
yêu cầu của người tiêu dùng chưa cao, người ta chưa quan tâm tới chất lượng
sản phẩm. Nhưng khi đời sống xã hội được cải thiện thì đòi hỏi về chất lượng
snả phẩm sẽ nâng cao, ngoài tính năng sử dụng còn có cả giá trị thẩm mỹ.
Người tiêu dùng có thể chấp nhận giá cao để có được những sản phẩm ưng ý.
Chính vì vậy, các nhà sản xuất phải sản xuất những sản phẩm có chất
lượng đáp ứng được nhu cầu thị trường. Lúc đó, việc nâng cao chất lượng sản
phẩm mới đi đúng hướng.
- Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ
Trong thời đại ngày nay không có sự tiến bộ kinh tế, xã hội nào lại
không gắn liền với tiến bộ khoa hoa công nghệ trên thế giới. Bắt đầu từ cuộc
cách mạng khoa học lần thứ nhất, chủng loại và chất lượng sản phẩm không
ngừng thay đổi với tốc độ tương đối nhanh. Tiến bộ khoa học công nghệ có
tác động như một lực đẩy tạo khả năng đưa chất lượng sản phẩm không
ngừng tăng lên. Nhờ khả năng to lớn của tiến bộ khoa học công nghệ đã sáng
chế ra những sản phẩm mới, tạo ra và đưa vào sản xuất với công nghệ mới có
các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cao hơn, thay thế nguyên liệu mới tốt hơn và rẻ
hơn, hình thành phương pháp và phương tiện kỹ thuật quản trị tiên tiến góp
phần giảm chi phí đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm, rút ngắn chu kỳ
sống sản phẩm, chu kỳ sản xuất kinh doanh.
- Cơ chế quản lý.
Khả năng cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm của mỗi doanh
nghiệp phụ thuộc rất chặt chẽ vào cơ chế quản lý của mỗi nước. Cơ chế quản
lý vừa là môi trường vừa là điều kiện cần thiết tác động đến phương hướng,
tốc độ cải tiến và nâng cao chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Kế
hoạch hoá phát triển kinh tế cho phép xác định trình độ chất lượng và mức độ
chất lượng tối ưu, xác định cơ cấu mặt hàng, xây dựng chiến lược con người
trong tổ chức phù hợp với đường lối phát triển chung.
9
Hệ thống giá cả cho phép các doanh nghiệp xác định đúng giá trị sản
phẩm của mình, doanh nghiệp có thể xây dựng các chiến lược cạnh tranh và
tìm mọi cách nâng cao chất lượng sản phẩm mà không sợ bị chèn ép về giá.
Chính sách đầu tư quyết định quy mô và hướng phát triển sản xuất. Dựa
vào đó các nhà sản xuất có kế hoạch đầu tư cho công nghệ, huấn luyện đào
tạo để nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Chính sách thương mại về chất lượng, tổ chức hệ thống quản lý chất
lượng đều có những vai trò nhất định đối với chất lượng sản phẩm của các
doanh nghiệp.
Tóm lại, thông qua cơ chế, chính sách quản lý vĩ mô của Nhà nước tạo
điều kiện kích thích :
- Tính độc lập, tự chủ sáng tạo trong cải tiến chất lượng sản phẩm ở các
doanh nghiệp.
- Hình thành môi trường thuận lợi cho việc huy động công nghệ mới,
tiếp thu ứng dụng những phương pháp quản trị chất lượng hiện đại.
- Sự cạnh tranh công bằng, lành mạnh, xoá bỏ sức ỳ và tâm lý ỷ lại,
không ngừng phát huy sáng kiến cải tiến hoàn thiện chất lượng sản phẩm.
* Nhóm nhân tố bên trong.
- Lực lượng lao động trong doanh nghiệp.
Đây là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng sản phẩm. Cho
dù trình độ công nghệ có hiện đại đến đâu nhân tố con người vẫn được coi là
nhân tố căn bản nhất tác động đến chất lượng các hoạt động sản xuất sản
phẩm và các hoạt động dịch vụ. Trình độ chuyên môn, tay nghề kinh nghiệm,
ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích
ứng với sự thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp
tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Sự thành công hay thất bại của
doanh nghiệp trước hết phụ thuộc vào chất lượng của tập thể những người lao
động mà đứng đầu là người lãnh đạo của doanh nghiệp.
Quan tâm đầu tư phát triển và không ngừng nâng cao trách nhiệm và
trình độ nguồn nhân lực là nhiệm vụ quan trọng trong quản lý chất lượng của
10
các doanh nghiệp. Đó cũng là con đường quan trọng nhất nâng cao khả năng
cạnh tranh về chất lượng của mỗi quốc gia.
- Khả năng về công nghệ máy móc thiết bị của doanh nghiệp.
Đối với mỗi doanh nghiệp, công nghệ luôn là một trong những yếu tố cơ
bản có tác động mạnh mẽ đến chất lượng sản phẩm. Mức độ chất lượng sản
phẩm trong mỗi doanh nghiệp phụ thuộc rấta lớn vào trình độ hiện đại, cơ cấu
đồng bộ, tình hình bảo dưỡng duy trì khả năng làm việc theo thời gian của
máy móc thiết bị công nghệ, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hoá cao,
dây chuyền và tính chất sản xuất hàng loạt. Trình độ công nghệ của cãc doanh
nghiệp không tách rời trình độ công nghệ trên thế giới. Muốn sản phẩm có
chất lượng đủ khả năng cạnh tranh trên thị trường đặc biệt là thị trường quốc
tế mỗi doanh nghiệp cần có chính sách công nghệ phù hợp cho phép sử dụng
những thành tựu khoa học trên thế giới đồng thời khai thác tốt đa nguồn công
nghệ nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao với chi phí hợp lý.
- Vật tư, nguyên liệu và hệ thống tổ chức đảm bảo vật tư nguyên liệu của
doanh nghiệp.
Nguyên vật liệu là yếu tố tham gia trực tiếp cấu thành nên sản phẩm.
Những đặc tính của nguyên liệu sẽ được đưa vào sản phẩm, vì vậy chất lượng
của nguyên liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm sản xuất ra.
Không thể có chất lượng sản phẩm cao từ những nguyên liệu có chất lượng
tồi. Chủng loại, cơ cấu, tính đồng bộ và chất lượng nguyên vật liệu có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Ngoài ra, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp còn phụ thuộc rất lớn
vào việc thiết lập hệ thống cung ứng nguyên vật liệu thích hợp trên cơ sở tạo
dựng mối quan hệ lâu dài, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau giữa con người sản
xuất và người cung ứng, đảm bảo khả năng cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính
xác đúng nơi cần thiết.
- Trình độ tổ chức quản trị và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp.
Trình độ quản trị lnói chung và trình độ quản trị chất lượng nói riêng là
một trong những nhân tố quan trọng góp phần thúc đẩy tốc độ cải tiến, hoàn
thiện chất lượng sản phẩm ở các doanh nghiệp. Các chuyên gia quản trị chất
lượng đồng tình cho rằng trong thực tế có tới 80% những vấn đề về chất
11
lượng là do quản trị chất lượng gây ra. Vì vậy, nó đến quản trị chất lượng
ngày nay người ta cho rằng trước hết đó là chất lượng của quản trị.
Các yếu tố của sản xuấta như nguyên liệu, máy móc thiết bị, dây chuyền
sản xuất và người lao động dù ở trình độ nào nhưng nếu không được tổ chức
một cách hợp lý tạo ra sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các khâu, các
yếu tố của quá trình sản xuất thì không thể tạo ra sản phẩm có chất lượng cao.
Thậm chí trình độ quản lý tồi còn làm giảm chất lượng sản phẩm, gây lãng
phí nguồn lực sản xuất dẫn đến làm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trình độ tổ chức quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh được thể
hiện ở các phương pháp, cách thức quản trị, thiết lý quản trị, đạo đức kinh
doanh, phương pháp quản lý công nghệ. Mỗi doanh nghiệp cần phải tổ chức
tốt bộ máy quản trị kỹ thuật và kiểm tra chất lượng, chú trọng tràng bị các
phương tiện kiểm tra kỹ thuật giám định chất lượng sản phẩm. Muốn có chất
lượng sản phẩm cao cần theo dõi kiểm tra toàn bộ quá trình sản xuất, giám sát
việc thực hiện các quy trình quy phạm kỹ thuật để có biện pháp kịp thời khi
phát hiện ra các sai sót và xử lý ngay.
Chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu và cơ chế quản trị
nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của cán bộ quản trị, khả năng
xác định chính xác các mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức
thực hiện chương trình, kế hoạch chất lượng.
- Văn hoá doanh nghiệp.
Chất lượng là một vấn đề hết sức quan trọng do đó không thể phó mặc
cho các nhân viên kiểm tra chất lượng sản phẩm. Các doanh nghiệp phải coi
chất lượng là vấn đề thuộc trách nhiệm của toàn bộ doanh nghiệp.
2. Khái niệm, nhiệm vụ, chức năng của quản trị chất lượng
a. Khái niệm
Cũng giống như khái niệm về chất lượng sản phẩm, hiện nay có rất nhiều
định nghĩa khác nhau quản trị chất lượng. Tuy nhiên, những định nghĩa này
có nhiều điểm tương đồng và phản ánh được bản chất của quản trị chất lượng.
Quan niệm chung nhất, khá toàn diện và được chấp nhận rộng rãi hiện
nay do Tổ chức tiêu chuẩn chất lượng thế giới đưa ra như sau: “Quản trị chất
12
lượng là một tập hợp những hoạt động của chức năng quản trị chung nhằm
xác định chính sách chất lượng, mục đích, trách nhiệm và thực hiện chúng
bằng phương tiện như lập kế hoạch, điều kiển chất lượng, đảm bảo chất lượng
và cải tiền chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng”.
Có thể hiểu quản trị chất lượng là việc ấn định mục tiêu, đề ra nhiệm vụ
và tìm con đường đạt tới, giải quyết nó một cách có hiệu quả nhất. Mục tiêu
của quản trị chất lượng trong các doanh nghiệp là đảm bảo chất lượng sản
phẩm phù hợp với nhu cầu và chi phí tối ưu. Đó chính là sự kết hợp giữa nâng
cao những đặc tính kinh tế, kỹ thuật hữu ích của sản phẩm đồng thời giảm
lãng phí và khai thác mọi tiềm năng để mở rộng thị trường.
b. Bản chất
Thực chất của quản trị chất lượng là một tập hợp các hoạt động của chức
năng quản trị như hoạch định, tổ chức, kiểm và soát điều chỉnh. Đó là một
hoạt động tổng hợp về kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Chỉ khi nào toàn bộ các yếu
tố kinh tế, xã hội, công nghệ và tổ chức được xem xét đầy đủ trong mối quan
hệ thống nhất rằng buộc với nhau trong hệ thống chất lượng mới có cơ sở để
nói rằng chất lượng sản phẩm sẽ được đảm bảo.
Quản trị chất lượng phải được thực hiện thông qua một cơ chế nhất định
bao gồm hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn đặc trưng về kinh tế kỹ thuật biểu
thị mức độ thoả mãn về nhu cầu thị trượng, một hệ thống tổ chức điều kiển về
hệ thống chính sách khuyến khích phát triển chất lượng. Chất lượng được duy
trì đánh giá thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê trong quản trị
chất lượng.
Quan niệm hiện nay về quản trị chất lượng cho rằng vấn đề chất lượng
sản phẩm được đặt ra và giải quyết trong toàn bộ hệ thống bao gồm tất cả các
khâu, các quá trình từ nghiên cứu thiết kế đến chế tạo, phân phối và tiêu dùng
sản phẩm. Quản trị chất lượng là một quá trình liên tục mang tính hệ thống
thể hiện sự gắp bó chặt chẽ giữa doanh nghiệp với môi trường bên ngoài.
c. Nhiệm vụ quản trị chất lượng.
Nhiệm vụ của quản trị chất lượng là xây dựng hệ thống đảm bảo chất
lượng trong các doanh nghiệp. Trong đó có:
13
- Nhiệm vụ đầu tiên là: xác định cho được yêu cầu chất lượng phải đạt
tới ở từng giai đoạn nhất định. Tức là phải xác định được sự thống nhất giữa
thoả mãn nhu cầu về thị trường với những điều kiện môi trường kinh doanh
cụ thể.
- Nhiệm vụ thứ hai là: quy trì chất lượng sản phẩm bao gồm toàn bộ
những biện pháp, phương pháp nhằm đảm bảo những tiêu chuẩn đã được quy
định trong hệ thống.
- Nhiệm vụ thứ ba là: cải tiến chất lượng sản phẩm. Nhiệm vụ này bao
gồm quá trình tìm kiếm, phát hiện, đưa ra tiêu chuẩn mới cao hơn hoặc đáp
ứng tốt hơn những đòi hỏi của khách hàng. Trên cơ sở đánh giá, liên tục cải
tiến những quy định, tiêu chuẩn cũ để hoàn thiện lại, tiêu chuẩn hoá tiếp khi
đó chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp không ngừng được nâng cao.
Quản trị chất lượng phải được thực hiện ở mọi cấp, mọi khâu, mọi quá
trình. Nó vừa có ý nghĩa chiến lược và mang tính tác nghiệp. ở cấp cao nhất
của doanh nghiệp thực hiện quản trị chất lượng. Cấp phân xưởng và các bộ
phận thực hiện quản trị tác nghiệp chất lượng và ở từng nơi làm việc mỗi
người lao động thực hiện quá trình tự quản trị chất lượng. Tất cả các bộ phận,
các cấp đều có trách nhiệm nghĩa vụ, quyền hạn và lợi ích trong quản trị chất
lượng của doanh nghiệp.
d. Các chức năng quản trị chất lượng trong doanh nghiệp.
* Hoạch định chất lượng
Đây là giai đoạn đầu tiên của quản trị chất lượng. Hoạch định chất lượng
chính xác, đầy đủ sẽ giúp định hướng tốt các hoạt động tiếp theo vì tất cả
chúng đều phụ thuộc vào kế hoạch. Đây được coi là chức năng quan trọng
nhất nhất là cần được ưu tiên hàng đầu hiện nay.
Hoạch định chất lượng là hoạt động xác định mục tiêu, phương tiện,
nguồn lực và biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu chất lượng sản phẩm. Hoạch
định chất lượng tạo điều kiện khai thác và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn
lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần giảm chi phí cho chất lượng; nâng
cao khả năng cạnh tranh, giúp cho các công ty chủ động thâm nhập và mở
rộng thị trường đồng thời còn tạo ra được một sự chuyển biến căn bản về
phương pháp quản trị chất lượng ở các doanh nghiệp.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét