Thứ Năm, 6 tháng 3, 2014

Sự cần thiết của hội nhập AFTA thực trạng và giải pháp

Như vậy , tự do hóa thương mại toàn cầu đI đôI với xu hướng bảo vệ lợi
ích quốc gia , hợp tác đI đôI với cạnh tranh là nội dung xuyên suốt trong các
quan hệ kinh tế song phương và đa phương.
Về cơ bản xu hướng này mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia, tuy
nhiên sự phân bố lợi ích lại rất khác nhau giữa các nước , các khối, các khu vực
trong đó các nước giàu , các nước công nghiệp vẫn chiếm ưu thế. Lợi ích quốc
gia bên cạnh hợp tác đa phương, Việt Nam cần chú trọng hợp tác song phương.
Việt Nam cần phối hợp nhịp nhàng giữa nhiều chímh sáchkinh tế đối
ngoại khác nhau , kết hợp mềm dẻo giữa song phương và đa phương , quan hệ
với các khối và cáckhu vực khác nhau , nhằm tạo sự cân bằng góp phần duy trì
sự hoà bình ổn định có lợi cho sự phát triển đất nước.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa nền kinh tế thế giới , Việt Nam
có thể trao đổi hàng hóa , dịch vụ , vốn, công nghệ , thông tin với thế giới, tạo cơ
sở và động lực cho tăng trưởng kinh tế ,nếu biết tận dụng thời cơ , vượt qua
nguy cơ , chuẩn bị đIều kiện để khai thác lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh
của đất nước ; nếu biết phối hợp với các nước khác để bảo vệ quyền lợi của
mình trên các diễn đàn quốc tế . Đồng thời Việt Nam cũng đứng trước thách
thức là có thể bị lôI cuốn một cách thụ động vào các quá trình phát triển của nền
thương mại quốc tế dẫn tới tụt hậu nghiêm trọnh so với các nước khác .Trong
khuôn khổ ASEAN và AFTA , nhất là sau năm 2006 Việt Nsm không còn bảo
hộ thị trường nội địa bằng hàng rào thuế quan thì thách thức cạnh tranh sẽ đặt ra
rất gay gắt đối với các sản phẩm trong nước , thậm chí ngay cả đối với sản phẩm
dùng nguyên liệu trong nước như xi măng, lọc dầu … Vì vậy việc tiếp tục đổi
mớikinh tế , đổi mới thể chế và chính sách để nâng cao năng lực cạnh tranh của
hàng hóa trên thị trường trong nước và quốc tế cần được xem là một biện pháp
cơ bản để Việt Nam hội nhập một cách hiệu quả vào nền kinh tế thế giới.
Trong bối cảnh tự do hóa thương mại , Việt Nam cần phảI xác định
rõ lợi thế so sánh của mình .vị trí dịa lý thuận lợi , ổn định chính trị, lao động
được đào tạo tiền lương rẻ…là những lợi thế so sánh quan trọng mà nước ta cần
5
khai thác triệt để để thu hút đầu tư của nước ngoàI và tăng khả năng xuất khẩu
hàng hóa . Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, nhất là trong đIều kiện phát triển
mạnh mẽ của khoa họa và công nghệ thì lợi thế so sánh đó không thể tồn tại lâu
dàI không phảI là bất biến mà có tính thời gian và thay đổi qua các giai đoạn .
Vì vậy bên cạnh khai thác lợi thế so sánh cần phảI hết sức chú ý đến việc xác
định rõ lợi thế cạnh tranh , khai thác tốt lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế nước
ta từ đó có những biện pháp phù hợp nhằm phát huy và tận dụng được các lợi
thế. Chất lượng sản phẩm , thời hạn giao hàng , đặc trưng và sự khác biệt của
sản phẩm hàng hóa , dịch vụ Việt Nam so với hàng hóa , dịch vụ các nước khác
trong việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng là những trưng của lợi thế cạnh
tranh cần phảI được quan tâm thích đáng . Bên cạnh vai trò của nhà nước trong
việc cảI thiện môI trường vĩ mô cho việc phát huy lợi thế cạnh tranh , cần phát
huy vai trò, tính chủ động, sáng tạo, ý thức trách nhiệm,quyền lợi của nhà kinh
doanh Việt Nam. Phát triển và tận dụng lợi thế cạnh tranh đang là chiến lược và
là động lực tiềm tàng lâu dai để các nước hội nhập một cách có hiệu quả vào nền
kinh tế toàn cầu. Lợi thế cạnh tranh là sức mạnh của trí tuệ có tính lâu dàI và cơ
bản để cho các nước hội nhập kinh tế thế giới và khu vực một cách chủ động và
thắng lợi.
Khai thác lợi thế so sánh đã khó, nhưng khai thác cạnh tranh còn khó
hơn nhiều. Lợi thế so sánh chủ yếu dựa vào tiềm năng sẵn có của đất nước về tàI
nguyên thiên nhiên, lao động, vị trí địa lý. Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu
hóa kinh tế thế giới và trình độ phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện nay
của thế giới, lợi thế này không còn có ý nghĩa`to lớn như trong thập kỷ 60,70 và
sẽ trôI qua nhanh chóng . Còn lợi thế cạnh tranh, lai đang giữ vai trò ngày càng
quan trọng, đang là lợi thế tiềm tàng cơ bản cho công cuộc cạnh tranh trên quy
mô toàn cầu. Chỉ có xem xét trên khía cạnh này, mới có thể lý giảI được tại sao
nhiều nước không giàu, thậm chí nghèo tàI nguyên thiên nhiên , như Nhật Bản,
Singapore, Hàn Quốc….lại tạo lên những thần kỳ về kinh tế . Xét về mặt lợi thế
cạnh tranh, Việt Nam không dễ một lúc đã có thể cạnh tranh vững vàng và thắng
6
lợi trên thị trường thế giới và hình như không phảI đã có nhiều người, nhất là
trong bộ máy nhà nước nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của nó. Để có thể đạt
được lợi thế cạnh tranh cần có hai đIều kiện .Một là, có môI trường kinh tế vĩ
mô mang tính cạnh tranh và thuận lợi cho các nhà đầu tư, trong đó chính phủ
đóng vai trò then chốt để vừa tạo ra môI trường đó vừa mở đường và hỗ trợ cho
khu vực kinh doanh thâm nhập và cạnh tranh được trên thị trường thế giới. Hai
là, phảI có môI trường kinh tế vĩ mô năng động và hoạt động có hiệu quả, trong
đó nhà kinh doanh đóng vai trò then chốt, có năng lực quản lý cao, vừa có tính
trách nhiệm xã hội.
Quốc tế hóa sản xuất tiếp tục phát triển và ngày càng đI vào chiều sâu,
đặc biệt là chiều dọc, vừa làm tăng khả năng và cơ hội tăng trưởng cho mỗi
nước và cho toàn bộ nền kinh tế thế giới, vừa làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa nền kinh tế các nước và khu vực, các vùng khác nhau. Vai trò của các công
ty đa quốc gia, xuyên quốc gia ngày càng mạnh mẽ và chi phối tới sự vận động
của nền kinh tế thế giới. Có ý kiến dự đoán rằng thế kỷ 21 là thế kỷ kinh tế của
các công ty, hiệp hội xuyên quốc gia và đa quốc gia.
Sự phân công lao động và phân công sản xuất quốc tế vẫn tiếp tục diễn
ra ngày càng mạnh mẽ cả về chiều sâu và chiều rộng, do đó vấn đề đặt ra là Việt
Nam phảI tham gia như thế nào trong quá trình này. Việc xác định được các lợi
thế so sánh và lợi thế cạnh tranh do vậy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Nó giúp
chúng ta xác định rõ các ngành công nghiệp thích hợp của Việt Nam tham gia có
hiệu quả nhất vào quá trình quốc tế hoá đó.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và tự do hóa nền thương mại thế
giới không thể xây dựng cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh theo quan niệm trước đây,
thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa tập trung, nghĩa là Việt Nam tự lực xây dựng đủ
các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng và bảo hộ chúng. Mà trong
tương lai Việt Nam phảI biết tận dụng cơ cấu nền kinh tế thế giới, khu vực để có
thể hoàn thiện hóa nền kinh tế của mình.
7
Việc cạnh tranh trên thị trường vốn và thị trường quốc tế ngày càng
khắc nghiệt. Các nước đều cần vốn để chuyển cơ cấu nền kinh tế. Các nước
ASEAN và Trung Quốc là những đối thủ cạnh tranh tiềm tàng trong thu hút vốn
nước ngoàI đối với Việt Nam. Do vậy Việt Nam cần phảI cạnh tranh, nhanh
chóng cảI thiện môI trường đầu tư của mình .
Cách mạng khoa học công nghệ với tư cách là động lực của việc quốc tế
hóa và tự do hóa nền kinh tế thế giới tiếp tục phát triển cả về chiều rộng và chiều
sâu với đặc trưng là tốc độ thương mại hóa các thành quả khoa học công nghệ
diễn ra nhanh chóng, thậm chí tức khắc trên quy mô thị trường toàn cầu và có sự
lan toả sâu, xa tới nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế xã hội. Hơn lúc
nào hết, chúng ta phảI thấy rõ sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học và thương mại,
cũng như quy mô tác động của nó.
Việt Nam cần có chiến lược thúc đẩy, tăng tốc thu hút đầu tư nước
ngoàI và nhất là đối với các công ty lớn, các công ty nắm tiềm lực công nghệ và
tiến bộ khoa học kỹ thuật của thế giới để tiếp cận nhanh chóng với công nghệ
tiên tiến của thế giới, từ đó mới có thể thực hiện được chiến lược “ đI tắt đón
đầu”,” đuổi kịp “ các nước trong khu vực và thế giới về công nghệ và đặc biệt
phảI tạo cơ hội để thương mại hóa các thành quả công nghệ và gắn kết với nền
kinh tế thế giới. Muốn vậy +phảI đầu tư lớn vào con người và giáo dục, khoa
học; phảI có chiến lược cử người đI học và nắm bí quyết công nghệ ở nước
ngoàI. Nhưng thách thức lớn đối với Việt Nam là phảI xử lý tốt mối quan hệ
giữa nhu cầu đầu tư dàI hạn, chiến lược áp lực đầu tư ngắn hạn.
Trên cơ sở sự báo su hướng của nền chính trị thế giới là hoà bình, ổn
định. Mặc dù có thể có những biến động, xung đột cục bộ, xu hướng tăng trưởng
của nền kinh tế thế giới và khu vực và cơ bản có triển vọng, tạo cơ sở cho nền
kinh tế Việt Nam trong thời gian dàI sẽ có. Kinh tế thế giới đang phục hồi và sẽ
tăng trưởng trung bình ở mức cao trong các năm tới, đạt mức tăng trung bình
4,4% và theo dự đoán mới đây do tác động của cuộc khủng hoảng tàI chính
Châu á, tốc độ này sẽ chỉ là 3,7% trong giai đoạn 1997 – 2000. Kinh tế Châu á
8
mặc dù có những dự báo bi quan song vẫn dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng
trưởng; riêng tốc độ tăng GDP của các nước đang phát triển của khu vực sẽ đạt
trung bình là 7,5%. Việt Nam nằm ở khu vực này vào trao đổi chủ yếu với khu
vực mậu dịch tự do, do vậy đây là cơ hội lịch sử hiếm thấy cho Việt Nam hội
nhập kinh tế thế giới và khu vực nếu biết tận dung khả năng và lợi thế từ thành
công của đổi mới kinh tế trong 10 năm qua để đạt tốc độ tăng trưởng cao trong
một thời gian dàI sắp tớt.
Tuy nhiên, bên cạnh lợi ích cơ bản thu hút được từ việc tỵ do hoá thương
mại và đầu tư toang cầu, không được xem thường các sung đột giữa các nền văn
hoá khác nhau, giữa các giá trị văn hoá Phương Đông và Phương Tây… Thậm
trí có thể xảy ra chiến tranh. Xung đột không chỉ còn ở dạng tiềm tàng mà đã
bùng nổ lẻ tẻ trên thế giới, nhất là ở vùng Trung Đông… Đe doạ tới nhiều
hướng phát triển lạc quan của nền kinh tế thế giới.
Xét cho cùng, để có thể hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực,
trước hết phảI biết khai thác tiềm lực trong nước, phảI có con người và tổ chức,
trong đó đặc biệt là doanh nghiệp có khả năng hội nhập với kinh tế thế giới, bởi
lẽ có phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước thì mới có khả
năng hội nhập kinh tế thế giới thành công.
1.2- Toàn cầu hoá kinh tế – xu thế phát triển của thời đại.
Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế mới của quá trình phát triển
kinh tế thị trường, phản ánh trình độ cao của lực lượng sản xuất xã hội mà ở đó
phân công lao động quốc tế và quốc tế hóa sản xuất đã trở thành phổ biến.
Trước khi phương thức sản xuất TBCN ra đời, do trình độ lực lượng sản
xuất thấp kém, giao thông chưa phát triển, việc sản xuất hàng hóa và trao đổi
hàng hóa còn bị giới hạn, năng suất lao động thấp. Khi diễn ra cuộc cách mạng
công nghiệp, đời sống kinh tế các nước có sự thay đổi căn bản. Tình trạng tự cấp
tự túc, bế quan toả cảng được thay thế bằng sự sản xuất và tiêu dùng mang tính
quốc tế.Đặc biệt sau đó do tác động mạnh mẽ của cách mạng khoa học kỹ thuật,
9
lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hết sức nhanh chóng.
Thêm vào đó là thắng lợi của phong trào giảI phóng dân tộc làm cho hệ thống
phân công lao động xã hội được phân bố tốt gọi là toàn cầu hóa kinh tế . Toàn
cầu hóa kinh tế là quá trình phát triển mới của phân công lao động xã hội và hợp
tác sản xuất vượt ra khỏi biên giơí quốc gia vươn tới quy mô toàn thế giới đạt
đến trình độ chất lượng mới. Kể từ những năm 80 đến nay toàn cầu hóa phát
triển với tốc độ nhanh chóng đặc biệt là trong lĩnh vực thương mại.
Đặc trưng nổi bật của toàn cầu hóa kinh tế là nền kinh tế thế giới tồn
tại và phát triển như một chỉnh thể, trong đó mỗi quốc gia là một bộ phận có
quan hệ tương tác lẫn nhau với nhiều hình thức phong phú. Tham gia toàn cầu
hóa kinh tế, các quốc gia vẫn hoàn toàn độc lập về chính trị, xã hội, vẫn là chủ
thể tự quyết định con đường phát triển của mình. Toàn cầu hóa kinh tế làm cho
các quốc gia ngày càng phụ thuộc vào nhau hơn về vốn, kỹ thuật, công nghệ,
nguyên liệu và thị trường. Đến nay toàn cầu hóa đã cuốn hút hầu hết các quốc
gia ở các châu lục, đã có 27 tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu ra đời và hoạt
động. Đây là sự phát triển chưa từng có. Toàn cầu hóa kinh tế, mặc dù cho đến
nay vẫn có những quan đIúm tráI ngược nhau, nhưng rõ ràngnó là xu thế phát
triển của thời đại không thể khác đI được. Chỉ quốc gia nào bắt kịp xu thế này,
biết tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức mới đứng vững và phát triển. Cự tuyệt
hay khước từ toàn cầu hóa kinh tế tức là tự gạt mình ra khỏi sự phát triển.
10
Trên cơ sở dự báo xu hưóng của nèn chính trị thế giới là hoà bình, ổn
định. Mặc dù có thể có những biến động và xung đột cục bộ , xu hướng tăng
trưởng của nền kinh tế thế giới và kkhu vực về cơ bản có triển vọng , tạo cơ sở
cho nền kinh tế Việt Nam trong một thời gian dài sẽ có. Kinh tế thế giới đang
phục hồi và sẽ tăng trưởng trung bình ở mức cao trong các năm tới , đạt mức
tăng trung bình 4,4%và theo dự đoán mới đây do tác động của cuộc khủng
hoảng tài chính châu â , tôc độ này sẽ chỉ là 3,7% trong giai đoạn 1997 – 2000.
Kinh tế châu á mặc dầu có những dự báo bi quan song vẫn dẫn đầu thế giới về
tốc độ tăng ; riêng tốc độ tăng GDP của các nước đang phát triển của khu vực sẽ
đạt trung bình 7,5%. Việt Nam nằm ở khu vực này và trao đổi mậu dịch chủ yếu
với khu vực này ,do vậy ,đây là cơ hội lịch sử hiếm thấy cho Việt Nam hội nhập
kinh tế thế giới và khu vực nếu biết tận dụng kả năng và lợi thế từ thành công
của đổi mới kinh tế trong 10 năm qua để đạt tốc độ tăng trưởng cao trong một
thời gian dài sắp tới.
Tuy nhiên , bên cạnh các lợi ích cơ bản thu được từ việc tự do hoá thương
mại và đầu tư toàn cầu , không được xem thường các xung đột giữa các nền văn
hoá khác nhau, giữa các giá trị văn hoá của phương Tây với các giá trị văn hoá
của phương Đông … Thậm chí có thể xảy ra chiến tranh , xung đột không chỉ
còn ở dạng tiềm tàng, mà đã bùng nổ lẻ tẻ trên thế giới , nhất là ở vùng Trung
Đông … đe doạ tới chiều hướng phát triển lạc quan của nền kinh tế thế giới.
Xét cho cùng , để có thể hội nhập vào nền kinh tế khu vực và kinh tế thế
giới , trước hết phải biết khai thác tiềm lực trong nước , phải có con người và
các tổ chức, trong đó đặc biệt là các doanh nghiệpcó khả năng hội nhập với thế
giới , bởi lẽ có thể phát huyvà sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong nước thì
mới có khả năng hội nhập kinh tế thế giới thành công.
11
2. THAM GIA HỘI NHẬP KINH TẾ LÀ XU THẾ TẤT YẾU ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP
CÔNG NGHIỆP HOÁ , HIỆN ĐẠI HOÁ CỦA VIỆT NAM.
2.1. Tính tất yếu khách quan tham gia hội nhập kinh tế.
Tham gia hội nhập kinh tế là quá trình điều chỉnh chính sách kinh tế , tạo một
thị trường mạnh mẽ để tự do hoá trên mọi lĩnh vực về kinh tế đồng thời sẵn sàng
vận dụng sự ưu đãi của các thành viên khác cho mình để phát triển sản xuất , mở
rộng thị trường . Tham gia hội nhập kinh tế quốc tế làm tăng khả năng phối hợp
chính sách và tập trung mọi nỗ lực của các quốc gia nhằm giải quyết vấn đề kinh
tế mang tính toàn cầu. đồng thời nó cũng tạo khả năng phân bố nguồn tài
nguyên, kết quả phát triển của khoa học kỹ thuật của nhân loại và các nguồn lực
tài chính trên phạm vi toàn cầu góp phần phát triển kinh tế của mỗi quốc gia.
Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế được tạo điều kiện cắt giảm các khoản chi
về an ninh , quốc phòng tập trung cho sự nghiệp CNH – HĐh đất nước đồng
thời có thể ổn định về kinh tế chính rị xã hội . Mặt khác tham gia hội nhập kinh
tế làm cho các quốc gia đan xen phụ thuộc lẫn nhau dẫn đến sự bình đẳng trong
sự giao lưu và quan hệ kinh tế quốc tế , tránh tình trạng cô lập , tạo điều kiện
cho Việt Nam học hỏi kinh nghiệm trong việc hoạch định chính sách phát triển
kinh tế , tổ chức sản xuất … Vì vậy, trước các điều kiện đặt r a đó thì hội nhập
kinh tế của Việt Nam là một tất yếu.
2.2. Những cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế của Việt Nam.
Là một nước đang phát triển tham gia hội nhập kinh tế quốc tế , nước ta sẽ có
những cơ hội mới để phát triển. Đó là :
Tạo khả năng mở rộng thị trường ra nước ngoài trên cơ sở các hiệp định
thương mại đã ký kết với các nước trong khu vực và trên thế giới : Nừu thực
hiện đầy đủ các cam kết trong AFTA thì đến năm 2006 hàng công nghiệp chế
biến có xuất xứ từ nước ta sẽ được tiêu thụ trên tất cả các thj trường các nức
ASEAN với dân số trên 500 triệu người và GDP trên 700 tỷ USD. Nừu sau năm
12
2000 , nước ta gia nhập UTO thì sẽ được hưởng những ưu đãi dành cho nước
đang phát triển theo quy chế tối huệ quốc trong quan hệ với 132 nước đó dễ
dàng hơn. Từ 2020 , hàng rào thuế quan của các nước APEC sẽ được rỡ bỏ đây
là cơ hội để nước ta xuất khẩu hàng hoá vào các nước thành viên APEC.
Có cơ hội mở rộng thu hút các nguồn vốn từ nước ngoài : Tham gia hội
nhập kinh tế quốc tế là cơ hội thị để thị trường nước ta được mở rộng , điều này
sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư . Họ sẽ mang vốn và công nghệ vào nước ta ,sử dụng
lao động và tài nguyên vốn có của nước ta , làm ra các sản phẩm trên thị trường
khu vực và thế giới với các ưu đãi mà nước ta có . Cơ hội mở rộng thị trường
kéo theo cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài . Đây cũng là cơ hội để thúc đẩy
các doanh nghiệp trong nước huy động và sử dụng vốn có hiệu quả .
Tranh thủ được kỹ thuật , công nghệ tiên tiến của các nước đi trước để
đẩy nhanh các tiến trình của các nước đi trước để đẩy nhanh tiến trình CNH
HĐH tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho công cuộc xây dựng CNXH . Hội nhập
kinh tế quốc tế là con đường để khai thông thị trường nước ta với thế giới , tạo
ra môi trường đầu tư hấp dẫn có hiệu quả , qua đó các kỹ thuật công nghệ nước
ngoài . Nhằm phát triển năng lực kỹ thuật công nghệ quốc gia . Trong canh tranh
quốc tế có thể công nghệ này là cũ đối với các nước phát triển nhưng lại là mới
và có hiệu quả tại một nước đang phát triển như Việt Nam .
Tạo cơ hội mở rộng giao lưu các nguồn lực của nước ta với các nước : với
dân số 76,3 triệu người nguồn nhân lực của nước ta khá dồi dào , nhưng không
hội nhập thì việc sử dụng trong nước bị lãng phí , kém hiệu quả . Song bên cạnh
những cơ hội trên hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt nước ta trước những khó
khăn và thách thức như :
Tham ra vào các tổ chức kinh tế quốc tế để đi đến tự do hoá thương mại
tức là chấp nhận tư cách thành viên cạnh tranh ngang bằng với các nước khác ,
nhưng hiện nay vẫn còn tụt hậu khá xa về kinh tế so với nhiều nứơc trong các tổ
13
chức kinh tế mà ta đã tham gia . Trên thị trường nội địa , do kỹ thật công nghệ
và quản lý còn kém nên nhiều sản phẩm của ta thiếu sức cạnh tranh với mặt
hàng cùng loại cả về số lượng và chất lượng và giá cả .
Ví dụ : Đường RS của ta giá xuất xưởng năm 1999 là 340-400 USD/tấn
nhưng giá nhập khẩu chỉ có 260-300USD/Tấn .
Trên thị trường thế giới , ta mới xuất khẩu chủ yếu là các nguyên liệu và
sản phẩm sơ chế như dầu thô gạo Trong khi đó , giá cả các mặt hàng nguyên
liệu và sơ chế lại bấp bênh , hay bị tác động xấu bất lợi cho xuất khẩu . Tham
gia toàn cầu hóa kinh tế tức là nước ta chấp nhận những chấn động có thể xẩy ra
trong hệ thống kinh tế toàn cầu . Trong trường hợp đó , nếu năng lực quản lý
kinh tế vi mô kém , hệ thống tài chính ngân hàng lạc hậu , tệ tham nhũng và
quan liêu hoành hành không chủ động phòng vệ tich cực thì nền kinh tế khó
tránh khỏi sự đổ vỡ , khủng hoảng . Đây là một thách thức lớn đối với nước ta .
2.3. Những điều kiện cần thiết để tiến đến việc xây dựng nền kinh tế tự chủ
và chủ động trong việc hôị nhập vào nền kinh tế quốc tế .
Về mặt khoa học , việc trình bầy lý luận để CNH HĐH xây dựng nền kinh
tế độc lập tự chủ khá dễ , vì chỉ cần căn cứ trên lý luận Mác về 2 KVSX , khu
vực 1 sản xuất các máy và khu vực 2 sản xuất hàng tiêu dùng . Do hiệu quả cao
của khu vực sản xuất 1 nên ưư tiên cấp vốn ngoại tệ và tiền nội cho KVSX1 .
Ngoài ra , cũng nên bổ túc lý luận Mác bằng kinh nghiệm người Nhật và người
Hàn Quốc về việc sản xuất hàng tiêu dùng cấp cao để thay hàng ngoại và để
tăng nhanh suất khẩu , tạo điều kiện thực hiện xuất siêu . Các nhà kinh tế cũng
đều đồng ý phải nâng cao đầu tư nên 30% GDP thì mới thực hiện được việc phát
khởi
Tuy nhiên việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ vấp phải rất nhiều khó
khăn với nền kinh tế thị trường không có tổ chức và kế hoạch.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét