Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nớc mà các quy định về đối tợng này là
có sự khác nhau nhng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của ngời lao động.
- Đối tợng tham gia BHXH là gồm ngời lao động và cả ngời sử dụng lao
động. Sở dĩ ngời lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tợng đợc hởng
BHXH khi gặp rủi ro. Ngời sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan
tâm, trách nhiệm của họ đối với ngời lao động. Và sự đóng góp trên là bắt
buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nớc.
- Để điều hoà mâu thuẫn giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động, để
gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nớc đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng
góp và đây cũng là chính sách xã hội đợc thực hiện góp phần ổn định cuộc
sống một cách hiệu quả nhất.
Dựa vào bản chất và chức năng của BHXH mà Tổ chức Lao động Quốc
tế ( ILO) cũng đã đa ra một định nghĩa khác nh sau:
BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông
qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính
phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm
mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và
chết. Hơn nữa, BHXH còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc y tế, sức khoẻ và trợ
cấp cho các gia đình khi cần thiết.
Từ định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của BHXH là hớng tới sự
phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội. BHXH thể hiện sự đảm bảo lợi ích
của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi cá nhân với xã hội đó.
3. Bản chất và chức năng của BHXH.
3.1. Bản chất của BHXH.
Có thể hiểu BHXH là sự bù đắp một phần thu nhập bị mất của ngời lao
động khi gặp phải những biến cố nh ốm đau, tai nan lao động, bệnh nghề
nghiệp hoặc tuổi già làm mất, giảm khả năng lao động, từ đó giúp ổn định
cuộc sống của bản thân ngời lao động và gia đình họ. BHXH hiện nay đợc coi
là một chính sách xã hội lớn của mỗi quốc gia, đợc nhà nớc quan tâm và quản
lí chặt chẽ. BHXH xét về bản chất bao gồm những nội dung sau đây:
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
BHXH là sự cần thiết tất yếu khách quan gắn liền với sự phát triển của
nền kinh tế. Đặc biệt đối với nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị tr-
ờng, mối quan hệ giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động ngày càng phát
triển. Do vậy trình độ phát triển của nền kinh tế quyết định đến sự đa dạng và
tính hoàn thiện của BHXH. Vì vậy có thể nói kinh tế là yếu tố quan trọng
quyết định tới hệ thống BHXH của mỗi nớc.
BHXH, bên tham gia BHXH, bên đợc BHXH là ba chủ thể trong mối
quan hệ của BHXH. Bên tham gia BHXH gồm ngời lao động và ngời sử dụng
lao động (bên đóng góp), bên BHXH là bên nhận nhiệm vụ BHXH, thông th-
ờng thì do cơ quan chuyên trách do Nhà nớc lập ra và bảo trợ, bên đợc BHXH
chính là ngời lao động và gia đình họ khi có đủ điều kiện cần thiết. Từ đó họ
đợc đảm bảo những nhu cầu thiết yếu, giúp họ ổn định cuộc sống, góp phần ổn
đình xã hội.
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động của ngời lao động
có thể là những rủi ro ngẫu nhiên( tai nạn, ốm đau, bệnh nghề nghiệp ), cũng
có thể là các rủi ro không hoàn toàn ngẫu nhiên( tuổi già, thai sản, ). Đồng
thời các biến cố này có thể xảy ra trong quá trình lao động hoặc ngoài lao
động. Phần thu nhập của ngời lao động bị giảm hay mất đi từ các rủi ro trên sẽ
đợc thay thế hoặc bù đắp từ nguồn quỹ tập trung đợc tồn tích lại do bên tham
gia BHXH đóng góp và có thêm sự hỗ trợ của NSNN.
3.2. Chức năng của BHXH.
Chức năng cơ bản nhất của BHXH là thay thế, bù đắp phần thu nhập
của ngời lao động khi họ gặp những rủi ro làm mất thu nhập do mất khả năng
lao động hay mất việc làm. Rủi ro này có thể làm mất khả năng lao động tam
thời hay dài hạn thì mức trợ cấp sẽ đợc quy định cho từng trờng hợp. Chức
năng này quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động của
BHXH.
Đối tợng tham gia BHXH có cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động
và cùng phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho ngời lao
động khi gặp phải rủi ro, số ngời này thờng chiếm số ít. BHXH thực hiện cả
phân phối lại thu nhập theo chiều dọc và chiều ngang, giữa ngời lao động khoẻ
mạnh với ngời lao động ốm đau, già yếu , giữa những ngời có thu nhập cao
phải đóng nhiều với ngời có thu nhập thấp phải đóng ít. Nh vậy thực hiện chức
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
năng này BHXH còn có ý nghĩa góp phần thực hiện công bằng xã hội, một
mục tiêu quan trọng trong chính sách kinh tế -xã hội của mỗi quốc gia.
Nhờ có BHXH mà ngời lao động luôn yên tâm lao động, gắn bó với
công việc, nâng cao năng suất lao động. Từ đó góp phần nâng cao năng suất
lao động xã hội, tạo ra của cải vật chất ngày càng nhiều hơn, nâng cao đời
sống toàn xã hội. Nếu trớc đây, sự trợ giúp là mang tính tự phát, thì hiện nay
khi xã hội đã phát triển, việc trợ giúp đã đợc cụ thể hoá bằng các chính sách,
quy định của Nhà nớc. Sự bảo đảm này giúp gắn bó mối quan hệ giữa ngời lao
động và xã hội và càng thúc đẩy hơn nghĩa vụ của họ đối với xã hội.
Trong thực tế giữa ngời lao động và ngời sử dụng lao động có những
mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lơng, tiền công, thời gian lao động
BHXH đã gắn bó lợi ích giữa họ, đã điều hoà đợc những mâu thuẫn giữa họ,
làm cho họ hiểu nhau hơn. Đây cũng là mối quan hệ biện chứng hai bên đều
có lợi, ngời lao động thì đợc đảm bảo cuộc sống, ngời sử dụng thì sẽ có một
đội ngũ công nhân hăng hái, tích cực trong sản xuất. Đối với Nhà nớc thì
BHXH là cách chi ít nhất song hiệu quả nhất vì đã giải quyết những khó khăn
về đời sống của ngời lao động và góp phần ổn định sản suất, ổn định kinh tế -
xã hội.
4. Nguyên tắc hoạt động của BHXH.
Nhìn chung hệ thống BHXH đợc thực hiện dựa trên các nguyên tắc sau:
Thứ nhất là nguyên tắc đóng hởng chia sẻ rủi ro; lấy số đông bù số ít,
lấy của ngời đang làm việc bù đắp cho ngời nghỉ hởng chế độ BHXH. Đây là
nguyên tắc hoạt động chung của ngành bảo hiểm là quỹ góp chung của số
đông bù cho số ít là những ngời thiếu may mắn gặp phải những rủi ro trong
cuộc sống, trong lao động sản xuất. Phần thể hiện tính chính sách của Nhà nớc
là việc rủi ro trong BHXH không chỉ là những rủi ro thuần tuý nh trong bảo
hiểm thơng mại mà còn có cả những rủi ro không mang tính ngẫu nhiên nh:
tuổi già, thai sản,
Thứ hai là mức hởng phải thấp hơn tiền lơng làm căn cứ đóng BHXH,
nhng phải đảm bảo đợc mức sống tối thiểu cho ngời hởng khoản trợ cấp đó.
Việc quy định trên là hoàn toàn hợp lí và cũng là quy định chung cho tất cả
các nớc, song thấp bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã
hội của mỗi nớc trong mỗi thời kì khác nhau.
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Thứ ba là phải tự chủ về tài chính, đây là nguyên tắc quan trọng trong
chính sách BHXH của các nớc. Nếu chỉ hoàn toàn phụ thuộc vào Ngân sách
Nhà nớc (NSNN) giống nh giai đoạn trớc cải cách năm 1995 của nớc ta thì đây
thực sự là một gánh nặng lớn của đất nớc. Việc thành lập quỹ BHXH do các
bên tham gia BHXH đóng góp và có sự hỗ trợ của Nhà nớc là hoàn toàn phù
hợp. Quỹ này có thể quản lí theo các cách thức khác nhau song độc lập với
NSNN , NSNN chỉ bù thiếu hoặc tài trợ một phần tuỳ thuộc vào quy định của
mỗi nớc khác nhau.
5. Các chế độ của BHXH.
Đối với mỗi nớc có những hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội khác
nhau nên BHXH đợc tổ chức thực hiện theo những quy định riêng khác nhau.
BHXH đợc xây dựng dựa vào các nguyên tắc trên một cách thống nhất trên
toàn thế giới và phải tuân thủ các quy định sau của tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) về hệ thống chính sách BHXH. Trong Công ớc 102 đợc ILO thông qua
ngày 4/6/1952 có quy định những quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội đã đa
ra 9 chế độ sau:
- Chăm sóc y tế.
- Trợ cấp ốm đau.
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
- Trợ cấp tuổi già.
- Trợ cấp thai sản.
- Trợ cấp tàn tật.
- Trợ cấp vì mất ngời trụ cột gia đình.
Các thành viên tham gia Công ớc phải thực hiện ít nhất là 3 trong 9 chế
độ nói trên, trong đó phải có nhất thiết 1 trong năm chế độ sau đây:
- Trợ cấp tuổi già.
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Trợ cấp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp.
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
- Trợ cấp tàn tật.
- Trợ cấp vì mất ngời trụ cột gia đình.
Mỗi chế độ trong hệ thống BHXH khi xây dựng phải dựa trên các cơ sở
điều kiện kinh tế, thu nhập, tiền lơng, Đồng thời, tuỳ từng chế độ mà còn
phải tính đến các yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầu dinh dỡng, để
quy định các mức đóng, mức hởng, thời gian hởng và đối tợng hởng cho hợp
lí. Các chế độ BHXH có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
+ Các chế độ đợc xây dựng theo luật pháp của mỗi nớc.
+ Hệ thống các chế độ mang tính chất chia sẻ rủi ro, chia sẻ tài chính.
+ Mỗi chế độ đợc chi trả đều căn cứ chủ yếu vào mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH.
+ Phần lớn các chế độ là chi trả định kì.
+ Đồng tiền đợc sử dụng làm phơng tiện chi trả và thanh quyết toán.
+ Chi trả BHXH nh là quyền lợi của mỗi chế độ BHXH.
+ Mức chi trả còn phụ thuộc vào quỹ dự trữ. Nếu quỹ dự trữ đợc đầu t có
hiệu quả và an toàn thì mức chi trả sẽ cao và ổn định.
+ Các chế độ BHXH cần phải đợc điều chỉnh định kì để phản ánh hết sự
thay đổi của điều kiện kinh tế -xã hội.
6. Quỹ BHXH và phân loại quỹ BHXH.
6.1. Quỹ BHXH.
Nh chúng ta đã tìm hiểu trong phần 1 ở trên thì sự ra đời của quỹ BHXH
là một bớc ngoặt lớn đối với ngành BHXH trên toàn thế giới. Quỹ BHXH là
một quỹ tài chính độc lập, tập chung nằm ngoài NSNN và đợc hình thành từ
các nguồn sau đây:
- Ngời sử dụng lao động đóng góp,
- Ngời lao động đóng góp,
- Nhà nớc đóng và hỗ trợ thêm,
- Các nguồn khác (nh cá nhân và tổ chức từ thiện ủng hộ, lãi từ các
hoạt động đầu t quỹ nhàn rỗi).
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Trách nhiệm tham gia đóng góp BHXH cho ngời lao động đợc phân
chia cho cả ngời lao động và ngời sử dụng lao động trên cơ sở quan hệ lao
động. Điều này không phải sự chia sẻ rủi ro, mà là lợi ích giữa hai bên. Sự
đóng góp một phần quỹ của ngời sử dụng lao động cho ngời lao động sẽ tránh
đợc những thiệt hại kinh tế do phải chi ra một khoản tiền lớn khi có rủi ro xảy
ra đối với ngời lao động mà mình thuê mớn. Đồng thời, nó còn góp phần giảm
bớt mâu thuẫn, kiến tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa chủ- thợ. Về phía ngời lao
động, sự đóng góp của họ vừa thể hiện sự tự gánh chịu chính những rủi ro của
chính mình, vừa có ý nghĩa ràng buộc nghĩa vụ và quyền lợi một cách chặt
chẽ.
Phần lớn các nớc trên thế giới, quỹ BHXH đều đợc hình thành từ các
nguồn nêu trên. Tuy nhiên, phơng thức đóng góp và mức đóng góp của các
bên tham gia BHXH có khác nhau tuỳ thuộc quy định của mỗi nớc. Hiện nay
mức đóng góp BHXH của ngời lao động và ngời sử dụng lao động hiện vẫn
còn hai quan điểm. Quan điểm thứ nhất cho rằng, phải căn cứ vào mức lơng cá
nhân và quỹ lơng cơ quan, doanh nghiệp. Quan điểm thứ hai lại cho rằng, phải
căn cứ vào mức thu nhập cơ bản của ngời lao động đợc cân đối chung trong
toàn bộ nền kinh tế quốc dân để xác định mức đóng góp. Về mức đóng góp
BHXH, mỗi nớc lại có những quy định khác nhau. Một số nớc quy định ngời
sử dụng lao động phải chịu toàn bộ chi phí cho chế độ tai nạn lao động, Chính
phủ trả chi phí y tế và trợ cấp gia đình, các chế độ còn lại cả ngời lao động và
ngời sử dụng lao động cùng đóng góp mỗi bên một phần bằng nhau. Trong đó,
một số nớc khác lại quy định, Chính phủ bù thiếu cho quỹ BHXH hoặc chịu
toàn bộ chi quản lí BHXH
Quỹ BHXH đợc sử dụng để chi trả chủ yếu cho hai mục đích sau: thứ
nhất là chi trả và trợ cấp cho các chế độ BHXH nh đã nêu ở mục 5, còn lại là
chi trả cho chi phí sự nghiệp quản lí BHXH. Trong hai khoản chi đó thì khoản
chi thứ nhất là quan trọng và chiếm phần lớn trong quỹ BHXH. Các khoản trợ
cấp này cũng đợc quy định về mức trợ cấp và thời gian hởng một cách cụ thể
và có sự khác biệt đối với từng chế độ. Tại những nớc khác nhau thì các khoản
trợ cấp này cũng đợc quy định khác nhau.
6.2. Phân loại quỹ BHXH:
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
Tuỳ theo mục đích và cách tổ chức của những hệ thống BHXH trên thế
giới mà quỹ BHXH đợc phân loại khác nhau:
- Phân loại theo các chế độ bao gồm: Quỹ hu trí, tử tuất; Quỹ tai nạn lao
động và bệnh nghề nghiệp; Quỹ thất nghiệp; Quỹ ốm đau thai sản.
- Phân loại theo tính chất sử dụng bao gồm: Quỹ ngắn hạn để chi trả cho
các chế độ ngắn hạn nh ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm mất khả
năng lao động tạm thời; Quỹ dài hạn để chi trả trợ cấp cho các chế độ
nh hu trí, tử tuất.
- Phân loại theo đối tợng tham gia bao gồm: Quỹ cho công chức Nhà nớc,
quỹ cho lực lợng vũ trang, quỹ cho lao động trong các doanh nghiệp,
quỹ cho các đối tợng còn lại.
Việc phân loại quỹ nh trên cần đợc thực hiện và cân nhắc tránh những
tình trạng phân nhỏ quỹ dễ gây ra tình trạng mất tập trung, không có sự bổ
xung và hỗ trợ lẫn nhau. Việc phân chia quỹ không hợp lí sẽ dẫn tới những ảnh
hởng xấu đến việc chi trả cho các đối tợng, đặc biệt là vấn đề quản lí quỹ một
cách hợp lí. Dựa trên các cách tổ chức thực hiện các chế độ mà mỗi nớc lại có
những quy định khác nhau về các quỹ thành phần. Các quỹ thành phần phải
thực sự phù hợp với hệ thống BHXH đó.
II. Quản lí tài chính BHXH.
1. Khái niệm chung về quản lí tài chính BHXH.
Trớc tiên chúng ta cần hiểu khái niệm về quản lí. Quản lí là những hoạt
động nhằm tác động một cách có tổ chức, có định hớng của chủ thể quản lí
vào một đối tợng quản lí nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành
vi của con ngời từ đó có thể duy trì đợc tính ổn định của đối tợng. Đối tợng
của quản lí ở đây là tài chính BHXH, tài chính BHXH là một thuật ngữ thuộc
phạm trù tài chính chỉ một mắt khâu tài chính tồn tại độc lập trong hệ thống tài
chính quốc gia. Tài chính BHXH tham gia vào quá trình phân phối và sử dụng
các nguồn tài chính nhằm đảm bảo cuộc sống cho ngời lao động và gia đình
họ khi gặp rủi ro từ đó đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Nh
vậy, nhìn rộng ra thì quản lí tài chính BHXH là việc sử dụng tài chính BHXH
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
nh một công cụ quản lí xã hội của Nhà nớc. Nhà nớc thông qua hoạt động tài
chính BHXH để thực hiện mục tiêu quản lí xã hội đó là đảm bảo ổn định cuộc
sống cho nhân dân trớc những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động
hay khi về già, giúp ngời lao động yên tâm lao động sản xuất, góp phần thúc
đẩy sản xuất phát triển. BHXH thể hiện tính u việt của mỗi quốc gia, mỗi thể
chế xã hội . Còn hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lí tài chính BHXH là quản lí thu
chi BHXH. Nh vậy quản lí tài chính BHXH chủ yếu liên quan tới việc làm thế
nào để hoạt động thu chi quỹ BHXH đợc thực hiện một cách bình thờng trớc
những biến động của môi trờng. Biến động ở đây là những biến động về đối t-
ợng tham gia, đối tợng hởng, biến động của môi trờng sống, môi trờng kinh
tế , những biến động tác động trực tiếp đến đời sống của ngời lao động, đến
việc thu chi quỹ BHXH, ảnh hởng tới sự đầu t tăng trởng quỹ BHXH. Nội
dung của quản lí tài chính BHXH chủ yếu là sự lựa chọn và xác định các chính
sách, chế độ, quy chế về tài chính BHXH một cách hợp lí và lấy đó làm căn cứ
để ra quyết định cụ thể của thu chi BHXH thực hiện mục tiêu của Nhà nớc đặt
ra.
Khi thực hiện quản lí tài chính BHXH cần chú ý hai nguyên tắc chủ yếu
sau:
- Quá trình quản lí tài chính BHXH phải luôn đợc tính toán, so
sánh và cân đối trong trạng thái động: Bởi vì lợng tiền mặt của quỹ
biến động theo từng chế độ trợ cấp BHXH khác nhau, lợng lao động
biến động một cách thờng xuyên nên trong quản lí, đặc biệt là khâu
lập kế hoạch phải chú trọng tới vấn đề này. Đây cũng là một đặc thù
trong ngành Bảo hiểm nói chung và BHXH nói riêng vì tính đảo ng-
ợc chu kì kinh doanh tức là thu phí trớc chi trả cho các chế độ sau.
Tuy có sự hỗ trợ của NSNN, song quản lí tài chính BHXH phải góp
phần giảm gánh nặng cho NSNN và vẫn thực hiện chính sách xã hội
này một cách tốt nhất.
- Quỹ BHXH phải đợc bảo tồn và phát triển: Nh trên đã đề cập thì
ngành Bảo hiểm có đặc thù thu phí trớc, chi trả sau, thời gian đóng
và thời gian hởng có thể kéo dài, đồng tiền có giá trị về mặt thời
gian. Do vậy cần đầu t để bảo tồn và tăng trởng quỹ một cách hợp lí.
Để đảm bảo nguyên tắc này cơ quan BHXH phải tăng cờng kiểm tra,
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
giám sát hoạt động thu chi và quản lí quỹ thực hiện đầu t phần quỹ
nhàn rỗi một cách có hiệu quả và tuân thủ các nguyên tắc sau:
+An toàn: Mục đích của quỹ là bảo đảm chi trả lơng hu và các trợ cấp
BHXH cho ngời lao động. Vì vậy, quỹ dù có đầu t vào lĩnh vực nào cũng phải
đảm bảo an toàn cho khoản đầu t đó. Đảm bảo an toàn là không chỉ bảo toàn
vốn đầu t về danh nghĩa, mà còn là bảo toàn về cả giá trị thực tế, điều này càng
có ý nghĩa quan trọng trong thời kì lạm phát. Nói cách khác thì đầu t quỹ phải
lựa chọn lĩnh vực để giảm thiểu rủi ro.
+ Hiệu quả: Đây là mục tiêu của việc đầu t tăng trởng quỹ do vậy nguyên
tắc này rất quan trọng và phải đợc đi liền với nguyên tắc thứ nhất. Lãi đầu t
không chỉ góp phần đảm bảo khả năng thanh toán cho các khoản chi mà còn
góp phần cho phép hạ tỉ lệ đóng góp của ngời lao động và ngời sử dụng lao
động.
+ Khả năng thanh toán (tính lu chuyển của vốn): Đây cũng là yêu cầu đặc
thù của nghành do các khoản chi trả là phát sinh sau và kéo dài nên các khoản
đầu t phải đảm bảo tính thanh khoản để dễ dàng chi trả cho các đối tợng kịp
thời. Đặc biệt tránh những khoản đầu t dễ vớng vào những vấn đề tồn khoản.
Các hình thức đầu t dễ thanh khoản và an toàn thờng đợc u tiên thực hiện trớc.
+ Có lợi ích kinh tế, xã hội: Là một quỹ tài chính để thực hiện chính sách
xã hội, do đó trong quá trình đầu t phải lu ý đến việc nâng cao phúc lợi cho
ngời dân, phải ra sức cải thiện chất lợng chung cho đời sống dân c của đất nớc.
Các hình thức, hạng mục đầu t phải đặt vấn đề hiệu quả kinh tế xã hội lên hàng
đầu. Hoạt động đầu t tăng trởng quỹ BHXH khác với các hoạt động đầu t khác
với mục tiêu lợi nhuận làm đầu vì BHXH chính là một chính sách quan trọng
trong hệ thống An sinh xã hội của mỗi nớc.
2. Nội dung quản lí tài chính BHXH.
Nhìn chung, quản lí tài chính BHXH bao gồm bốn nội dung cơ bản sau:
- Quản lí thu BHXH.
- Quản lí chi BHXH.
- Quản lí hoạt động đầu t tăng trởng quỹ.
- Quản lí cân đối quỹ BHXH.
Đại học Kinh tế quốc dân Luận văn tốt nghiệp
2.1. Quản lí thu BHXH.
Quản lí thu giữ vai trò quan trọng và quyết định đến sự thành công của
quá trình thu BHXH, từ đó quyết định đến sức mạnh quỹ BHXH để đảm bảo
cho việc chi trả cho các chế độ trợ cấp. Trớc tiên chúng ta phải nắm đợc nội
dung thu gồm hai khoản thu từ ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Đây là
khoản thu lớn nhất và đóng vai trò quan trọng, quyết định. Các khoản thu khác
nh: thu từ các quỹ của các tổ chức, cá nhân từ thiện hay sự hỗ trợ của NSNN là
nhỏ, NSNN chỉ bù đắp cho những trờng hợp cần thiết. Hơn nữa đây là khoản
thu mà tổ chức BHXH cũng không thể tự điều chỉnh đợc vì nó mang tính thụ
động. Do vậy mà công tác quản lí thu chỉ tập chung vào nguồn thu từ hai đối t-
ợng chính ngời lao động và ngời sử dụng lao động. Nội dung của quản lí thu
lại tập chung vào ba đối tợng chính sau đây:
Quản lí đối tợng tham gia BHXH: Đây là việc đầu tiên mà mỗi tổ chức
BHXH khi thực hiện quan tâm đến, thờng các đối tợng này đợc quy định rõ
trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nớc. Hơn thế nữa BHXH cũng
hoạt động trên nguyên tắc san sẻ rủi ro và tuân theo quy luật số đông bù số ít
nên việc tham gia đầy đủ của các đối tợng tham gia BHXH là việc rất quan
trọng. Quản lí đối tợng tham gia cần thực hiện các công việc sau:
+ Quản lí số lợng đăng kí tham gia BHXH.
+ Quản lí đối tợng bắt buộc tham gia BHXH theo quy định.
+ Quản lí công tác cấp sổ BHXH: Vì đây là căn cứ xác định quá trình
đóng góp, ngành nghề lao động, thời gian lao động, tên ngời lao động và một
số thông tin khác.
Quản lí quỹ lơng của các doanh nghiệp: Theo những quy định hiện
hành nh ngày nay thì phí thu BHXH thờng đợc tính theo phần trăm tổng quỹ l-
ơng của doanh nghiệp và tiền lơng tháng của ngời lao động nên quỹ lơng còn
là cơ sở để quản lí thu một cách thuận lợi. Dựa trên quỹ lơng của doanh nghiệp
BHXH có thể đảm bảo thu đúng, thu đủ và hạn chế đợc tình trạng gian lận trốn
đóng BHXH. Bên cạnh đó chính các doanh nghiệp trở thành những đại lí
thực hiện thu và chi trả trực tiếp cho một vài chế độ là thực sự thuận lợi cho
công tác thu phí nói riêng và công tác thực hiện các chế độ BHXH nói chung.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét