Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
PhầnI: Tổ chức kiểm toán với việc xác định trình tự kiểm toán
1.1Kiểm toán và tổ chức kiểm toán
1.1.1 Tổ chức
Là mối liên hệ giữa các yếu tố trong một hệ thống .mức độ liên hệ này
được xác định qua biên độ giao động từ không đến một.ở mức độ
không,các yếu tố trong cùng một hệ thống không tồn tại bấ kì mối liên
hệ nào.khi đó hệ thống rơI vào tình trạng tan rã hay vô tổ chức.ở độ
một ,ngược lại ,các yếu tố quan hệ chặt chẽ,khoa học và hệ thống hoạt
động ở mức độ tối ưu .
1.1.2 Tổ chức kiểm toán
là kháI niệm bao hàm trình tự kiểm toán.một cuộc kiểm toán chỉ có
thể thực hiện thành công nếu đối tượng kiểm toán được xác định
thống nhất giữa chủ thể và khách thểkiểm toán,trong đó chủ thể kiểm
toán được xác định rõ mục tiêu và phạm vi kiểm toán vàkết hợp khéo
léo các phương pháp kĩ thuật theo trình tự kiểm toán trong khuôn khổ
những cơ sở pháp lý nhất định để thực hiện cuộc kiểm toán,thoả mãn
nhu cầu khách thể kiểm toán và các bên quan tâm.theo đó tổ chức
kiểm toán là một vấn đề cơ bản,có ý nghĩa quyết định sự thành côngvà
tính hiệu quả thực hiện một cuộc kiểm toán.
1.1.3 Trình tự
Là thứ tự diễn ra từ đầu đến cuối của một vấn đề đã được xắp xếp dự
tính từ trứơc lúc xảy ra hiện tượng đó.
1.1.4 Trình tự kiểm toán
Là một quy trình chung với 3 bước cơ bản
- Chuẩn bị kiểm toán
-Thực hành kiểm toán
- Kết thúc kiểm toán
PhầnII: Quy trình chung của công tác kiểm toán
2.1. Lập kế hoạch kiểm toán trong quy trình kiểm toán báo cáo tài
chính
.
2.1.1 Qui trình kiểm toán và vai trò của lập kế hoạch kiểm toán trong quy
trình kiểm toán Báo cáo tài chính.
3
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính kinh tế và tính hiệu lực của từng cuộc kiểm
toán cũng như để thu thập bằng chứng kiểm toán đầy đủ có giá trị làm căn cứ cho
kết luận của kiểm toán viên về tính trung thực và hợp lý của số liệu trên Báo cáo
tài chính, cuộc kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn
như sau: lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán, thực hiện kế hoạch
kiểm toán, hoàn thành cuộc kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán.
Sơ đồ 1: Ba giai đoạn của một cuộc kiểm toán Báo cáo tài chính
Giai đoạn I
L
ập
kế ho
ạ
ch và thiết kế
p
hươn
g
p
há
p
kiểm
Giai đoạn II
Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố báo cáo kiểm toán
Trong đó lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên mà các kiểm toán viên
cần thực hiện trong mỗi cuộc kiểm toán nhằm tạo ra các điều kiện pháp lý cũng
như những điều kiện cần thiết khác cho kiểm toán. Việc lập kế hoạch kiểm toán
đã được quy định rõ trong các Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành, Chuẩn mực
kiểm toán thứ tư trong10 Chuẩn mực Kiểm toán được thừa nhận rộng rãi ( GAAS
) đòi hỏi “ công tác kiểm toán phải được lập kế hoạch đầy đủ và các trợ lý, nếu
có, phải được giám sát đúng đắn”. Đoạn hai trong chuẩn mực kiểm toán Việt
Nam số 300 cũng nêu rõ kiểm toán viên và Công ty kiểm toán cần lập kế hoạch
kiểm toán để có thể đảm bảo được rằng cuộc kiểm toán đã được tiến hành một
cách có hiệu quả.
Như vậy việc lập kế hoạch kiểm toán không chỉ xuất phát từ yêu cầu chính của
cuộc kiểm toán nhằm chuẩn bị những điều kiện cơ bản trong công tác kiểm toán,
cho cuộc kiểm toán mà còn là nguyên tắc cơ bản trong công tác kiểm toán đã
được quy định thành chuẩn mực và đòi hỏi các kiểm toán viên phải tuân theo đầy
đủ nhằm đảm bảo tiến hành công tác kiểm toán có hiệu quả và chất lượng.
4
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
Lập kế hoạch kiểm toán là giai đoạn đầu tiên của một cuộc kiểm toán có vai trò
quan trọng, chi phối tới chất lượng và hiệu quả chung của toàn bộ cuộc kiểm
toán. Ý nghĩa của giai đoạn này được thể hiện qua một số điểm sau:
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên thu thập được các bằng chứng kiểm
toán đầy đủ và có giá trị làm cơ sở để đưa ra các ý kiến xác đáng về Báo cáo
tài chính, từ đó giúp các kiểm toán viên hạn chế những sai sót, giảm thiểu
trách nhiệm pháp lý, nâng cao hiệu quả công việc và giữ vững được uy tín
nghề nghiệp đối với khách hàng.
Kế hoạch kiểm toán giúp kiểm toán viên phối hợp hiệu quả với nhau cũng như
phối hợp hiệu quả với các bộ phận có liên quan như kiểm toán nội bộ, các
chuyên gia bên ngoài… Đồng thời qua sự phối hợp hiệu quả đó, kiểm toán
viên có thể tiến hành cuộc kiểm toán theo đúng chương trình đã lập với các
chi phí ở mức hợp lý, tăng cường sức mạnh cạnh tranh cho Công ty kiểm toán
và giữ uy tín với khách hàng trong mối quan hệ làm ăn lâu dài.
Kế hoạch kiểm toán thích hợp là căn cứ để Công ty kiểm toán tránh xảy ra
những bất đồng đối với khách hàng. Trên cơ sở kế hoạch kiểm toán đã lập,
kiểm toán viên thống nhất với các khách hàng về nội dung công việc sẽ thực
hiện, thời gian tiến hành kiểm toán cũng như là trách nhiệm của mỗi bên…
Điều này tránh xảy ra những hiểm lầm đáng tiếc giữa hai bên.
Ngoài ra, căn cứ vào kế hoạch kiểm toán đã được lập, kiểm toán viên có thể
kiểm soát và đánh giá chất lượng công việc kiểm toán đã và đang thực hiện,
góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán, từ đó càng thắt
chặt hơn mối quan hệ giữa Công ty kiểm toán với khách hàng.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, hoạt động kiểm toán nói chung cũng như
hoạt động kiểm toán độc lập nói riêng là những hoạt động hết sức mới mẻ. Trong
khi đó hành lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán chưa đầy đủ, nội dung, quy
trình cũng như phương pháp được vận dụng trong các cuộc kiểm toán của Việt
Nam mới ở giai đoạn đầu, nguồn tài liệu thiếu cả về số lượng, tính đồng bộ và
hạn chế về mặt chất lượng. Do vậy, kế hoạch kiểm toán cần được coi trọng để
đảm bảo chất lượng và hiệu quả của cuộc kiểm toán. Thực tiễn hoạt động kiểm
toán ở nước ta trong những năm vừa qua cho thấy kế hoạch kiểm toán được lập
đầy đủ và chu đáo là một trong những nhân tố hàng đầu đưa đến sự thành công
của cuộc kiểm toán cũng như dẫn đến sự thành công của các doanh nghiệp.
2.1.2 Trình tự giai đoạn lập kế hoạch và thiết kế các phương pháp kiểm toán
Để giúp cho việc lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán được thực
hiện có hiệu quả, các giám đốc kiểm toán và các kiểm toán viên cao cấp thường
lập chiến lược kiểm toán. Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 300, Kế
5
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
hoạch kiểm toán, chiến lược kiểm toán được hiểu là định hướng cơ bản cho một
cuộc kiểm toán dựa trên hiểu biết của Công ty kiểm toán về tình hình hoạt động
của khách hàng và trọng tâm của cuộc kiểm toán.
Lập kế hoạch kiểm toán( bao gồm kế hoạch kiểm toán tổng quát và kế hoạch
kiểm toán chi tiết) gồm sáu bước công việc như sau:
Sơ đồ 2: Lập kế hoạch và thiết kế phương pháp kiểm toán
Chu
ẩnbị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng và
th
ự
c hi
ệ
n các
Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro kiểm toán
Tìm hiểm hệ thống kiểm soát nội và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo chương trình
ể
2.2 Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 300 qui định: “ Kế hoạch kiểm toán phải được
lập một cách thích hợp nhằm đảm bảo bao quát hết các khía cạnh trọng yếu của cuộc
kiểm toán, đảm bảo phát hiện những vấn đề tiềm ẩn và cuộc kiểm toán được hoàn thành
đúng hạn”. Theo đó, việc lập kế hoạch kiểm toán thường được triển khai qua các bước
chi tiết sau.
6
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
2.2.1 Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Quy trình kiểm toán bắt đầu khi kiểm toán viên và Công ty kiểm toán thu nhận một
khách hàng. Thu nhận khách hàng là một quá trình gồm 2 bước: thứ nhất, phải có sự
liên lạc giữa kiểm toán viên với khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu được
kiểm toán và khi có yêu cầu kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá liệu có chấp nhận
yêu cầu đó hay không. Còn đối với những khách hàng hiện tại, kiểm toán viên phải
quyết định liệu có tiếp tục kiểm toán hay không? Trên cơ sở đã xác định được đối tượng
khách hàng có thể phục vụ trong tượng lai, Công ty kiểm toán sẽ tiến hành các công
việc cần thiết để chuẩn bị lập kế hoạch kiểm toán bao gồm: đánh giá khả năng chấp
nhận kiểm toán, nhận diện các lý do kiểm toán, lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán
và ký hợp đồng kiểm toán.
- Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán thông qua việc xem xét hệ thống kiểm soát
và xem xét tính liêm chính của ban giám đốc khách hàng thông qua việc phỏng vấn
các kiểm toán viên tiền nhiệm. Từ đó, xác định khả năng có thể kiểm toán được
công ty khách hàng.
- Nhận diện lý do kiểm toán của công ty khách hàng, để thực hiện việc này kiểm toán
viên có thể phỏng vấn trực tiếp ban giám đốc khách hàng hoặc dựa vào kinh nghiệp
của những cuộc kiểm toán trước.
- Lựa chọn đội ngũ nhân viên kiểm toán: trong quá trình lựa chọn nhân viên kiểm
toán phải chú trọng đến 3 vấn đề:
+ Trong nhóm hay trong đoàn kiểm toán phải có những người có khả năng giám sát
cuộc kiểm toán.
+ Tránh thay đổi kiểm toán viên cho các cuộc kiểm toán đối với một khách hàng
trong nhiều năm.
+ Lựa chọn những kiểm toán viên có kiến thức và kinh nghiệm về nghành nghề
kinh doanh của khách hàng.
- Lập hợp đồng kiểm toán: khi chấp nhận kiểm toán thì công ty kiểm toán lập một hợp
đồng kiểm toán để tránh bất đồng trong hoặc sau cuộc kiểm toán. Hợp đồng kiểm
toán là thoả thuận chính thức giữa Công ty kiểm toán và khách hàng về việc kiểm
toán và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác. Về mặt pháp lý hợp đồng kiểm toán
là hợp đồng kinh tế và bao gồm các nội dung chủ yếu sau:
+ Mục đích và phạm vi kiểm toán.
7
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
+ Trách nhiệm của ban giám đốc công ty khách hàng và công ty kiểm toán.
+ Hình thức thông báo kết quả kiểm toán.
+ thời gian tiến hành, kết thúc và phát hành báo cáo kiểm toán.
+ Căn cứ tính giá phí của cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán.
+ Chỉ rõ trách nhiệm của kiểm toán viên và Công ty kiểm toán không liên quan tới
những sai sót do bản chất của hệ thống kế toán và kiểm soát nội bộ của khách hàng.
2.2.2 Thu thập thông tin cơ sở
Sau khi ký kết hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên bắt đầu lập kế hoạch kiểm toán
tổng quát. Trong giai đoạn này, như đã được xác định trong Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 300, Lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập hiểu biết nghành nghề,
công việc kinh doanh của khách hàng, tìm hiểu về hệ thống kế toán, kiểm soát nội bộ và
các bên liên quan để đánh giá rủi ro và lên kế hoạch kiểm toán. Trong giai đoạn này
kiểm toán viên đánh giá khả năng có những sai sót trọng yếu, đưa ra đánh giá ban đầu
về mức trọng yếu và thực hiện các thủ tục phân tích để xác định thời gian cần thiết để
thực hiện kiểm toán và việc mở rộng các thủ tục kiểm toán khác.
- Tìm hiểu nghành nghề và hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cụ thể, mỗi
nghành nghề có một hệ thống kế toán riêng và có những nguyên tắc đặc thù. Để tìm
hiểm nghành nghề kinh doanh của công ty khách hàng có thể trao đổi với kiểm toán
viên tiền nhiệm hoặc trực tiếp trao đổi với nhân viên, ban giám đốc của khách hàng.
Ngoài ra kiểm toán viên có thể có được những hiểu biết đó qua việc nghiên cứu các
sách báo, tạp chí chuyên nghành, và ở Việt Nam, kiểm toán viên có thể lấy các
thông tin từ Niên giám thống kê do Tổng cục Thống kê phát hành hàng năm.
- Xem xét lại kết quả của cuộc kiểm toán trước và hồ sơ kiểm toán thường xuyên. Các
hồ sơ kiểm toán thường xuyên thường chứa đựng rất nhiều thông tin về khách hàng,
về công việc kinh doanh, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm hoạt động khác. Ngoài ra
đa phần các công ty kiểm toán đều duy trì hồ sơ kiểm toán thường xuyên đối với
mỗi khách hàng. Hồ sơ này có các bản sao của các tài liệu như: sơ đồ tổ chức bộ
máy, điều lệ công ty, chính sách tài chính, kế toán… Qua đó kiểm toán viên sẽ tìm
thấy những thông tin hữu ích về công việc kinh doanh của khách hàng. Việc cập
nhật và xem xét các sổ sách của công ty là rất cần thiết vì qua đó kiểm toán viên
không chỉ xác định được các quyết định của các nhà quản lý có phù hợp với pháp
luật của Nhà nước, với các chính sách hiện hành của công ty hay không mà còn giúp
kiểm toán viên hiểu được bản chất của các số liệu cũng như sự biến động của chúng
trên các báo cáo tài chính được kiểm toán.
8
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Tham quan nhà xưởng, kho bãi, trụ sở làm việc của công ty khách hàng. Công việc
này cung cấp cho kiểm toán viên một bức tranh tổng thể về hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty khách hàng, về sản phẩm tồn kho, dây truyền công nghệ, cách
phân công công tác, phong cách quản lý điều hành của ban giám đốc.
- Nhận diện các bên hữu quan: phải được thực hiện ngay trong giai đoạn lập kế hoạch
kiểm toán, thông qua phỏng vấn ban giám đốc, xem sổ theo dõi cổ đông, các bên
tham gia góp vốn, hoặc sổ theo dõi khách hàng. Từ đó dự đoán các vấn đề có thể
phát sinh để hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù hợp hơn.
- Dự kiến nhu cầu đối với các chuyên gia bên ngoài: kiểm toán viên phải đánh giá khả
năng chuyên môn, mục đích, phạm vi công việc của họ, cũng như việc sử dụng tài
liệu của các chuyên gia bên ngoài cho các mục tiêu kiểm toán.Ngoài ra, còn phải
xem xét mối quan hệ giữa các chuyên gia bên ngoài với khách hàng hoặc các yếu tố
có thể ảnh hưởng tới tính khách quan của chuyên gia đó.
2.2.3 Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách hàng
Nếu các thông tin cơ sở được thu thập ở trên giúp cho kiểm toán viên hiểu được về
các mặt hoạt động kinh doanh của khách hàng thì việc thu thập các thông tin về nghĩa
vụ pháp lý của khách hàng giúp cho kiểm toán viên nắm bắt được các quy trình mang
tính pháp lý có ảnh hưởng đến các mặt hoạt động kinh doanh này, những thông tin này
được thu thập trong quá trình tiếp xúc với Ban giám đốc khách hàng bao gồm các loại
sau:
- Giấy phép thành lập và điều lệ thành lập của công ty khách hàng. Việc nghiên cứu
những giấy tờ này giúp cho kiểm toán viên hiểu được quá trình hình thành, mục tiêu
hoạt động và những lĩnh vực kinh doanh hợp pháp của đơn vị.
- Các báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán, biên bản thanh tra, kiểm tra của năm hiện
hành hoặc một vài năm trước. Các báo cáo trên cung cấp về thực trạng tài chính, kết
quả hoạt động kinh doanh và dự kiến về phương án kiểm tra thông qua các biên bản
kiểm tra, thanh tra trước.
- Biên bản họp của hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị và ban giám đốc. Thông qua
việc nghiên cứu các biên bản này kiểm toán viên sẽ xác định được những yếu tố ảnh
hưởng tới thông tin trên báo cáo tài chính.
9
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
- Các hợp đồng và cam kết quan trọng: Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán việc
xem xét sơ bộ các hợp đồng đó giúp cho kiểm toán viên hình dung được những khía
cạnh pháp lý có ảnh hưởng đến tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị.
2.2.4 Thực hiện các thủ tục phân tích
Theo Chuẩn mực Kiểm toán hiện hành các thủ tục phân tích được áp dụng cho tất cả
các cuộc kiểm toán và chúng thường được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của cuộc
kiểm toán.
Thủ tục phân tích, theo định nghĩa của Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 520, “là việc
phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu hướng
biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin liên quan khác
hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến”. Các thủ tục phân tích được sử dụng
trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán hướng tới các mục tiêu sau:
- Thu thập hiểu biết về nội dung các báo cáo tài chính và những biến đổi quan trọng
trong hoạt động kế toán, sản xuất kinh doanh của khách hàng sau lần kiểm toán
trước.
- Tăng cường sự hiểu biết của kiểm toán viên về hoạt động kinh doanh của khách
hàng và giúp kiểm toán viên xác định các vấn đề nghi vấn đối với khả năng hoạt
động kinh doanh liên tục của công ty khách hàng.
Nhận xét: qua việc thực hiện các thủ tục phân tích trong quá trình lập kế hoạch kiểm
toán giúp cho kiểm toán viên xác định được nội dung cần thiết trong cuộc kiểm toán
báo cáo tài chính. Mức độ, phạm vi thực hiện các thủ tục phân tích tại các đơn vị khách
hàng khác nhau thay đổi tuỳ thuộc vào quy mô và mức độ phức tạp trong hoạt động
kinh doanh của đơn vị khách hàng.
Các thủ tục phân tích :
- Phân tích ngang: dựa trên cơ sở so sánh trị số của cùng một chỉ tiêu trên báo cáo tài
chính giữa các kỳ khác nhau. VD: so sánh số liệu kỳ này với kỳ trước, số liệu thực tế
với dự toán hoặc ước đoán của kiểm toán viên, so sánh dữ kiện của công ty khách
hàng với dữ kiện của nghành.
- Phân tích dọc: là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các tỷ lệ tương quan của các
chỉ tiêu và các khoản mục khác nhau trên báo cáo tài chính. VD: Tỷ xuất thanh toán
nhanh, tỷ xuất tự tài trợ…
10
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
2.2.5 Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro
Nếu ở các bước trên, kiểm toán viên mới chỉ thu thập được các thông tin mang tính
khách quan về khách hàng thì ở bước này, kiểm toán viên sẽ căn cứ vào các thông tin đã
thu thập được để đánh giá, nhận xét nhằm đưa ra một kế hoạch kiểm toán phù hợp.
2.2.6 Đánh giá mức trọng yếu
- Khái niệm: trọng yếu là khái niềm dùng để chỉ tầm cỡ và bản chất các sai phạm của
các thông tin tài chính, hoặc đơn lẻ hoặc theo nhóm.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đánh giá mức trọng
yếu để ước tính mức độ sai sót trên báo cáo tài chính có thể chấp nhận từ đó xác
định nội dung và trình tự thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.
- Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên phải đưa ra ước tính ban
đầu về tính trọng yếu và phân bổ các ước tính ban đầu đó cho các khoản mục.
+ Ước tính ban đầu về mức trọng yếu: mức ước tính ban đầu về tính trọng yếu là giá trị
tối đa mà kiểm toán viên tin rằng tại giá trị tối đa đó các báo cáo tài chính có thể bị sai
nhưng không ảnh hưởng đến các quyết định của những người sử dụng thông tin tài
chính, hay nói cách khác là mức sai sót có thể chấp nhận được đối với báo cáo tài chính.
Ý nghĩa: việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu giúp cho kiểm toán viên lập kế
hoạch để thu thập bằng chứng kiểm toán một cách đầy đủ và thích hợp. Cụ thể, nếu
kiểm toán viên ước lượng mức trọng yếu càng thấp thì độ chính xác của các số liệu trên
các báo cáo tài chính càng cao và do đó số lượng bằng chứng cần thu thập càng nhiều
và ngược lại.
Mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là một việc mang tính chất xét đoán nghề
nghiệp, nên các mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là không cố định, mà có thể
thay đổi trong quá trình kiểm toán nếu kiểm toán viên nhận thấy rằng mức ước lượng
ban đầu là quá cao hoặc quá thấp hoặc chỉ tiêu chọn làm gốc thay đổi trong quá trình
kiểm toán.
Các yếu tố ảnh hưởng tới việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu:
Tính trọng yếu là một khái niệm tương đối hơn là một khái niệm tuyệt đối, nó được
xác định gắn liền với quy mô của công ty khách hàng. Một sai sót với một quy mô
nhất định có thể là trọng yếu đối với một công ty nhỏ nhưng lại là không trọng yếu
đối với một công ty lớn hơn. Do vậy, việc xác định một giá trị cụ thể ( bằng tiền)
11
Đề ánkiểm toán tài chính khổng minh
dũng-Kiểm toán42a
trong việc ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho mọi khách hàng là điều không
thể có.
Yếu tố định lượng của tính trọng yếu : kiểm toán viên sử dụng các bảng hướng dẫn
của công ty kiểm toán trong việc xác định ban đầu về tính trọng yếu. Trong đó, thu
nhập thuần trước thuế, tài sản lưu động, tổng tài sản… thường được chọn làm chỉ
tiêu làm gốc.
Yếu tố định tính của tính trọng yếu: Trong thực tế để đánh giá một sai sót có phải là
trọng yếu hay không thì kiểm toán viên không chỉ đánh giá về mặt giá trị mà còn
phải đánh giá về mặt bản chất của sai sót đó, trong đó có một số sai sót luôn được
coi là trọng yếu bất kể quy mô lớn hay nhỏ.
VD1: Các gian lận thường được xem là hệ trọng hơn các sai sót với cùng một quy
mô tiền tệ.
VD2: Các sai sót có quy mô nhỏ nhưng lại gây tác động dây chuyền làm ảnh hưởng
nghiêm trọng đến các thông tin trên báo cáo tài chính. Các sai phạm lặp đi lặp lại.
VD3: Các sai phạm liên quan đế thu nhập thì luôn được coi là trọng yếu.
Tóm lại: mức ước lượng ban đầu về tính trọng yếu là công việc mang tính xét đoán
nghề nghiệp dựa trên các hướng dẫn của công ty kiểm toán. Mức độ trọng yếu được
xác định ban đầu có ảnh hưởng tới quy mô của cuộc kiểm toán, ảnh hưởng đến việc
thiết kế các thủ tục kiểm toán cần thực hiện trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán.
+ Phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu cho các khoản mục:
Sau khi kiểm toán viên có được ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thì kiểm toán
viên cần phân bổ mức trọng yếu này cho từng khoản mục trên báo cáo tài chính, đó
chính là sai số có thể chấp nhận được đối với từng khoản mục. Mục đích của việc
phân bổ này nhằm giúp kiểm toán viên xác định được số lượng bằng chứng kiểm
toán thích hợp phải thu thập đối với từng khoản mục ở mức chi phí thấp nhất, mà
vẫn đảm bảo được tổng hợp các sai sót trên báo cáo tài chính không vượt quá ước
lượng ban đầu về tính trọng yếu.
Do hầu hết các thủ tục kiểm toán thường tập trung vào các tài khoản trên bảng cân
đối kế toán nên việc phân bổ các ước lượng ban đầu về tính trọng yếu thường được
tiến hành đối với bảng cân đối kế toán. Việc phân bổ được thực hiện theo cả hai
chiều hướng mà các sai phạm có thể xảy ra là khai khống và khai thiếu.
Cơ sở để tiến hành phân bổ: dựa vào bản chất của các khoản mục, đánh giá về rủi ro
tiềm tàng và rủi ro kiểm soát, kinh nghiệm của kiểm toán viên và chi phí kiểm toán
12
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét