Thứ Hai, 6 tháng 1, 2014

SỰ TRỞ LẠI CỦA KINH TẾ HỌC SUY THOÁI VÀ CUỘC KHỦNG HOẢNG NĂM 2008

PAUL KRUGMAN
Nobel kinh tế năm 2008
SỰ TRỞ LẠI CỦA
KINH TẾ HỌC SUY THOÁI
và cuộc khủng hoảng năm 2008
The return of
Depression Economics
and the crisis of 2008
Người dòch:
Nguyễn Dương Hiếu
Nguyễn Trường Phú
Đặng Nguyễn Hiếu Trung
Nguyễn Ngọc Toàn
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ - DT BOOKS
6
Sự trở lại của Kinh tế học Suy thoái
7
V TÁC gIẢ
Paul Krugman nhận giải Nobel Kinh tế năm 2008.
Ông phụ trách chuyên mục op-ed xuất hiện hai lần
một tuần trên tờ Thời báo New York, đồng thời viết
blog “Lương tâm của một người tự do” (The conscience of
a Liberal – tên blog lấy từ tên một tác phẩm khác của
ông). Krugman từng đoạt giải “Phóng viên chuyên mục của
Năm” (The Columnist of the Year) do tạp chí Editor and
Publisher bình chọn. Ông là giáo sư môn kinh tế và quan
hệ quốc tế tại Đại học Princeton, sáng tác và biên tập hơn
20 cuốn sách, hơn 200 bài viết trên các tạp chí chuyên
ngành. Thông tin thêm về Krugman có thể xem ở website
www.krugmanonline.com.
8
Sự trở lại của Kinh tế học Suy thoái
9
PAUL KRUGMAN
Nobel kinh tế năm 2008 *
Paul Krugman, 55 tuổi, người Mỹ, giáo sư đại học
Princeton, vừa được Hàn lâm viện Khoa học Thụy
Điển cho biết là sẽ được giải Nobel Kinh tế năm
2008 (lễ trao sẽ vào tháng 12), qua những đóng góp của ông
về thuyết thương mại và kinh tế đòa lý. Việc Krugman được
giải này không gây nhiều ngạc nhiên. Đối với đa số đồng
nghiệp, ông đã nằm trong danh sách “đáng được Nobel” từ
lâu. Tuy vậy, cũng có vài lời đàm tiếu. Có người nhắc là, từ
khoảng mười năm nay (từ khi ông cộng tác với tờ New York
Times) hầu như Krugman không có đóng góp gì mới (có kẻ
nói móc: Ủy ban Nobel đã vi phạm điều lệ là chỉ trao giải
cho người còn sống, vì “nhà kinh tế Krugman” đã qua đời
gần mười năm rồi!). Ngược lại, có người cho rằng, dù ông có
xứng đáng, trao gỉải cho ông năm nay là không đúng lúc,
đáng lẽ nên đợi Bush hết nhiệm kỳ, những công trình khoa
* Được sự đồng ý của Giáo sư Trần Hữu Dũng - Wright State University, DT Books đăng
nguyên văn bài viết của ông, đã được giới thiệu trên trang web www.viet-studies.info,
như một lời giới thiệu chính thức về Giáo sư Paul Krugman.
10
Sự trở lại của Kinh tế học Suy thoái
học của Krugman (một người cực lực chống Bush) sẽ được
đánh giá khách quan hơn, và giải thưởng sẽ không bò nghi
ngờ là cách các giám khảo Nobel mượn Krugman để làm bẽ
mặt Bush!
Dù sao thì Paul Krugman cũng được giải năm nay, vậy
cũng nên biết về hai đóng góp, quả là quan trọng, mà ông
đã được tuyên dương. Thứ nhất là cái gọi là “thuyết thương
mại mới” (“new trade theory”) và thứ hai là “kinh tế đòa lý
mới” (new economic geography).
1
Trước hết, nên biết “thuyết thương mại cũ” nói gì. Đây là lý
thuyết được dạy trong các lớp kinh tế nhập môn ở hầu hết
các đại học: Quốc gia này khác quốc gia kia về năng suất của
từng công nghiệp, và về các nguồn lực (vốn, lao động, v.v .)
mà quốc gia ấy sở hữu. Những khác biệt đó là động cơ của
thương mại. Chẳng hạn, quốc gia vùng nhiệt đới thì trồng
trọt và xuất khẩu chuối, quốc gia vùng ôn đới thì trồng trọt
và xuất khẩu lúa mì; quốc gia có lao động nhiều học vấn thì
xuất khẩu hàng công nghệ cao, còn quốc gia mà lao động học
vấn kém thì xuất khẩu hàng công nghệ thấp .
“Thuyết thương mại mới” phát sinh từ nhận đònh rằng,
dù “thuyết thương mại cũ” soi sáng rất nhiều cơ cấu thương
mại toàn cầu, vẫn còn một số hiện tượng quan trọng mà nó
không giải thích được. Khối lượng thương mại giữa Pháp và
Đức, chẳng hạn, là rất cao, dù hai nước khá giống nhau về
tài nguyên cũng như khí hậu. Mậu dòch giữa Mỹ và Canada
cũng thế. Hơn nữa, hàng hóa mà các nước đã phát triển
buôn bán với nhau thường là cùng một thứ (chẳng hạn như
Mỹ xuất khẩu ôtô mà cũng nhập khẩu ôtô), chứ không phải
PAUL KRUGMAN - NOBEL KINH TẾ NĂM 2008
11
luôn luôn xuất khẩu thứ này, nhập khẩu thứ khác. (Nên để ý
rằng sự kiện này đã được phát giác từ thập kỷ 1950, Krugman
không phải là người đầu tiên nhận thấy.)
Tuy đã có một số lý thuyết giải thích hiện tượng này
(thường được gọi là “thương mại nội ngành” – intra-industy
trade) nhưng hầu hết đều vá víu, tùy tiện, chỉ áp dụng cho
vài trường hợp thật cá biệt. Đóng góp to lớn của Krugman
là chứng minh rằng “thương mại nội ngành” hoàn toàn có
thể là hậu quả của (sự đa dạng) chủng loại sản phẩm và đặc
tính sản xuất. Cụ thể, có khá nhiều sản phẩm không giống
lúa mì, hoặc chuối (mà rất nhiều nơi trên thế giới sản xuất
được), nhưng lại giống loại máy bay khổng lồ (jumbo jet), mà
chỉ vài nơi trên thế giới sản xuất. Tại sao? Lý do chính là
một số công nghiệp có đặc tính mà kinh tế học gọi là “tính
tiết kiệm do quy mô” (economies of scale): số lượng sản xuất
càng cao thì giá phí bình quân càng thấp. Đối với loại hàng
hóa có tính này thì thế giới chỉ cần vài cơ xưởng sản xuất
là đủ. Những cơ xưởng này tất nhiên phải tọa lạc ở nơi nào
đó, và quốc gia nào “may mắn” có chúng thì sẽ xuất khẩu
những loại hàng ấy, còn các quốc gia khác thì phải nhập
khẩu từ họ.
Cách giải thích của Krugman tất nhiên dẫn đến câu hỏi:
Quốc gia nào sẽ là nơi có cơ xưởng sản xuất máy bay, hoặc
một loại máy chuyên dụng, hoặc một kiểu ôtô đặc biệt mà
một số người tiêu dùng khắp thế giới đều muốn? “Thuyết
thương mại mới” của Krugman đưa câu trả lời, khá bất ngờ
và thú vò: Điều đó không quan hệ! Rất nhiều loại hàng có
tính “tiết kiệm do quy mô”; quốc gia nào cũng có một số
hàng như vậy; mọi chi tiết khác (có thể là do tình cờ của lòch
sử) đều không là quan trọng! Quan trọng là cái bức tranh
12
Sự trở lại của Kinh tế học Suy thoái
toàn cảnh của thương mại thế giới: Bức tranh ấy được đònh
đoạt bởi những yếu tố như tài nguyên và khí hậu (như trong
thuyết thương mại “cũ”), nhưng thêm vào đó là rất nhiều
những chuyên biệt hóa căn cứ trên tính tiết kiệm do quy
mô, như thuyết thương mại “mới” vừa cho thấy. Đó là lý do
tại sao khối lượng thương mại toàn cầu trên thực tế rất lớn,
nhất là giữa những nước khá giống nhau, hơn là khối lượng
mà thuyết thương mại “cũ” (chỉ căn cứ trên sự khác biệt tài
nguyên và khí hậu) tiên đoán.
2
Khoảng mươi năm sau khi trình làng “thuyết thương mại
mới”, Krugman đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra nếu như vài
(nhưng không tất cả) nguồn lực kinh tế (cụ thể là lao động
và vốn) có thể di chuyển từ nơi này đến nơi khác? Trong thế
giới của “thuyết thương mại cũ”, thương mại (hoặc, nói cách
cầu kỳ, “sự lưu động của hàng hóa”) có thể được thay thế
bằng “sự lưu động của yếu tố sản xuất”: nếu nhà máy và công
nhân có thể tự do di chuyển từ vùng này sang vùng khác,
thì những nhà máy và công nhân này sẽ phân tán đến “gần”
nông dân, để “tối thiểu hóa” phí vận chuyển nông phẩm lẫn
hàng công nghiệp. Song, trong thế giới “tiết kiệm do quy
mô” mà Krugman hình dung thì “hiệu ứng ly tâm” này (đẩy
các hoạt động kinh tế ra xa nhau) sẽ gặp sự đối kháng của
“hiệu ứng hướng tâm” kéo những hoạt động ấy đến những
thò trường lớn. Hiệu ứng hướng tâm này có khuynh hướng
tập trung hóa các hoạt động kinh tế. Lấy trường hợp vua
ôtô Henry Ford và kiểu xe “Model T” nổi tiếng, làm thí dụ.
Ford có thể xây nhiều nhà máy rải rác khắp nước Mỹ để gần
khách hàng. Tuy nhiên, ông sáng suốt tiên đoán rằng dù phí
PAUL KRUGMAN - NOBEL KINH TẾ NĂM 2008
13
chuyên chở đến khách hàng có là cao nếu tập trung sản xuất
ở chỉ một nhà máy ở bang Michigan, tập trung như thế sẽ
cho phép ông khai thác “tiết kiệm do quy mô”, phí sản xuất
sẽ rất thấp, và rốt cuộc thì giá bán sẽ rẻ hơn là sản xuất ở
nhiều nhà máy nhỏ, dù gần khách hàng.
Tất nhiên, sẽ có câu hỏi: nếu tập trung sản xuất vào một số
ít đòa phương để tận dụng tiết kiệm do quy mô thì nên chọn
những đòa phương nào? Krugman trả lời: đó là những đòa
phương có sẵn một thò trường lớn – tức là những đòa phương
mà các nhà sản xuất khác cũng đã chọn để sản xuất hàng của
họ! Qua thời gian, nếu lực hướng tâm này đủ mạnh, chúng
ta sẽ có một hiệu ứng tích lũy: những vùng, do một tình cờ
lòch sử nào đó, là nơi đầu tiên có những trung tâm sản xuất
thì những vùng ấy sẽ thu hút thêm các nhà sản xuất, trở
thành trung tâm kinh tế, trong lúc những vùng khác trở
thành “ngoại vi”. Chính vì thế mà, theo Krugman, cho đến
gần đây, hầu hết công nghiệp của Mỹ đều nằm trong một
“vòng đai” đòa lý tương đối hẹp, trải từ miền Tân Anh Cát
Lợi (New England) đến vùng Trung Tây (Midwest) của quốc
gia này. Tương tự, Krugman nói cách ấn tượng: 60 triệu
người Mỹ sống dọc bờ biển miền Đông chẳng phải vì so với
nơi khác thì phong cảnh ở đây hữu tình hơn, hoặc khí hậu
dễ chòu hơn (trái lại là khác!), song mỗi người sống ở đây vì
60 triệu người khác cũng sống ở đây.
Với cùng một lôgíc, Krugman giải thích tại sao một số
công nghiệp nào đó tập trung ở một đòa phương nhất đònh, dù

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét