Tên sáng kiến
rèn viết chữ đúng và đẹp cho học sinh lớp 1
Họ và tên:
Trần Thị Quế
Giáo viên trờng:
Tiểu học A Thọ Nghiệp - Xuân Trờng - Nam Định
Trình độ chuyên môn:
Trung học s phạm
Mục lục
Tiêu đề Trang
Đặt vấn đề Trang 2
Cơ sở lý luận Trang 2
Cơ sở thực tiễn Trang 3
Giải quyết vấn đề
Trang 5
Khảo sát chất lợng chữ viết của học sinh Trang 5
Những biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lợng chữ viết Trang 6
Kết quả Trang 15
Kết luận
Trang 17
Kinh nghiệm
Rèn viết chữ đúng và đẹp
cho học sinh lớp 1
A- Đặt vấn đề
I- Cơ sơ lý luận
Trong giai đoạn hiện nay, Giáo dục- Đào tạo đợc coi trọng và là quốc
sách hàng đầu trong nền kinh tế quốc dân. Trong hệ thống giáo dục quốc dân
1
thì giáo dục tiểu học là cấp học quan trọng nhất, đợc xem là cơ sở ban đầu
đặt nền móng cho sự phát triển toàn diện con ngời, đặt nền tảng cho giáo dục
phổ thông. Để thực hiện mục tiêu giáo dục Nâng cao dân trí, bồi dỡng
nhân lực và đào tạo nhân tài để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công
việc xây dựng đất nớc theo hớng Dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
văn minh thì trớc hết phải thực hiện đợc mục tiêu của bậc tiểu học:
Nhằm hình thành cơ sở ban đầu nhân cách con ngời Việt Nam xã hội
chủ nghĩa.
ở cấp tiểu học, môn học nào cũng có một vị trí tầm quan trọng riêng
của nó. Song đặc biệt chữ viết đợc coi nh một phần máu thịt không thể thiếu
của phân môn Tiếng Việt. Chữ viết là một hình thức trong giao tiếp của con
ngời, là phơng tiện để con ngời nhận biết kiến thức, học hỏi nâng cao trình độ
phục vụ trong lao động và nghiên cứu khoa học. Ngoài ra, chữ viết còn mang
đặc trng tính cách của con ngời. Ngời ta nhìn chữ để biết ý nghĩ, trông chữ để
đoán tính cách, tình cảm của con ngời, nh câu nói của ngời xa Nét chữ -nết
ngời. Do vậy, ở cấp tiểu học, chăm lo cái chữ là chăm lo cái đức, chăm lo
tính cách, nhân cách của học sinh. Cố Thủ tớng Phạm Văn Đồng nói: Chữ
viết là một biểu hiện của nết ngời. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn
thận, viết đẹp góp phần rèn luyện các em tính cẩn thận, lòng tự trọng với
mình cũng nh thầy và bạn đọc bài vở của mình.
II- Cơ sở thực tiễn:
1. Thực trạng chữ viết của học sinh lớp 1 hiện nay:
a)Ưu điểm: Trong thực tế hiện nay, ngay từ khi học Mầm non các em
học sinh đã đợc tiếp xúc làm quen với các chữ cái, một số gia đình quan tâm
đến con cái cũng đã dạy các em tập viết nên nhìn chung học sinh tiểu học
ngay từ đầu lớp 1 đã nhận đợc mặt chữ và viết đợc các chữ cái.
- Về cơ bản các em viết đúng mẫu, đảm bảo đúng cỡ quy định.
- Khi viết đã thể hiện tính thẩm mỹ.
b) Tồn tại:
2
Tuy nhiên, một bộ phận giáo viên Mầm non và phụ huynh học sinh ch-
a nắm vững cách hớng dẫn học sinh quy trình tập viết, mới chỉ quan tâm dạy
các em về hình dáng chữ chứ cha thực sự chú trọng đến việc dạy viết đúng
quy trình.
- Một bộ phận không nhỏ các em viết chữ cha đúng mẫu, cỡ chữ, ghi
dấu không đúng vị trí.
- Nhiều em viết chữ cha đẹp, các nét chữ con chữ cha đều, nhiều em
còn viết nghiêng ngả tuỳ tiện.
- Một số học sinh còn cha biết cách trình bày.
- Một số học sinh cầm bút để vở cha đúng quy định.
2-Nguyên nhân:
- Trớc hết do nhận thức của ngời dạy, ngời học, nhận thức của cha mẹ
học sinh cha thấy rõ tầm quan trọng của việc rèn chữ.
- Bản thân một số giáo viên viết chữ còn cha đúng mẫu. Giáo viên cha
hớng dẫn cho học sinh cách luyện chữ một cách tỉ mỉ, chu đáo.
- Về phía học sinh: rất nhiều yếu tố ảnh hởng tới chữ viết của các em
đó là: Do t thế ngồi viết, cầm bút để vở không đúng. Việc chuẩn bị dụng cụ
học tập cha tốt. cha nắm chắc mẫu chữ và quy trình viết hoặc ý thức rèn chữ
cha tốt. Không nắm chắc quy tắc chính tả, nguyên tắc đánh dấu thanh hoặc
đọc không đúng.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn nh trên, đợc phân công giảng
dạy lớp 1 tôi đã tập trung nghiên cứu đề tài: Rèn viết chữ đúng và đẹp cho
học sinh lớp 1
3
B- Giải quyết vấn đề
I. Khảo sát chất lợng chữ viết của học sinh:
Muốn học sinh viết đúng và đẹp trớc hết ngời giáo viên phải tìm hiểu
rõ tình trạng chữ viết của học sinh mình nh thế nào. Học sinh yếu ở những
mặt nào, mức độ yếu của học sinh ra sao?
Do đó, ngay trong tuần thứ 2 của năm học tôi tiến hành điều tra, khảo
sát, đàm thoại với các em. Tôi đã nhận thấy ngoài một số các em viết đẹp
đúng mẫu các em còn một số tồn tại và nguyên nhân nh sau:
- Một số em cha có ý thức luyện viết, chỉ cốt viết sao cho xong bài.
4
- Một số học sinh còn ngồi viết, để vở, cầm bút cha đúng, đầu năm học
khi viết bảng các em cha có thói quen nề nếp thao tác cá nhân nh: cách đặt
bảng con lên bàn, cách giơ bảng và lau bảng, thao tác cầm phấn, đa nét
- Một số gia đình cha chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập cho học sinh,
một số học sinh bút chì còn quá tù hoặc quá nhọn cũng ảnh hởng tới chất l-
ợng chữ viết.
- Một số học sinh còn yếu về kĩ năng viết:
+ Viết cha đúng quy trình, mẫu chữ, khoảng cách kích cỡ: đặc biệt các
em sai nhiều về kích thớc chiều ngang của con chữ: VD chữ o chiều cao là 2
ly, chiều ngang là 1,5 ly nhng các em thờng viết chữ o tròn (cao 2ly, rộng 2
ly).
Một số học sinh viết sai quy trình (VD viết chữ o còn viết ngợc), cha
đúng điểm đặt bút dừng bút
Một số em viết các nét cha đúng: VD viết chữ b, đầu nét khuyết còn
nghiêng ngả, bị gẫy chữ hoặc vuông đầu
Một số em viết các dấu chữ quá to không cân xứng với con chữ: VD
dấu chữ ê, chữ , chữ ơ
+ Viết dấu thanh cha đúng:
VD: Dấu sắc các em không đa từ trên xuống, từ phải sang trái mà đa từ
dới lên, từ trái sang phải.
Kết quả khảo sát cụ thể nh sau:
Số học sinh
Xếp loại chữ
Xếp loại A Xếp loại B Xếp loại C
Số lợng % Số lợng % Số lợng %
35 18 51.43 15 42,85 2 5,72
Những nhợc điểm học sinh còn mắc phải khi tập viết :
các tồn tại
Số học sinh mắc lỗi
Tỷ lệ %
Cha có ý thức luyện viết. 15 42,86
5
T thế ngồi viết, để vở, cầm bút,
phấn cha đúng.
11 31,43
Chữ viết cha đúng cỡ chữ, mẫu chữ,
khoảng cách, viết chữ cha liền mạch.
14 40
Ghi dấu thanh cha đúng . 10 28,57
II. Những biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lợng chữ viết
ở học sinh
Sau khi đã xác định đuợc những tồn tại và nguyên nhân học sinh viết
yếu tôi đã có một số biện pháp rèn chữ cho học sinh nh sau:
1. Bồi dỡng cho học sinh sớm có óc thẩm mỹ, lòng ham mê, thích
thú luyện viết chữ đẹp.
Đối với học sinh lớp 1, tâm lý cảm xúc khi viết ảnh hởng rất nhiều tới
chất lợng chữ viết: Nếu các em hứng thú tập trung khi viết chất lợng bài viết
sẽ rất tốt, ngợc lại nếu các em mệt mỏi, viết với tâm lý qua quýt cho xong bài
thì chắc chắn hiệu quả bài viết sẽ rất thấp. Do đó tôi luôn tìm mọi cách để
các em có hứng thú trong các giờ tập viết, chính tả:
- Khi giới thiệu bài tôi tìm một cách vào bài sao cho tự nhiên, gây ấn t-
ợng với các em:
Ví dụ: Khi dạy tập viết chữ L hoa tôi hỏi các em: Lớp mình có bạn
nào tên có phụ âm đầu là L ?. Các em có muốn viết tên mình đúng và đẹp
không? Để viết tên các bạn đó cô sẽ hớng dẫn cả lớp mình tập viết chữ L
hoa nhé!
- Thờng xuyên kể cho học sinh nghe các tấm gơng luyện chữ của ngời
xa và nay: ví dụ nh gơng luyện chữ của Cao Bá Quát. Đặc biệt tấm gơng anh
Nguyễn Ngọc Ký tuy bị liệt cả hai tay nhng với lòng kiên trì bền bỉ vợt khó
anh đã dùng đôi chân thay đôi tay của mình để viết bằng đợc chữ, không
những anh viết đợc chữ mà anh còn viết đẹp và làm đợc mọi công việc nh
những ngời bình thờng khác.
6
- Quan tâm đến việc chuẩn bị đồ dùng trực quan sao cho đẹp, tạo hứng
thú cho học sinh.
- Tổ chức cho học sinh xem những tập vở của những học sinh đạt tiêu
chuẩn Vở sạch chữ đẹp đã đợc lu trữ trong phòng truyền thống của nhà
trờng, của các bạn, các anh chị lớp trên trong trờng đã đạt giải nhất nhì trong
các cuộc thi chữ đẹp cấp trờng, cấp huyện; Đặc biệt của các bạn cùng lớp đợc
xếp loại chữ A. Qua thực tế nhìn thấy các trang vở đẹp các em thêm tin tởng
và quyết tâm rèn luyện chữ.
- Động viên khen ngợi học sinh thờng xuyên dù là những tiến bộ rất
nhỏ ở các em.
2. Chuẩn bị đồ dùng dụng cụ học tập:
Trớc hết cần quán triệt nâng cao nhận thức của học sinh và cha mẹ học
sinh để họ thấy rõ tầm quan trọng trong việc rèn chữ giữ vở. Kinh nghiệm
cho thấy, sự phối kết hợp của phụ huynh với các thầy cô giáo trong việc rèn
chữ cho học sinh là hết sức quan trọng. Nếu phụ huynh kết hợp cùng nhà tr-
ờng sẽ giúp rất nhiều cho việc nâng cao chất lợng chữ viết, nhất là ở đầu cấp.
Để rèn cho học sinh viết đúng đẹp các đồ dùng dụng cụ học tập nh
bảng con, bút và vở viết của học sinh rất quan trọng. Tôi giới thiệu và thống
nhất với phụ huynh mua cho học sinh loại bảng có kích thớc 20 x 30cm đợc
làm bằng nhựa cứng có dòng kẻ li, mặt bảng hơi ráp để khi học sinh viết
không bị trợt nét phấn đều. Bút chì, bút mực có thể dùng loại nét hoa hoặc
bút mài để học sinh viết chữ nét thanh đậm. Tôi đã động viên phụ huynh và
học sinh mua thống nhất vở tập viết và một quyển vở để học sinh tập viết ở
lớp. Những đồ dùng này tởng nh là lẽ thờng tình nhng nếu không có sự định
hớng của giáo viên phụ trách lớp khi bớc vào năm học, nhất định phụ huynh
sẽ không đáp ứng đợc những yêu cầu tối thiểu, chất lợng phong trào sẽ thấp,
chất lợng chữ viết của học sinh sẽ bị ảnh hởng.
Đầu năm học học sinh lớp 1 viết bằng bút chì, tôi hớng dẫn phụ huynh
và học sinh chuẩn bị chu đáo bút trớc khi viết sao cho đầu bút chì hơi nhọn
đúng tầm. Nếu quá nhọn sẽ dẫn đến nét chữ quá mảnh, đôi khi chọc thủng cả
7
giấy. Ngợc lại nếu nét chì quá tù, nét chữ quá to và rất xấu. Do vậy tôi đã h-
ớng dẫn mỗi phụ huynh dán một mảnh giấy ráp số 0 vào ngay hộp bút để
học sinh tiện mài ngòi bút cho vừa tầm độ nhọn, khỏi mất công gọt bút luôn
(vừa mất thời gian vừa chóng mòn hết ngòi bút).
3. Hớng dẫn cho học sinh nắm chắc kỹ thuật viết chữ cụ thể:
3.1-Xây dựng t thế ngồi viết đúng quy cách cho học sinh:
Đối với học sinh lớp 1 việc rèn t thế ngồi viết rất quan trọng. Trong khi
giảng dạy tôi cho học sinh quan sát tranh vẽ học sinh ngồi học đúng t thế và
cho học sinh trả lời câu hỏi: Bạn ngồi học thế nào? Sau đó giáo viên làm
mẫu, cho học sinh làm thử, phân tích để các em biết t thế ngồi học đúng. Cụ
thể:
- T thế ngồi phải thoải mái. Hai tay phải đặt đúng điểm tựa quy định
mới điều khiển cây bút theo sự chỉ huy của não đợc. Ngồi quá cao đầu phải
cúi gằm xuống, ngồi thấp quá đầu phải nhìn với lên. Khoảng cách từ mắt tới
vở từ 25cm-30cm là vừa, không đợc nhìn quá gần vở vì nh thế dễ gây tật cận
thị.
- Cột lng ở t thế thẳng đứng, vuông góc với mặt ghế ngồi. Không ngồi
vặn vẹo lâu dần thành có tật, dẫn đến lệch cột sống rất khó chữa sau này.
- Hai chân thoải mái, không để chân co, chân duỗi khiến cột sống lệch
vẹo và chữ viết sẽ xiên lệch theo.
- Tay trái để xuôi theo chiều ngồi, giữ lấy mép vở cho khỏi lệch, đồng
thời làm điểm tựa cho trọng lợng nửa ngời bên trái.
- ánh sáng phải đủ độ và thuận chiều, chiếu sáng từ bên phải sang, không bị
sấp bóng.
Ngoài ra giáo viên cần tạo cho các em trạng thái tinh thần phải phấn
chấn, hứng thú. Không viết khi quá mệt mỏi, buồn ngủ uể oải, phân tán về
chuyện khác, gò bó gợng ép, cỡng bứcTránh nhất t tởng viết qua quýt cho
xong.
8
3.2-Rèn cách cầm bút để vở đúng quy định:
Trong thực tế rất nhiều bậc phụ huynh dạy con viết chữ ngay từ Mầm
non nhng cha chú ý đến cách cầm bút nh thế nào cho đúng. Điều đó ảnh h-
ởng rất nhiều tới chữ viết của các em. Do đó giáo viên cần uốn nắn và rèn
cho các em cách cầm bút để vở đúng quy định:
- Tay phải cầm chắc bút bằng 3 ngón tay (ngón cái, ngón trỏ, ngón
giữa). Đầu ngón trỏ cách đầu ngòi bút khoảng 2,5cm. Mép bàn tay là điểm
tựa của cánh tay phải khi đặt xuống bàn viết. Lúc viết, điều khiển cây bút
bằng các cơ ở cổ tay và các ngón tay.
- Không để ngửa bàn tay quá, tạo nên trọng lợng tì xuống lng của hai
ngón tay út và áp út. Ngợc lại không đợc úp qua nghiêng bàn tay về bên trái.
- Các t thế cầm bút không đúng sẽ dẫn đến có tật sau này sẽ rất khó
sửa chữa nên cần phải thực hiện thật nghiêm túc.
3.3-Cách sử dụng bút khi viết:
- Cầm bút xuôi theo chiều ngồi, Góc độ bút đặt so với mặt giấy khoảng
45 độ. Tuyệt đối không cầm bút dựng đứng 90 độ.
- Đa bút từ trái sang phải, từ trên xuống dới. Các nét đa lên hoặc đa
sang ngang phải thật nhẹ tay (nếu dùng ngòi bút mài thì hơi nghiêng ngòi
bút). Các nét đa xuống tỳ mạnh tay, ngòi bút đa ngay ngắn. Có làm đợc nh
thế mới tạo đợc chữ nét thanh nét đậm.
3.4- Rèn cho học sinh viết đúng mẫu, đúng quy trình các chữ cái:
Nếu cùng một lúc đòi hỏi các em học sinh lớp 1 viết đúng, viết đẹp
ngay là điều thiếu thực tế, khó có thể thực hiện đợc. Do vậy cần đặt ra kế
hoạch rèn chữ hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng một cách cụ thể.
*Đối với lớp 1 các con vừa bớc vào làm quen với bút, vở do vậy muốn
học sinh viết chữ đẹp thì giáo viên cần lu ý cho học sinh luyện viết các nét cơ
9
bản: trớc hết tôi cho học sinh rèn các nét móc xuôi, móc ngợc, móc 2
đầu.Viết đúng và đẹp các nét các nét móc trên thì khi dạy các chữ n, m, i, u, ,
v,r, t học sinh có thể viết nhẹ nhàng.
Tiếp theo là dạy các nét khuyết trên, khuyết dới. Tôi chú trọng dạy cho
học sinh nắm đợc cách đặt bút, cách đa bút và viết thành thạo các nét khuyết
giúp học sinh học các chữ cái l, b, k, g, y một cách dễ dàng.
Sau khi học sinh đã viết thành thạo các nét sổ dọc, ngang ngay ngắn,
nét khuyết thanh thạo tôi chuyển sang dạy học sinh viết nét cong trái, cong
phải và nét tròn. Việc này có cơ hội giúp học sinh học các chữ o, c, x, ô, ơ, e,
ê, g, d, đ, q một cách nhẹ nhàng. Loại chữ này nhiều ngời cho rằng quá đơn
giản nhng thực tế dạy cho học sinh lớp 1 hầu hết tôi thấy khó nhất là chữ o và
dễ sai nhất là chữ o. Tôi cảm thấy khi dạy học sinh viết chữ o cũng rất khó
nói cho học sinh hiểu và viết đúng. Viết chữ o nh thế nào? Đặt bút từ đâu?
Chiều cao so với chiều ngang nh thế nào, chiếm tỉ lệ bao nhiêu? Để cho học
sinh lớp 1 dễ hiểu, dễ nắm đợc cách viết chữ o tôi kẻ 1 ô vuông lớn trên bảng
chia cạnh trên và cạnh dới của ô vuông thành 4 phần bằng nhau, kẻ một đờng
dọc để tạo thành hình chữ nhật, đánh dấu ở 4 điểm giữa các cạnh hình chữ
nhật dùng phấn màu chấm chấm() thành hình chữ o sau đó giáo viên tô lên
các dấu () vừa viết vừa hớng dẫn học sinh quan sát. Hớng dẫn xong cho học
sinh quan sát chữ o mẫu trên bìa cài chữ, sau đó cho học sinh tập viết vào
bảng con. Tôi nhắc học sinh cần phải nhớ điểm xuất phát và điểm dừng để
sau này viết vần, tiếng nhanh và đúng. Đặc biệt khi ghép con chữ o với các
chữ khác thì ở bên phải trên đầu chữ o phải tạo ra nét ảođể khi viết nhanh
và mềm mại.
* Để khắc phục tình trạng học sinh viết không đúng cỡ chữ tôi cho các
em luyện viết theo các nhóm chữ có cùng độ cao: 2,5 đơn vị, 2 đơn vị, 1,5
đơn vị, 1 đơn vị:
Nhóm chữ cao 2,5 đơn vị gồm: b, h, k, l, g, y; Kết hợp cho học sinh nhận
xét sự giống nhau và khác nhau của nhóm chữ này(Giống nhau cùng độ cao,
4 chữ b, h, k, l đều có nét khuyết trên, 2 chữ g, y có nét khuyết dới)
Nhóm chữ cao 2 đơn vị gồm:d, đ, p, q.
10
Chữ cao 1, 5 đơn vị: t
Nhóm chữ cao 1 đơn vị: gồm các chữ cái còn lại
3.5- H ớng dẫn kĩ thuật viết liền mạch:
Sau khi rèn dứt điểm các chữ cái tôi hớng dẫn học sinh viết tiếng và từ.
Để giúp học sinh lớp 1 viết nhanh tôi hớng dẫn các em kỹ thuật viết liền
mạch: thông thờng viết 1 tiếng nét bút đa liền mạch từ đầu đến cuối tiếng,
sau đó mới dừng lại ghi dấu chữ và dấu thanh:
Ví dụ: Viết tiếng bờ , ta viết âm b tr ớc nối liền với âm o thêm
dấu chữ ơ và ghi thanh huyền ở trên ơ thành tiếng bờ .
3.6- H ớng dẫn học sinh đánh dấu thanh đúng vị trí:
- ở đầu lớp 1 các em còn viết dấu thanh sai quy trình, dấu thờng quá to
nên trong bài dạy về các dấu thanh tôi thờng cho học sinh quan sát rất kĩ cấu
tạo, cách viết, và viết mẫu cho học sinh quan sát sau đó cho học sinh viết bảng
và viết vào vở. Với những học sinh viết dấu quá to tôi cho học sinh quan sát
các chữ viết mẫu phân tích và trong bài chấm tôi sửa lỗi thật cụ thể, dành thời
gian cho các em luyện lại tránh sai sót ở những lần viết sau.
- Khi dạy Tiếng Việt ta cần lu ý dạy các em đáng dấu thanh theo nguyên
tắc khoa học, tức là ghi dấu thanh vào âm chính của tiếng. (Dấu huyền , sắc,
hỏi, ngã đặt trên các chữ ghi âm chính, dấu nặng đặt dới chữ cái ghi âm
chính). Thông thờng các em đánh dấu thanh đúng, ít sai sót. Tuy vậy khi gặp
các tiếng có các vần gồm 2,3 chữ ghi nguyên âm đi liền nhau nh: oa, oe, uê,
uy, ia, ua, a, ao, eo, au, âu, ui. oeo thì không phải em nào cũng dễ dàng xác
định đợc đúng vị trí đánh dấu thanh. Để hiểu nguyên tắc khoa học, có tính
đến nguyên tắc thẩm mĩ, nói chung là phải diễn giải dài và không phải là dễ,
vì thế tôi đa ra một ví dụ: Nên đánh dấu thanh ở các trờng hợp sau, cách nào
là chính xác:
Miá hay mía
Khoẻ hay khỏe
Đùa hay đuà
11
Tôi hớng dẫn cho các em thêm một phụ âm cuối (nh n, m, nh, ng, c, t)
tạo thành tiếng mới mà đọc đợc thì dấu thanh đợc ghi vào chữ ghi nguyên âm
sau cùng của âm tiết.
Ví dụ: Khoẻ +n = khoẻn (đọc đợc) nên viết đúng là khoẻ
Ngợc lại, khi thêm bất kỳ phụ âm cuối nào vào sau tiếng mà tạo thành
một tiếng mới mà không đọc đựoc thì dấu thanh sẽ đánh vào chữ ghi nguyên
âm thứ hai tính từ phía sau âm tiết:
Ví dụ: Mía+ n = mían (không đọc đợc) nên viết là mía
Đùa +n = đùan (không đọc đợc) nên viết là đùa
3.7- Giúp học sinh nắm chắc quy tắc chính tả:
- Học sinh lớp 1 mới làm quen với chữ viết nên khi viết các em còn mắc
lỗi do không nắm chắc quy tắc chính tả. Nhiều em không phân biệt đợc lúc
nào ghi g- gh; ng- ngh; c-q-k: VD có một số em viết tiếng nghỉ lại viết là
ngỉ; quà viết thành coà; kẻ viết thành cẻ.
- Để khắc phục đợc những lỗi này tôi tổ chức cho học sinh chơi trò chơi
Ai nhanh- Ai đúng.
Nội dung là làm các bài tập dạng:
Nối:
c
k
im
ao
eo
Hoặc cho học sinh làm các bài tập dạng điền vào chỗ chấm:
VD:- ng hay ngh
Lắng .e
Bãi .ô
ỉ hè
à voi
4. Bản thân giáo viên cần gơng mẫu để học sinh noi theo:
Vai trò của ngời thầy là vô cùng quan trọng, chữ của ngời thầy đối với
các em học sinh ở bậc Tiểu học nhất là lớp 1 lại càng quan trọng hơn. Bởi vì
12
nhận thức của học sinh bậc Tiểu học là nặng về nhận thức cảm tính thông
qua trực giác. Muốn dạy cho học sinh viết chữ đúng, đẹp trớc hết và chủ yếu
phải do việc dạy dỗ công phu của ngời thầy, đồng thời ngời giáo viên cũng
phải có mẫu chữ đúng và đẹp. Bên cạnh bảng chữ mẫu in, chữ viết của giáo
viên là hình ảnh trực quan quan trọng nhất để học sinh soi ngắm và bắt chớc.
Giáo viên tiểu học chỉ cần viết chữ cẩu thả sẽ dẫn đến tác hại rất lớn, trẻ sẽ
bắt chớc cô, làm theo cô.Trong suy nghĩ của trẻ nhất là học sinh lớp 1 cô
giáo là ngời chúng tin tởng tuyệt đối, tất cả cô giáo làm đều là đúng, với trẻ
cô giáo là cô tiên mà. Do vậy tôi chú ý tự luyện chữ cho mình, cũng nh các
thầy cô giáo khác trong trờng tôi có một quyển luyện chữ để tập luyện thờng
xuyên và tham dự thi chữ đẹp hàng tháng cùng với học sinh.
- Chú ý thực hiện luyện chữ ngay trên kế hoạch dạy học của mình.
- Khi chấm bài cho học sinh tôi chú ý đến việc chữa lỗi, ghi điểm số
đúng mẫu. Với những lỗi sai của học sinh giáo viên không đợc gạch chéo vào
bài của học sinh mà phải sửa lỗi cụ thể, lời phê rõ ràng, làm nh thế không
những giữ vở học sinh sạch đẹp mà còn thể hiện sự tôn trọng học sinh.
- Tôi cố gắng mẫu mực khi viết trên bảng, coi việc trình bày trên bảng là
trang viết mẫu mực cho học sinh noi theo. Do vậy chữ viết cần đúng, rõ, đẹp
và ngay ngắn. Tên mỗi phân môn mỗi đề mục cần gạch chân. Khi giảng bài
tôi chú ý phát âm thật chuẩn, nhất là những lỗi mà địa phơng Xuân Trờng
còn hay mắc phải đó là nói ngọng những tiếng có phụ âm đầu l- n, ch- tr
5. Tổ chức tốt các phong trào thi đua:
- Phong trào viết chữ đúng và đẹp đã đợc Bộ GD-ĐT đã phát động từ
lâu. Phong trào đó vẫn đợc phát huy tốt ở nhiều trờng Tiểu học. Phong trào
này trờng chúng tôi vẫn duy trì đều đặn ở nhiều năm học. Muốn dạy học sinh
viết chữ đúng đẹp tôi không dừng ở giờ tập viết mà viết đúng đẹp phải thực
hiện ở tất cả các môn học, các tiết học. Duy trì thờng xuyên ý thức viết chữ
đúng đẹp. Tôi động viên học sinh thực hiện tốt phong trào Giữ vở sạch,
viết chữ đẹp. Hàng tuần tôi tổ chức cho học sinh thi Ai viết đúng và đẹp
nhất trong các buổi sinh hoạt cuối tuần. Mỗi tháng chấm Vở sạch chữ đẹp
13
một lần để xếp loại thi đua. Phong trào thi đua Vở sạch, chữ đẹp thực sự có
tác dụng động viên gây niềm hứng thú cho học sinh.
- Trong các ngày lễ (nh ngày 20- 11), tôi tổ chức cho các em thi viết
chữ đúng và đẹp. Mỗi bài viết đẹp của các em là món quà các em tặng cô
giáo. Những học sinh có vở sạch chữ viết đẹp, đúng mẫu đợc khen thởng kịp
thời, đợc triển lãm, trng bày trong phòng truyền thống của nhà trờng để cho
các bạn khác học tập.
- Tôi đã tổ chức cho học sinh lễ Kết bạnđể cùng luyện viết- nghĩa là
học sinh viết chữ đẹp tự nguyện kết bạn với một bạn viết cha đẹp, tôi xếp đôi
bạn đó ngồi cạnh nhau để tạo cho chúng có cơ hội học tập và giúp đỡ lẫn
nhau. Quả đúng là Học thầy không tày học bạn; thua thầy một dặm không
bằng kém bạn một ly, học sinh của tôi hăng say luyện tập và kết quả chữ
viết của các em chuyển biến rất nhanh.
III. Kết quả:
Với những biện pháp cụ thể nh trên, tôi đã đạt đợc những kết quả sau:
- Phụ huynh học sinh đã quan tâm tới phong trào Giữ vở sạch, viết
chữ đẹpcủa nhà trờng, đáp ứng yêu cầu của trờng, của cô giáo chủ nhiệm:
mua đầy đủ vở, bút viết, bảng con theo quy định. Nhiều gia đình đã chú ý
chuẩn bị góc học tập cho học sinh để học sinh luyện viết ở nhà khi các em
say mê luyện viết.
- Học sinh có hứng thú, có ý thức trong việc tập viết, khắc phục đợc
một số nhợc điểm khi viết. Chữ viết của học sinh đã dần đạt đến độ chuẩn và
đẹp hơn. học sinh lớp tôi đã có ý thức tập viết đúng t thế, hợp vệ sinh, viết
đúng quy trình và đẹp mắt, ghi dấu thanh đúng vị trí
Trong năm học này, sau thời gian (2 tháng)tôi đã tiến hành khảo sát lại
học sinh của lớp mình và thu đợc kết quả nh sau:
Xếp loại chữ
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét