Thứ Tư, 5 tháng 3, 2014

Lý luận chung về huy động vốn của các doanh nghiệp

Vốn là điều kiện không thể thiếu để thành lập một doanh nghiệp. Về mặt
pháp lý, mỗi doanh nghiệp khi thành lập đều phải có một lượng vốn nhất định và
phải lớn hơn hoặc bằng mức vốn pháp định do Nhà nước quy định đối với lĩnh
vực kinh doanh đó. Như vậy vốn lúc này có vai trò đảm bảo sự hình thành và tồn
tại của doanh nghiệp trước pháp luật.
Giá trị vốn ban đầu có thể ít hoặc nhiều tuỳ theo quy mô, ngành nghề, loại
hình doanh nghiệp. Vốn pháp định ở Việt Nam chỉ quy định cho một số ngành nghề
có liên quan đến tài chính như Chứng khoán, Bảo hiểm,Kinh doanh vàng và Kinh
doanh tiền tệ.
Đối với các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác mà Nhà nước không quy
định giá trị vốn ban đầu tối thiểu thì giá trị vốn khi thành lập có thể dao động từ
hàng triệu đến hàng tỷ đồng tuỳ khả năng của người thành lập doanh nghiệp.
1.1.2.2. Vốn là cơ sở cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Vốn là điều kiện cơ bản và thiết yếu để tiến hành bất kỳ quá trình và loại hình
sản xuất kinh doanh nào. Điều này thể hiện rõ trong hàm sản xuất cơ bản P= F(K,
L, T), vốn (K) chính là 1 trong 3 yếu tố cơ bản của hàm sản xuất, bên cạnh các yếu
tố lao động (L) và công nghệ (T). Hơn nữa, trong hàm sản xuất này thì vốn có
thể coi là yếu tố quan trọng nhất bởi vì lao động và công nghệ có thể mua được
khi có vốn.
Sau khi thành lập, doanh nghiệp phải tiến hành sản xuất kinh doanh. Hoạt
động thực tế hàng ngày đòi hỏi phải có tiền để chi tiêu, mua sắm nguyên vật liệu,
máy móc; trả lương Số tiền này không thể lấy ở đâu khác ngoài nguồn vốn của
doanh nghiệp. Khi nguồn vốn tạm thời không đáp ứng đủ nhu cầu của hoạt động sản
xuất kinh doanh thì doanh nghiệp sẽ lâm vào tình trạng khó khăn về ngân quỹ.
Các hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp tạm thời bị đình trệ, suy giảm. Nếu
tình hình này không được khắc phục kịp thời, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng
khó khăn tài chính triền miên; hoạt động sản xuất kinh doanh bị gián đoạn; tâm lý
cán bộ công nhân viên hoang mang; mất uy tín với bạn hàng, chủ nợ và Ngân
hàng. Những khó khăn này có thể nhanh chóng đưa công ty đến kết cục cuối cũng
5
là phá sản, giải thể hoặc bị sát nhập với công ty khác.
1.1.2.3. Vốn là cơ sở cho việc mở rộng phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp
Vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh mà
còn giúp doanh nghiệp mở rộng và phát triển. Trong quá trình phát triển của
mình, doanh nghiệp luôn mong muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, giữ vững và
vươn lên trong thị trường. Để làm được điều đó, đòi hỏi doanh nghiệp phải liên tục
đổi mới, đầu tư, tái đầu tư, cải tiến máy móc, thiết bị, công nghệ, hệ thống phân
phối sản phẩm Kỷ nguyên của công nghệ và sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ
càng tạo sức ép cho doanh nghiệp; buộc phải liên tục làm mới mình, đổi mới
không ngừng nếu không muốn giẫm chân tại chỗ hay bị tụt hậu. Để làm được tất
cả những công việc đó doanh nghiệp không thể không cần đến nguồn vốn đầu tư
mở rộng sản xuất kinh doanh.
Thực tế cho thấy nhu cầu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh trong các
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất lớn. Nhiều doanh nghiệp do không có
nguồn vốn bổ sung kịp thời, đủ lớn nên đã bị mất đi vị trí của mình trên thị
trường.
Vốn còn là nhân tố cực kỳ quan trọng giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng
cạnh tranh trên thị trường. Vốn không những là cơ sở để doanh nghiệp có thể
nâng cao khả năng sản xuất, tăng cường mạng lưới phân phối mà còn có thể giúp
doanh nghiệp vượt qua các đối thủ cạnh tranh hay hơn nữa là loại bỏ họ bằng các
chính sách marketing hiệu quả (tăng cường quảng cáo, giảm giá, khuyến mại ).
Như vậy, vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần phải nhận thức vấn đề này một cách rõ ràng,
từ đó phải có một chính sách huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả để có thể tồn tại
và không ngừng phát triển trên thương trường.
1.1.3. Phân loại vốn
6
Tuỳ theo những tiêu thức và mục đích cụ thể mà có các cách phân loại vốn
khác nhau. Mỗi tiêu thức, mỗi mục đích khác nhau thì lại có những cách phân
loại phù hợp.
1.1.3.1. Căn cứ vào vai trò và đặc điểm chu chuyển giá trị của vốn
a. Vốn cố định
Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất kinh doanh ứng
ra trước để hình thành tài sản cố định của doanh nghiệp. Là một khoản đầu tư ứng ra
trước để mua sắm tài sản cố định có hình thái vật chất và tài sản cố định không có
hình thái vật chất. Vì vậy qui mô của vốn cố định quyết định đến qui mô của tài sản
cố định. Song đặc điểm vận động của tài sản cố định lại quyết định đến đặc điểm
tuần hoàn và chu chuyển giá trị của vốn cố định. Tài sản cố định trong các doanh
nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu mà đặc điểm của chúng là tham gia vào
nhiều chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, giá trị của tài sản cố định không bị hao
mòn hoàn toàn trong lần sử dụng đầu tiên mà nó được chuyển dịch dần dần từng
phần vào giá thành sản phẩm và nhiều chu kỳ sản xuất tiếp theo.
b. Vốn lưu động
Vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu
thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách thường
xuyên, liên tục mà đặc điểm của nó là luân chuyển không ngừng, luôn thay đổi hình
thái biểu hiện và chuyển dịch toàn bộ giá trị một lần trong toàn bộ chu kỳ sản xuất.
Với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thì tài sản lưu động (TSLĐ) gồm hai
loại TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông. TSLĐ sản xuất bao gồm các loại nguyên vật
liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc
chế biến. Còn TSLĐ lưu thông bao gồm các sản phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các
loại vốn bằng tiền,vốn trong thanh toán
TSLĐ nằm trong quá trình sản xuất và TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông
luôn vận động, thay thế và chuyển hóa lẫn nhau đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh
doanh được tiến hành liên tục.
7
Tuỳ theo những tiêu thức và mục đích cụ thể mà có các cách phân loại vốn
khác nhau. Mỗi tiêu thức, mỗi mục đích khác nhau thì lại có những cách phân
loại phù hợp.
1.1.3.2. Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn
Có thể chia nguồn vốn của doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thường
xuyên và nguồn vốn tạm thời.
a. Nguồn vốn thường xuyên
Là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng
bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Nguồn vốn này được dành cho
việc đầu tư mua sắm TSCĐ mới và một phần TSCĐ thường xuyên tối thiểu cho hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
b. Nguồn vốn tạm thời
Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử
dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm: Các khoản vay ngắn
hạn ngân hàng, các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý xem xét huy
động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp
thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp.
Cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài chính,
hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở xác
định quy mô về số lượng vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp cho
từng nguồn vốn đó.
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho người quản lý xem xét huy
động các nguồn vốn một cách phù hợp với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ kịp
thời vốn cho sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp.
Cách phân loại này còn giúp các nhà quản lý doanh nghiệp lập các kế hoạch tài
chính, hình thành nên những dự định về tổ chức nguồn vốn trong tương lai trên cơ sở
xác định quy mô về số lượng vốn cần thiết, lựa chọn nguồn vốn và quy mô thích hợp
cho từng nguồn vốn đó.
8
1.1.3.3. Căn cứ vào nguồn hình thành
a. Vốn chủ sở hữu
Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ sở hữu doanh nghiệp, bao gồm : vốn
điều lệ do chủ sở hữu đầu tư, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận và từ các quỹ của doanh
nghiệp,vốn từ phát hành cổ phiếu mới. Nguồn vốn chủ sở hữu liên quan mật thiết tới
hình thức sở hữu của doanh nghiệp. Hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình
thức tạo vốn của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp tư nhân vốn góp ban đầu và lợi nhuận để lại là chủ yếu , nhất là
doanh nghiệp tư nhân nhỏ chưa có điều kiện huy động từ các kênh khác
Doanh nghiệp nhà nước vốn góp ban đầu rất lớn .Trong quá trình hoạt động
nguồn vốn vay của tổ chức tín dụng được huy động là chủ yếu.
Doanh nghiệp cổ phần có ưu thế phát hành cổ phiếu, huy động khối lượng
vốn lớn.
b, Nợ phải trả
Là số vốn doanh nghiệp được sử dụng trong một thời gian nhất định bao gồm
những khoản vốn phát sinh một cách tự động và các khoản nợ phát sinh trong quá
trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân
kinh tế như: Nợ tiền vay ngân hàng và các tổ chức kinh tế khác, nợ phải trả cho người
bán, phải trả công nhân viên, phải nộp cho nhà nước
Thông thường một doanh nghiệp phải phối hợp cả hai nguồn vốn: Vốn chủ sở
hữu và nợ phải trả để đảm bảo nhu cầu vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Sự kết hợp chặt chẽ hai nguồn này phụ thuộc vào đặc điểm của doanh
nghiệp đang hoạt động cũng như quyết định của người quản lý doanh nghiệp trên cơ
sở xem xét tình hình chung của nền kinh tế và trên tình hình thực tế tại doanh nghiệp.
1.2. Huy động vốn của các doanh nghiệp
Trong điều kiện kinh tế thị trường, các phương thức huy động vốn của các
doanh nghiệp được đa dạng hoá. Tùy theo điều kiện phát triển của thị trường tài
chính của một quốc gia, tùy theo loại hình của doanh nghiệp và các đặc điểm hoạt
động kinh doanh cụ thể mà mỗi doanh nghiệp có thể có các phuơng thức tạo vốn và
huy động vốn khác nhau.
9
1.2.1. Huy động vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, bao gồm
phần vốn chủ doanh nghiệp bỏ vào đầu tư kinh doanh và phần hình thành từ kết
quả trong hoạt động kinh doanh.
Do vốn chủ sở hữu là vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp nên doanh
nghiệp không có trách nhiệm phải trả vốn đó cho người khác. Số liệu về vốn chủ
sở hữu giúp cho thấy trong số giá trị tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu được
dùng để đảm bảo trả nợ.
1.2.1.1. Vốn góp ban đầu
Khi doanh nghiệp được thành lập bao giờ doanh nghiệp cũng phải có một số
vốn ban đầu nhất định do cổ đông - chủ sở hữu góp. Khi nói đến nguồn vốn chủ
sở hữu của doanh nghiệp bao giờ cũng phải xem xét hình thức sở hữu của doanh
nghiệp đó. Vì hình thức sở hữu sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của
bản thân doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nuớc, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của
Nhà nước, chủ sở hữu doanh nghiệp Nhà nước là Nhà nước.
- Đối với các doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp
phải có một số vốn ban đầu cần thiết để xin đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Chẳng hạn, đối với công ty cổ phần, vốn góp của các cổ đông đóng góp là yếu tố
quyết định để hình thành công ty. Mỗi cổ đông là một chủ sở hữu của công ty và
chịu trách nhiệm hữu hạn trên giá trị cổ phần mà họ nắm giữ.
- Trong các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nguồn vốn cũng tương tụ như
trên; tức là vốn có thể do chủ nhân bỏ ra, do các bên tham gia, các đối tác góp
1.2.1.2. Nguồn vốn từ lợi nhuận không chia
Nguồn vốn tích luỹ từ lợi nhuận không chia là một phần lợi nhuận dùng để tái
đầu tư.
Quy mô vốn góp ban đầu của chủ doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng,
tuy nhiên, thông thường, số vốn này cần được tăng theo quy mô phát triển của
doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu doanh nghiệp
10
hoạt động có hiệu quả thì doanh nghiệp sẽ có những điều kiện thuận lợi để tăng
trưởng nguồn vốn.
- Đối với doanh nghiệp Nhà nước thì việc tái đầu tư phụ thuộc không chỉ vào
khả năng sinh lời của bản thân doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào chính sách tái
đầu tư của Nhà nước.
- Đối với công ty cổ phần: khi công ty để lại một phần lợi nhuận vào tái đầu
tư, tức là không dùng số lợi nhuận đó để chia lãi cổ phần, các cổ đông không
được nhận tiền lãi cổ phần nhưng bù lại, họ có quyền sở hữu số vốn cổ phần tăng
lên của công ty. Điều này một mặt, khuyến khích các cổ đông giữ cổ phiếu lâu
dài, nhưng mặt khác, dễ làm giảm tính hấp dẫn của cổ phiếu trong thời kỳ trước
mắt do cổ đông chỉ nhận được một phần cổ tức nhỏ hơn.
Vốn góp ban đầu và lợi nhuận không chia được gọi là hình thức tự tài trợ
của doanh nghiệp. Hình thức này có một số ưu nhược điềm sau.
* Ưu điểm:
- Doanh nghiệp không bị phụ thuộc vào bên ngoài (Ngân hàng )
- Tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp
- Giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân
hàng, tổ chức tín dụng hoặc với các cổ đông.
- Nguồn lợi nhuận để lại có tác động rất lớn đến nguồn vốn kinh doanh, tạo cơ
hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các năm tiếp theo.
* Nhược điểm:
- Khi doanh nghiệp không trả cổ tức cho cổ đông mà giữ lại lợi nhuận có
thể làm cho giá cổ phiếu trên thị trường giảm, ảnh hưởng xấu đến doanh nghiệp.
1.2.1.3. Phát hành cổ phiếu mới
Cổ phiếu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền và lợi ích sở hữu
hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với vốn của tổ chức phát
hành.
Doanh nghiệp có thể phát hành các loại cổ phiếu sau:
- C ổ phiếu thường : là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận để
lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần và không có
11
sự ưu tiên đặc biệt nào trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá
sản.
- C ổ phiếu ưu đãi : là loại cổ phiếu được phát hành bằng nguồn lợi nhuận để
lại hoặc các nguồn vốn chủ sở hữu hợp pháp khác của công ty cổ phần nhưng có sự
ưu tiên đặc biệt trong việc chi trả cổ tức hay thanh lý tài sản khi công ty phá sản.
Khi phát hành cổ phiếu ưu đãi, doanh nghiệp vừa tăng được vốn chủ sở hữu
nhưng lại không bị san sẻ quyền lãnh đạo, việc phát hành vẫn hấp dẫn người đầu
tư bởi tỷ lệ cổ tức được đảm bảo tương đối ổn định. Thông thường cổ phiếu ưu
đãi chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong vốn cổ phần của công ty.
* Đặc điểm của nguồn vốn do phát hành cổ phiếu.
- Điều kiện, thủ tục phát hành cổ phiếu.
Tuỳ từng quốc gia, vùng lãnh thổ mà điều kiện và thủ tục phát hành cổ phiếu
là khác nhau. Ở Việt Nam, điều kiện phát hành cổ phiếu được quy định trong
Điều 6 nghị định 144/2003/NĐ-CP. Doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu phải
có đủ các điều kiện sau:
+ Là công ty cổ phần có mức vốn điều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký phát
hành cổ phiếu tối thiểu 5 tỷ đồng Việt Nam.
+ Hoạt động kinh doanh của năm liền trước năm đăng ký phát hành phải có
lãi.
+ Có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ đợt phát hành cổ
phiếu.
Thủ tục phát hành: Doanh nghiệp lập hồ sơ đăng ký phát hành cổ phiếu
(được quy định chi tiết trong Điều 10 nghị định 144/2003/NĐ-CP) và nộp cho Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước.
- Quy mô phát hành cổ phiếu.
Doanh nghiệp chỉ được quyền phát hành một lượng cổ phiếu tối đa và được
gọi là vốn cổ phiếu được cấp phép.
- Thời hạn và lãi suất.
Cổ phiếu không có thời gian đáo hạn.
Cổ đông được doanh nghiệp trả cổ tức nhưng doanh nghiệp không phải trả
12
một mức cổ tức cố định và cũng không bắt buộc phải trả cổ tức cho cổ đông mà có
thể giữ lại để đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quản lý và giám sát.
Quyền lợi của doanh nghiệp và cổ đông gắn bó chặt chẽ với nhau do đó
doanh nghiệp phải chịu sự quản lý và giám sát chặt chẽ từ cổ đông. Ngoài ra
doanh nghiệp cũng phải chịu sự giám sát của Uỷ ban chứng khoán Nhà nước.
Cổ đông có quyền tham gia biểu quyết những vấn đề quan trọng của doanh
nghiệp.
- Áp lực thanh toán.
Doanh nghiệp không phải chịu áp lực thanh toán đối với cổ đông.
- Phương thức, phương tiện thanh toán.
Doanh nghiệp được quyền lựa chọn phương thức thanh toán 6 tháng hay 1 năm trả
cổ tức một lần. Phương tiện thanh toán cổ tức có thể là tiền mặt hay cổ phiếu.
- Tiết kiệm thuế.
Cổ tức được doanh nghiệp trả từ lợi nhuận sau thuế do đó doanh nghiệp
không tiết kiệm được thuế. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp có cổ phiếu được niêm
yết lần đầu tại Trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ được giảm 50% số thuế
TNDN phải nộp trong 2 năm kể từ khi thực hiện việc niêm yết.
1.2.2. Huy động vốn nợ
1.2.2.1. Tín dụng thương mại
a. Khái niệm & đặc điểm.
Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp, được thực
hiện dưới hình thức mua bán chịu, mua bán trả chậm hay trả góp hàng hoá. Đến
thời hạn đã thoả thuận doanh nghiệp mua phải hoàn trả cả vốn gốc và lãi cho
doanh nghiệp bán dưới hình thức tiền tệ.
- Khi doanh nghiệp mua nguyên liệu, hàng hoá chưa phải trả tiền ngay là
doanh nghiệp đã được các nhà cung cấp cho vay nên hình thức này còn được gọi là
tín dụng của nhà cung cấp.
- Để đảm bảo người mua chịu trả nợ khi đúng hạn, bên cạnh sự tin tưởng,
13
người bán chịu còn đòi hỏi phải có một chứng cứ pháp lý, đó chính là tờ giấy
chứng nhận quan hệ mua bán chịu nêu trên, tờ giấy chứng nhận này có thể do chủ
nợ lập để đòi tiền, hoặc do con nợ lập để cam kết trả tiền, nó được gọi là thương
phiếu. Thương phiếu tồn tại dưới 2 hình thức là hối phiếu và lệnh phiếu:
° Hối phiếu là chứng chỉ có giá do người bán chịu lập, yêu cầu người mua chịu
trả một số tiền xác định vào một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người
thụ hưởng.
° Lệnh phiếu là chứng chỉ có giá do người mua chịu lập, cam kết trả một số
tiền xác định trong một thời gian và ở một địa điểm nhất định cho người thụ
hưởng.
Như vậy, hối phiếu là lệnh đòi tiền do chủ nợ lập và chỉ sử dụng trong quan
hệ thương mại, còn lệnh phiếu thì do người mua chịu lập, được sử dụng không chỉ
trong quan hệ thương mại mà còn trong các quan hệ dân sự khác.
b. Chi phí của tín dụng thương mại
Trong trường hợp giá mua chịu và giá mua trả tiền ngay có sự chênh lệch,
thường là chênh lệch phải chịu giá cao hơn thì chi phí tín dụng thương mại chính là
chênh lệch giữa giá bán chịu và giá trả tiền ngay.
Thông thường, các nhà cung cấp thường có kèm theo các điều kiện chiết
khấu để khuyến khích khách hàng sớm trả tiền. Ví dụ, một giao dịch tín dụng
thương mại quy định điều kiện chiết khấu "2/15 net 40" trên hoá đơn, có nghĩa là
người bán sẽ chiết khấu 2% trên giá trị của hoá đơn mua hàng nếu người mua trả
tiền trong khoảng thời gian 15 ngày kể từ ngày giao hàng. Ngưới mua sẽ phải trả
toàn bộ giá bán sau 15 ngày và được trả chậm trong vòng 40 ngày.
Trong trường hợp này, chi phí của tín dụng thương mại là chi phí mà khi
người mua không thanh toán được tiền trong thời hạn được hưởng chiết khấu.
c. Ưu và nhược điểm của việc huy động vốn tín dụng thương
mại
- Ưu điểm:
Tiện dụng và linh hoạt trong kinh doanh do doanh nghiệp sẽ vay trực tiếp
bằng nguyên vật liệu và số lượng có thể thay đổi mỗi kì khi kí hợp
đồng.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét