Thứ Bảy, 8 tháng 3, 2014

THỰC TRẠNG BẤT BÌNH ĐẲNG TRONG THU NHẬP Ở VIỆT NAM 18

Đề án môn học
hướng nhiều hơn vào sản xuất hàng hóa thiết yếu để tạo khả năng tăng mức
sống cho đại bộ phận dân cư và giảm nghèo đói ở nông thôn. Như vậy, có
thể nói tăng trưởng (GDP) là điều kiện cần nhưng chưa đủ để làm cho phúc
lợi được phân phối rộng rãi hơn. Vì vậy trong chiến lược phát triển quốc
gia không chỉ đòi hỏi gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế mà còn phải quan
tâm trực tiếp đến việc cải thiện đời sống vật chất cho người dân, cũng tức là
quan tâm đến việc “phân phối thu nhập”
Một nền kinh tế nếu thực hiện được công bằng sẽ là yếu tố rất
quan trọng tác động đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Khi nền kinh tế
thực hiện được công bằng về cơ hội (công bằng về giáo dục và y tế) sẽ tạo
ra nguồn nhân lực trong tương lai vừa có kiến thức, tay nghề cao lai có sức
khỏe dồi dào thì năng suất lao động chắc chắn đạt kết quả cao, tăng trưởng
kinh tế nhanh là điều chắc chắn xảy ra.Khi nền kinh tế thực hiện được công
bằng về việc làm, làm tăng thu nhập cho người dân, từ đó tăng mức chi tiêu
trong xã hội, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
*Một số mô hình phản ánh mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh
tế và bất bình đẳng
- Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets
Simon Kuznets, nhà kinh tế học Mỹ năm 1955 đã đưa ra một mô hình
nghiên cứu mang tính thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa thu
nhập và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập. Kuznets đã
dùng tỉ số giữa tỉ trọng thu nhập của 20% nhóm giàu nhất trong tổng dân số
so với tỉ trọng thu nhập của 60% nhóm nghèo nhất làm thước đo sự bất
bình đẳng (gọi là tỉ số Kuznets). Nghiên cứu so sánh này được tiến hành
với một nhóm nhỏ các nước đang phát triển như Ấn Độ, Srilanka và nhóm
nhỏ các nước phát triển như Mỹ, Anh. Kết quả của tỉ số này là: 1.95(Ấn
Độ); 1,67(Srilanka); 1,29(Mỹ) và 1,25(Anh). Những giá trị này là dấu hiệu
cho thấy các nước đang phát triển có xu hướng diễn ra tình trạng bất bình
đẳng ở mức độ cao hơn các nước phát triển. Các nghiên cứu sau đó của
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
5
Đề án môn học
Kuznets(1963) qua số liệu quan sát được từ 18 nước cũng có kết quả tương
tự. Vì vậy, Kuznets đã đưa ra giả thiết cho rằng: bất bình đẳng sẽ tăng ở
giai đoạn ban đầu và giảm ở giai đoạn sau khi lợi ích của sự phát triển được
lan tỏa rộng rãi hơn. Nếu biểu diễn mối quan hệ trên đò thị sẽ có dạng chữ
U ngược. Vì vậy còn được gọi là giả thiết chữ U ngược.
Hạn chế trong mô hình của Kuznets là không giải thích được hai vấn
đề quan trọng: thứ nhất, những nguyên nhân cơ bản nào tạo ra sự thay đổi
bất bình đẳng trong quá trình phát triển? Thứ hai, phạm vi khác biệt giữa
các nước về xu thế thay đổi này trong điều kiện họ sử dụng các chính sách
khác nhau tác động tăng trưởng và bất bình đẳng ? Từ hai vấn đề này dẫn
đến điều mà các nước đang phát triển băn khoăn: có phải các nước có thu
nhập thấp tất yếu phải chấp nhận gia tăng về bất bình đẳng trong quá trình
tăng trưởng kinh tế hay không và sau đó họ có thể mong chờ sự bất bình
đẳng được giảm bớt khi họ đạt đến mức độ cao của phát triển hay không ?
- Mô hình tăng trưởng trước, bình đẳng sau của A.Lewis
Dưới dạng tổng quát, mô hình cũng nhấ trí với Kuznets về nhận xét
cho rằng sự bất bình đẳng sẽ tăng lên lúc đầu và sau đó bị giảm bớt khi đã
đạt tới mức độ phát triển nhất định.
Nhưng mô hình đã giải thích được nguyên nhân của xu thế này:
Trước hết sự bất bình đẳng tăng lên ở giai đoạn đầu bởi vì cũng với
việc mở rộng quy mô sản xuất công nghiệp, số lượng lao động được thu hút
vào làm việc ở khu vực này ngày càng tăng nhưng tiền công của công nhân
nói chung vẫn ở mức tối thiểu. Như vậy, trong khi tiền công của công nhân
không thay đổi thì thu nhập của các nhà tư bản vừa tăng lên do quy mô mở
rộng, vừa tăng lên do lao động của công nhân đưa lại.
Ở giai đoạn sau sự bất bình đẳng giảm bớt do khi lao động dư thừa
được thu hút hết vào khu vực thành thị (sản xuất công nghiệp và dịch vụ)
thì lao động trỏ thành yếu tố khan hiếm. Nhu cầu lao động ngày càng tăng
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
6
Đề án môn học
lên đòi hỏi phải tăng tiền lương như vậy sẽ dẫn đến giảm bớt sự bất bình
đẳng
Trong mô hình này thì sự bất bình đẳng không chỉ là kết quả của
tăng trưởng kinh tế mà còn là điều kiện cần thiết của tăng trưởng.Theo
quan điểm của Lewis, bất bình đẳng là điều kiện để người giàu tăng tích
lũy, tăng đầu tư, do đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.Ngược lại, ở các
nước đang phát triển, khi người giàu tăng thu nhập, nhu cầu tiêu dùng của
hộ tăng cao(và hướng vào những hàng hóa xa xỉ). Vì thế, xu hướng tiết
kiệm biên rất thấp và tỉ lệ tiết kiệm trung bình của họ có thể thấp hơn
những người kém giàu có hơn. Như vậy, rõ ràng là đối với các nước đang
phát triển, trong trường hợp này, việc giảm bất bình đẳng sẽ thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế thông qua tiết kiệm và đầu tư. Hay nói cách khác, có thể kết
hợp giữa công bằng với tăng trưởng kinh tế.
4. Nguyên nhân gây ra bất bình đẳng
Có nhiều nguyên nhân gây ra bất bình đẳng.Chúng ta có thể chia
thành hai nhóm chính:
4.1 Nhóm nguyên nhân khách quan
Do tác động của yếu tố thời tiết
Nền kinh tế của nước ta chủ yếu là nông nghiệp (lao động nông nghiệp
ở nông thôn chiếm 70% dân cư), mà nền kinh tế nông nghiệp phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện tự nhiên. Nếu điều kiện tự nhiên thuận lợi thì sản xuất
nông nghiệp sẽ thuân lợi hơn, tạo động lực sản xuất cho người dân, tăng
thu nhập cho người nông dân.
Do tác động của địa lý
Phần lớn nông dân sống ở vùng nông thôn hoặc miền núi, nơi xa trung
tâm của dất nước vì thế các cơ sở hạ tầng, giao thông thường khó khăn nên
gây không ít cản trở trong sản xuất. Trong khi người dân ở thành thị là nơi
tập trung các đầu não của đất nước, có các điều kiện thuận lợi để sản xuất
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
7
Đề án môn học
và là nơi thu hút được nhiều nguồn tài trợ và vốn của nước ngoài…, làm
cho thu nhập của họ ngày càng được nâng cao hơn.
Bất bình dẳng trong phân phối thu nhập từ tài sản
Do được thừa kế từ tài sản: có những người sinh ra đã được thừa
hưởng tài sản sẵn có từ trước của thế hệ trước trong gia đình để lại.Sinh ra
trong một gia đình giàu có, họ được hưởng cuộc sông sung túc và có nhiều
điều kiện thuận lợi dể hoc tập và tìm công việc tốt, nên thu nhập của họ
ngày càng cao. Trong khi người sinh ra trong gia đình khó khăn, không đủ
ăn, thì làm sao họ có điều kiện học tập tốt để tìm cho mình một công việc
như mong muốn.
Do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm: người nghèo có thu nhập thấp
nên hầu như họ làm ra chỉ đủ để tiêu dùng không co tiết kiệm hoặc tiết
kiệm rất thấp.trong khi người giàu có thu nhập cao tiêu dùng của họ ngày
càng tăng, đời sông càng cao, tỉ kệ tiết kiệm của họ tăng chậm hơn tỉ lệ tiêu
dùng nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tăng, như vậy tài sản của họ ngày càng
tăng. Và khoảng cách giàu nghèo cũng tăng lên.
Do kết quả kinh doanh: người giàu thường có nhiều vốn và họ cũng
táo bạo trong kinh doanh hơn nên họ có nhiều cơ hội làm giàu hơn, trong
khi người nghèo hầu như không có những thứ đó.
Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập từ lao động
Do khác nhau về khả năng và kĩ năng lao động: người dân ở thành thị
thường có điều kiện tiếp cận với giáo dục và các trường dạy nghề cao hơn
nên họ thường có trình độ, khả năng và kĩ năng lao động cao hơn, sẽ tạo ra
năng suất lao động cao hơn người dân ở nông thôn.
Do khác nhau về cường độ làm việc: tác phong làm việc trong
nghành công nghiệp thường bận rộn, nhanh nhẹn , nhạy bén với cường độ
làm việc cao. Trong khi tác phong làm việc của người nông dân thường rất
thong thả, họ có thời gian nhàn rỗi rất nhiều, hầu như chi lam việc trong
ngày mùa
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
8
Đề án môn học
Do khác nhau về cơ hội tiếp cận giáo dục và y tế:
ở thành thi thường tập trung các cơ sở giáo dục và y tế lớn có uy tín
và trình độ cao hơn nông thôn, dẫn đến chênh lệch về chất lượng nguồn
nhân lực.
Do thiếu việc làm:
người nghèo đã có thu nhập thấp lại thêm tình trạng thất nghiệp,
không tạo ra thu nhập nhưng họ vẫn phải chi tiêu hàng ngày, cuộc sống đã
khó khăn lại chồng thêm khó khăn khác. Trong khi đó người giàu ngày
cang giàu hơn.
4.2 Nhóm nguyên nhân chủ quan:
Chủ yếu do tác động chính sách chính phủ
Do cơ cấu đầu tư chưa hợp lý: nhà nước ta vẫn có chính sách ưu tiên
cho đầu tư công nghiệp hơn là đầu tư nông nghiệp, trong khi đó phần lớn
dân số nước ta sống ỏ khu vực nông thôn.
Do chính sách hỗ trợ của chính phủ chưa thực sự đi đến đúng người được hưởng: chính phủ ta có nhiều
chính sách quan tâm đến người nghèo nhưng do đi qua quá nhiều thủ tục dẫn đến thất thoát nhiều. Ví dụ như chính sách
đầu tư cơ sở hạ tầng trường trạm cho nông thôn, nhưng lại chủ yếu xây dựng ở khu vực trung tâm nông thôn (thị
trấn,các vùng lân cận…) như vậy người nghèo thực sự ở vùng miền núi xa xôi không được hưởng hoặc số người được
hưởng rất hạn chế; chính sách cho người nghèo vay vốn ưu đãi, nhưng thực sự họ có vay được không? Mà phần lớn là
người thân quen với cán bộ xã dược vay. Vậy được bao nhiêu phần trăm chính sách đến đúng người được hưởng lợi.
Mặt khác nhà nước ta vẫn đang nghèo nên có nhiều chính sách thu
hút đầu tư công nghệ và vốn nước ngoài, họ cũng đầu tư vì lợi nhuận nên
tập trung chủ yếu ở thành thị hoặc khu vực công nghiệp, vì vậy chính phủ
lại đầu tư ở khu vực này nhiều hơn.
5. Lí do cần quan tâm đến mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng: Sự bất công sẽ
làm chậm lại tốc độ tăng trưởng
Bất bình đẳng trong giáo dục sẽ làm giảm chất lượng nguồn lực (về mặt
kĩ năng nghề nghiệp và trình độ chuyên môn) trung bình xã hội, từ đó ảnh hưởng đến năng suất lao động trung bình xã
hội, ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Bất bình đẳng trong y tế ảnh hưởng đến sức khỏe lao động, ảnh
hưởng đến sức khỏe trẻ em, sẽ làm giảm chất lượng lao động hiện tại và
tương lai. Qua đó gián tiếp ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
9
Đề án môn học
Hố sâu ngăn cách sự bất bình đẳng trong giàu nghèo đã góp phần
dẫn đến sự nghèo khổ cùng cực kéo dài dai dẳng đối với một bộ phận lớn
dân số. Điều này làm lãng phí tiềm năng về con người và nhiều trường hợp,
nó làm chậm lại tốc độ tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các thể chế thiếu công bằng sẽ gây ra những tổn thất về kinh tế: các
thể chế đó dường như bảo vệ lợi ích của người giàu và những người có ảnh
hưởng về mặt chính trị. Điều đó thường gây hại cho phần đông số dân
chúng. Điều này làm cho toàn xã hội trở nên kém hiệu quả.
Bất bình đẳng sẽ làm giảm động lực của người lao động: vì dù làm
nhiều nhưng cuộc sống của họ vẫn thiếu thốn, điều đó làm họ chán nản,
nhiều lúc họ muốn phó mặc cho cuộc sống. Dẫn tới ảnh hưởng đến tăng
trưởng kinh tế.
Bất bình đẳng có thể gây ra rối loạn chính trị như: công nhân biểu
tình đòi tăng lương, đòi được hưởng các quyền lợi khác , bị bọn phản loạn lợi dụng xúi
dục gây rối chính trị…
Bất bình đẳng là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều tệ nạn xã hội: có những người vì nghèo quá đã
phải đi trộm cắp, làm những việc trái pháp luật để kiếm sống…
Bất bình đẳng gây cản trở cơ hội đầu tư: những vùng núi xa xôi giàu về nguồn tài nguyên và nguồn nhân lực
nhưng lại thiếu cơ sở hạ tầng, giao thông khó khăn đã gây cản trợ trong việc quyết định đầu tư.
Từ những lí do đó ta thấy bất bình đẳng có ảnh hưởng rất lớn đến tăng trưởng kinh tế, việc nghiên cứu mối
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng là sự cần thiết, nhằm tìm ra hướng giải quyết vấn đề.

CHƯƠNG II
KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ Ở
MỘT SỐ NƯỚC ĐI TRƯỚC
Đã 10 năm trôi qua kể từ ngày các nhà lãnh đạo thế giới cam kết giải
quyết các vấn đề cấp bách trên phạm vi toàn cầu, thế giới vẫn tiếp tục
chứng kiến cảnh chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng và bất bình đẳng
trong nhiều lĩnh vực. Mặc dù nền kinh tế toàn cầu đã phát triển với tốc độ
chưa từng có trong những năm gần đây, song các nước giàu ngày càng giàu
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
10
Đề án môn học
hơn và các nước nghèo ngày càng nghèo đi, một báo cáo của Liên Hiệp
Quốc cho biết. Bản báo cáo, có tên "The World Social Situation: The
Inequality Predicament" được công bố cuối tháng 8, thời điểm 3 tuần trước
khi một hội nghị thượng đỉnh thế giới được tổ chức theo lời kêu gọi của
Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Kofi Annan để giải quyết những vấn đề cấp
bách hiện nay như đói, nghèo, bệnh tật và thất học. Bản báo cáo, gồm 158
trang, cho thấy sự bất bình đẳng giữa các quốc gia và trong nội bộ một
quốc gia thường song hành cùng toàn cầu hóa kinh tế. Bất bình đẳng đã và
đang gây ra những hậu quả tiêu cực trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lao
động, an toàn việc làm và lương. Báo cáo tuyên bố. "Chỉ chú trọng đến
tăng trưởng kinh tế và tạo thu nhập như là một chiến lược phát triển là
không hiệu quả, vì nó dẫn đến sự tích tụ tài sản trong tay một số ít người và
làm tăng thêm mức độ nghèo khổ của nhiều người khác".
Trong phần nhận xét của bản báo cáo, Ocampo cảnh báo cộng đồng
quốc tế về hậu quả của việc không hành động. "Thất bại trong việc giải
quyết tình trạng bất bình đẳng sẽ khiến cho việc nâng cao điều kiện sống
cho người nghèo và tạo lập công bằng xã hội trở nên khó khăn hơn bao giờ
hết. Nguy hiểm hơn, nó có thể dẫn đến sự bất ổn về mặt xã hội trên toàn thế
giới. Khi đó, tất cả mọi người trong chúng ta đều phải trả giá".
1. Ở đây xét diển hình là nền kinh tế nước Brazil:
Sở hữu nền nông nghiệp, khai mỏ, gia công và lĩnh vực dịch vụ lớn ở
mức độ phát triển cao, cũng như một lực lượng lao động dồi dào, GDP
(theo sức mua tương đương) của Brasil vượt xa nhiều quốc gia Mỹ Latinh
khác, và là nền kinh tế chủ chốt của khối Mercosur. Theo Quỹ tiền tệ Quốc
tế và Ngân hàng Thế giới, Brasil là nền kinh tế lớn thứ chín thế giới theo
sức mua tương đương. Đa số các ngành công nghiệp lớn nằm ở phía Nam
và phía Đông Nam. Đông Bắc là vùng nghèo nhất Brasil, nhưng hiện thu
hút được nhiều đầu tư nước ngoài.Brasil có lĩnh vực công nghiệp phát triển
nhất Mỹ Latinh. Chiếm một phần ba GDP, các ngành công nghiệp đa dạng
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
11
Đề án môn học
của Brasil từ sản xuất ô tô, thép, hóa dầu tới máy tính, máy bay và các sản
phẩm tiêu dùng
Bảng1: Tốc độ tăng trưởng GDP của Brazil (thập niên 2000).
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008
4,3% 1,3% 2,7% 1,1% 5,7% 3,2% 3,7% 4,5% 4,5%
Nguồn: WB, báo cáo phát triển thế giới 2006-2007
Dù nền kinh tế Brasil có kích thước và tầm quan trọng lớn trong khu
vực, những vấn đề đang ngày càng phát triển như tham nhũng, nghèo đói
và mù chữ vẫn là những cản trở lớn cho sự phát triển
Sau nhiều thập kỷ có mức lạm phát cao và nhiều nỗ lực kiểm soát,
Brasil đã thực thi một chương trình ổn định kinh tế với tên gọi Kế hoạch
Real (được đặt theo tên đồng tiền tệ mới real) vào tháng 7 năm 1994 trong
thời kỳ nắm quyền của tổng thống Itamar Franco. Tỷ lệ lạm phát vốn từng
đạt mức gần 5.000% thời điểm cuối năm 1993, đã giảm rõ rệt, ở mức thấp
2,5% vào năm 1998. Trong thời cầm quyền của tổng thống Fernando
Henrique Cardoso (1995-2002), chính phủ Brasil đã có nỗ lực nhằm thay
thế nền kinh tế chỉ huy nhà nước bằng một nền kinh tế theo định hướng thị
trường. Tới cuối năm 2003, chương trình tư nhân hóa của Brasil, gồm cả
việc tư nhân hóa các công ty thép, điện lực, viễn thông đã đạt giá trị hơn 90
tỷ dollar.Tháng 1 năm 1999, Ngân hàng Trung ương Brasil thông báo rằng
nước này sẽ không giữ ổn định tỷ giá đồng real với dollar Mỹ nữa, việc này
khiến cho đồng tiền tệ nước này bị mất giá mạnh. Nền kinh tế Brasil tăng
trưởng 4,4% năm 2000, giảm xuống còn 1,3% năm 2001. Năm 2002,
những dự đoán rằng ứng cử viên tổng thống nhiều triển vọng Luis Inácio
Lula da Silva, sẽ từ chối thanh toán nợ, gây ra một cuộc khủng hoảng niềm
tin sâu sắc khiến nền kinh tế giảm sút tăng trưởng. Tuy nhiên, khi đã trúng
cử Lula tiếp tục theo đuổi các chính sách kinh tế của người tiền nhiệm
Năm 2007, kinh tế Brasil tăng trưởng ở mức 4,5%.
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
12
Đề án môn học
Dù là một nước lớn với một nền kinh tế khá mạnh, Brasil hiện vẫn có
hơn 22 triệu người sống dưới mức nghèo khổ. Gộp cả những người sống
trong tình trạng khá nghèo (có thu nhập không đủ cho những nhu cầu cơ
bản), con số này có thể lên tới hơn 53 triệu người (khoảng 30% dân số).
Đây là vấn đề đáng báo động, và nó góp phần vào sự bất bình đẳng kinh tế
của đất nước, nước này được coi là đứng hàng đầu thế giới theo hệ số Gini.
Theo báo cáo phát triển thế giới 2006-2007 của WB, hệ số gini về thu nhập
của Brazil là 62%; phần trăm thu nhập của 20% dân số nghèo nhất chỉ
chiếm 2.6%.Điều này cho thấy ở Brazil tình trạng bất bình dẳng trong thu
nhập diễn ra rất nghiêm trọng. Sự nghèo khổ tại Brasil được thể hiện bởi số
lượng lớn các khu ổ chuột (favela), đa số chúng đều tồn tại ở những khu
vực thành thị và ở những vùng xa xôi nơi ít có những phát triển kinh tế và
xã hội. Vùng Đông Bắc gặp phải những vấn đề kinh niên vì khí hậu nửa
khô cằn ở những vùng nội địa, những đợt hạn hán thường kỳ ảnh hưởng tới
cuộc sống của hàng triệu người. Khoảng 16 triệu người dân Brasil chính
thức được coi là mù chữ. Nỗ lực gần đây nhất nhằm giảm nhẹ tình trạng
này đang được tổng thống đương nhiệm Luiz Inacio Lula da Silva thử
nghiệm. Ông đã đề xuất một chương trình loại trừ nạn đói (Fome Zero) và
tăng ngân sách dành cho các chương trình phân phối công bằng từng được
đưa ra trước đó, nhưng có nhiều tranh cãi về hiệu quả thực sự của những
chương trình. Đó chính là sự trả giá cho sự nhấn mạnh tăng trưởng kinh tế
quá mức và không xem trọng các vấn đề xẫ hội.
2. Xét nền kinh tế Hàn Quốc
Hàn Quốc, từng được biết đến như một trong những nước nông nghiệp
nghèo nhất thế giới, đã nghiêm túc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế
từ năm 1962. Sau chưa đầy bốn thập kỷ, đất nước đã đạt được những thành
tựu kinh tế được cả thế giới biết đến như “Kỳ tích trên sông Hàn”. Đó là
một quá trình phi thường đã nhanh chóng giúp cải tạo nền kinh tế Hàn
Quốc, đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử của đất nước.
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
13
Đề án môn học
Chiến lược phát triển kinh tế hướng ngoại lấy xuất khẩu làm động lực tăng
trưởng đã góp phần quan trọng vào sự chuyển đổi kinh tế toàn diện của
Hàn Quốc. Dựa trên chiến lược này, nhiều chương trình phát triển đã được
thực hiện thành công. Kết quả là từ năm 1962 đến 2005, tổng thu nhập
quốc dân (GNI) của Hàn Quốc tăng từ 2,3 tỷ đô la Mỹ lên 786,8 tỷ đô la
Mỹ, với thu nhập bình quân tính theo đầu người tăng vọt từ 87 đô la
Mỹ/năm lên 16.291 đô la Mỹ/năm. Những con số đầy ấn tượng như vậy
cho thấy những chương trình kinh tế này rõ ràng đã thành công rực rỡ.
Năm 1998, do tỷ giá hối đoái biến động, tổng thu nhập quốc dân và thu
nhập quốc dân bình quân đầu người giảm mạnh xuống còn 340,4 tỷ đô la
Mỹ và 7.335 đô la Mỹ nhưng con số này năm 2002 đã tăng trở lại và đạt
mức trước khủng hoảng kinh tế. Theo bản thống kê do Tổ chức Hợp tác và
Phát triển kinh tế OECD công bố thì quy mô GDP của Hàn Quốc năm 2007
là 979,9 tỷ USD và trở thành nền kinh tế lớn thứ 13 trên thế giới. Đây là
quy mô lớn thứ 3 trong khu vực Đông Á, sau Trung Quốc và Nhật Bản.
GDP năm 1990 là 264 tỷ USD; GDP tiếp tục tăng đều đặn và đạt mức 979
tỷ USD như hiện nay.
Trong năm 1995, Hàn Quốc đã bước vào kỷ nguyên 10.000 USD với
thu nhập bình quân đầu người đạt 11.432 USD, tăng cao so với mức 9459
USD năm trước đó. Mặc dù vậy, con số này đã tụt giảm mạnh chỉ còn
7.355 USD vào năm 1998 khi đối mặt với cơn khủng hoảng tài chính kinh
tế của khu vực châu Á. Tiếp theo đó, GNI bình quân đầu người của Hàn
Quốc leo lên mức 10.481 USD vào năm 2000, đạt 11.499 USD vào năm
2002, 12.720 USD vào năm 2003 và 14.193 vào năm 2004. Thu nhập bình
quân đầu người của Hàn Quốc đạt 20.045 USD, tương đương 18.626 won
trong năm 2007 vừa qua, tăng 8,9% so với 18.401 won vào năm trước đó,
bấp chấp giá dầu cao và tình hình quốc tế không mấy thuận lợi.
Bảng 2: thu thập hệ số gini một số năm của Hàn Quốc
Đơn vị: %
Lưu Thị Tình Lớp: Kinh tế phát triển 47B
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét